luận văn kinh tế luật một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thực ti n áp dụng tại công ty TNHH thƣơng mại hoàng huy - Pdf 59

LỜI MỞ ĐẦU
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm qua Nhà nước ta đã có
những thay đổi lớn về chính sách và pháp luật, đặt biệt là pháp luật liên quan tới hoạt
động kinh tế đối ngoại trong đó có pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế. Sự thay đổi này đã mang lại nhiều thành quả đáng kể cho các doanh nghiệp
trong nước, trong đó phải kể đến công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.
Nhận thức vai trò quan trọng về mặt pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế trong doanh nghiệp, em đã chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương Mại
Hoàng Huy.” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.. đề tài gồm ba chương:
- Chương 1: Một số lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
- Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.
Trong thời gian thực tập tại CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI HOÀNG HUY,
em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám đốc cũng như các anh chị trong
công ty, học hỏi được nhiều điều từ tác phong làm việc đến các kinh nghiệm thực tế.
Thời gian vừa qua, không dài nhưng em cũng học hỏi được rất nhiều, được vận dụng
những kiến thức mà em đã học ở trường Đại học Thương Mại. Em xin gửi lời cảm ơn
đến Ban giám đốc và các anh chị cán bộ, công nhân viên của công ty tại Hà Nội.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy cô trong khoa Kinh tế - Luật trường
đại học Thương Mại, đặc biệt là Th.S Nguyễn Thanh Hương đã trực tiếp hướng dẫn
em trong thời gian qua. Chúc thầy cô và các anh chị của công ty công tác tốt và luôn
thành công.
Trong quá trình viết bài, em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự góp ý của thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn !

1

2.2.5.3. Thời điểm giao kết hợp đồng.........................................................................20
2.2.6. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.................................................................21
2.2.7. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.............................................22

2


2.2.7.1. Nguyên tắc thực hiện....................................................................................22
2.2.7.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.........22
2.2.7.2. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua......................................................25
2.2.8. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa...................................26
2.2.8.1. Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng......................................26
2.2.8.2. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.........................................28
2.2.8.3. Miễn trách nhiệm hợp đồng..........................................................................29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI
HOÀNG HUY............................................................................................................31
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế.................................................................................................................. 31
2.1.1 Các nhân tố chủ quan.......................................................................................31
2.1.1.1. Tiềm lực doanh nghiệp..................................................................................31
2.1.1.2. Hệ thống thông tin.........................................................................................31
2.1.1.3. Nghiên cứu và phát triển...............................................................................31
2.1.2. Các nhân tố khách quan................................................................................32
2.1.2.1. Yếu tố chính trị - luật pháp............................................................................32
2.1.2.2. Yếu tố kinh tế................................................................................................32
2.1.2.3. Yếu tố khoa học công nghệ...........................................................................32
2.1.2.4. Yếu tố khách hàng.........................................................................................33
2.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty Hoàng Huy...............................................................................33

KẾT LUẬN................................................................................................................52

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MBHHQT: mua bán hàng hóa quốc tế.
HĐMBHHQT: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Công ty TNHH: công ty trách nhiệm hữu hạn.
BLDS: bộ luật dân sự.
Luật TM: luật Thương mại

5


1. TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN
Trong thời đại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngoại thương là một
trong những động lực quan trọng để phát triển quốc gia nói chung và kinh tế nói riêng.
Đồng thời, với sự phát triển của “toàn cầu hóa”, việc buôn bán quốc tế ngày càng mở
rộng, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Chính vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu
và nắm rõ kiến thức về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên hết sức quan trọng và cần
thiết, đó không chỉ nhằm làm cho việc trở nên dễ dàng, mà nó còn giúp phòng ngừa
những rủi ro không đáng có khi tham gia hội nhập. Mặt khác, vì hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế là một hợp đồng liên quan tới yếu tố nước ngoài nên việc giao kết
hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ liên quan tới việc hợp tác mua bán với các
nước khác nhau. Vì vậy việc tham gia thực hiện chúng là một vấn đề không đơn giản.
Nắm được vấn đề đó, nhằm tạo lập một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp với
pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó cũng nhằm xác định và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các
bên khi tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, chúng ta nên tìm hiểu rõ hơn vì

trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Chương 1: Một số lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
- Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.
4. ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
4.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và
ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại Hoàng
Huy.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến nay.
4.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài: Mục đích chính của đề tài là tiếp
cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thực
tiễn áp dụng các quy định này, để từ đó phát hiện những tính bất hợp lý và bất cập của
các quy định này. Qua đó đề xuất một vài giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của

7


luật. Với mục tiêu trên đề tài xác định nhiệm vụ là: Nghiên cứu một cách có hệ thống
các quy định hiện hành của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định này, đồng
thời có sự so sánh giữa các quy định của luật và thực tiễn thực hiện cũng như giữa các

* Phỏng vấn nhân viên kinh doanh, nhân viên chứng từ, nhân viên phòng điều
hành khai thác để biết những thủ tục, quy trình của các hoạt động mua bán hàng hóa
mà công ty cung cấp.
- Về cách thức xử lý dữ liệu:
+ Đối với dữ liệu sơ cấp: Tác giả phân tích nguồn dữ liệu sơ cấp bằng cách sử
dụng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành và tra cứu các cách giải thích những
thuật ngữ chuyên ngành trên mạng, cụ thể là tra cứu định nghĩa trên Wikipedia – 1
trang cung cấp kiến thức được rất nhiều người tin dùng và thường xuyên được cập
nhật, sửa đổi, bổ sung.
+ Đối với dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được so sánh tác giả tập hợp từ nhiều
nguồn khác nhau và tất cả đều được tác giả so sánh với thực tiễn hoạt động của công ty
TNHH Thương Mại Hoàng Huy. Sau đó dựa trên tình hình thực tế của công ty mà tác
giả quyết định lấy dữ liệu nào gần nhất với hoạt động kinh doanh của đơn vị làm dữ
liệu trong bài nghiên cứu của mình.
6. KẾT CẤU KHÓA LUẬN.
Ngoài phần mục lục, tóm lược, lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, thì khóa luận có kết cấu như sau:
- Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế.
+ Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: hợp đồng mua bán hàng
hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
+ Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại Hoàng
Huy nói riêng.
+ Ý nghĩa, vai trò của các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế đối với hoạt động mua bán của các doanh nghiệp thương mại Việt
Nam nói chung và với công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy nói riêng.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.
+ Tổng quan về tình hình kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động

đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các bên chủ thể của quan hệ
thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt động
thương mại của mình.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hợp
đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài). Ngoài những
đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế còn có tính quốc tế (yếu tố nước ngoài).
Theo Điều 1 Công ước LaHay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình thì:
“Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên
ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước này
sang nước khác hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được
thiết lập ở các nước khác nhau”.
Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước Viên 1980, gián tiếp định nghĩa: “Công ước này áp dụng đối với những hợp
đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc
gia khác nhau”.
Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến với nhiều tên gọi
như là: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (theo Công ước Viena 1980), hợp đồng
xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương (theo Quy chế tạm thời số 4794/TNXNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp, nay là Bộ Công thương), hợp đồng mua
1 Xem: Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại, NXB chính trị quốc gia-Hà Nội

11


bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (Luật thương mại 1997) và “Mua bán hàng
hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái
xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý
tương đương”2.
Như vậy có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý
chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua

nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ
nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Hành vi của các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế có tính chất hành vi thương mại. Mục đích thông thường của các bên
là lợi nhuận.
1.2. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.:
Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì các bên có thể thoả thuận áp
dụng, có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật của
một nước thứ ba..
Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:
- Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá.
- Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch hàng hoá.
Cần lưu ý đối với loại hợp đồng mua bán qua cơ sở giao dịch hàng hoá rằng:
+ Thứ nhất hàng hoá giao dịch tại cơ sở giao dịch phải thuộc danh mục hàng hoá
giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá do bộ trưởng bộ thương mại quyết định.
+ Thứ hai, theo Điều 69 của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân môi giới
qua sở giao dịch về hàng hoá chỉ được phép hoạt động tại sở giao dịch hàng hoá khi
đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; thương nhân mua bán qua sở
giao dịch hàng hoá chỉ được phép thực hiện các hoạt động mua giới mua bán qua sở
giao dịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hóa
qua sở giao dịch hàng hoá.
+ Thứ ba, Điều 70 của Luật Thương mại năm 2005, các hành vi bị cấm đối với
thương nhân môi giới hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá: Lôi kéo khách hàng ký kết
hợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc
đảm bảo lợi nhuận cho khách hàng. Chào hàng hoặc mua giới mà không có hợp đồng
với khác hàng . Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môi giới cho
khách hàng. Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môi giới các
hợp đồng theo các nội dung đã thoả thuận với khách hàng.

13

bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho
bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.
2.2 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

14


2.2.1. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chủ thể của HĐMBHHQT có thể là thể nhân, pháp nhân có sự khác nhau về
quốc tịch, nơi cư trú, trụ sở thương mại ở những nước khác nhau. Do đó pháp luật các
nước khác nhau cũng có những quy định khác nhau về tư cách của chủ thể khi tham
gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế dễ dẫn đến những xung đột, phát sinh tranh
chấp.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng tương tự như hợp đồng mua bán hàng
hóa, là được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân hoặc một trong hai bên
phải là thương nhân. Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh. Tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có
đăng kí kinh doanh sẽ được coi là thương nhân. Thương nhân là chủ thể hợp đồng mua
bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Ngoài
chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể
trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Khác với bên là thương nhân, bên
không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham gia
giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa. Hàng hóa là
những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa
mãn nhu cầu của con người. Hàng hóa có thể là vật, là sức lao động của con người, là
các quyền tài sản. Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa được phân thành tài sản hữu hình và

mình giao kết sẽ dẫn đến phát sinh tranh chấp, gây ra những thiệt hại không mong
muốn.
2.2.4. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập quyền
và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán. Do đó, nội dung của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế trước hết là những điều khoản do các bên thỏa thuận. Các bên có quyền
quyết định nội dung của hợp đồng. Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ hợp đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận đó. Các
bên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng càng rõ ràng bao nhiêu thì càng thuận
lợi trong việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu.
+ Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều
khoản mà các bên thỏa thuận với nhau. Nội dung của hợp đồng trước hết là những điều

16


khoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau. Trên cơ sở các quy định của BLDS
và LTM, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao
gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao
nhận hàng.
+ Đối tượng của hợp đồng: Trong mua bán hàng hoá quốc tế, đối tượng của
hợp đồng là một hàng hoá nhất định đây là điều khoán cơ bản của một hợp đồng mua
bán hàng hóa, mà khi thiếu nó hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không thể hình
thành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằm
mục đích gì, trao đổi cái gì. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được
xác định thông qua tên gọi của hàng hoá. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
các bên có thể gi rõ tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại… để tránh có sự
hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng.
+ Số lượng hàng hoá: Điều khoản về số lượng hàng hoá xác định về mặt

Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng, đúng địa điểm đã thoả thuận
trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian, địa điểm và trả
tiền cho bên bán. Các bên có thể thoả thuận với nhau sao cho hợp lý căn cứ vào tình
hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên. Địa điểm giao hàng có thể do hai bên
thoả thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên. Trong
mua bán hàng hoá, việc giao nhận hàng hoá có thể được thực hiện trực tiếp đối với
người mua hoặc thông qua người thứ ba. Vì vậy các bên phải thoả thuận rõ thời hạn và
địa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ mỗi bên cũng như xác định rủi ro mà mỗi
bên phải gánh chịu.
Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan hệ
hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ
chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc
bởi những quy định của pháp luật. Như vậy, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả
những điều khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các
bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
2.2.5. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
2.2.5.1. Đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đề nghị giao kết hợp đồng chính là
chào hàng. Chào hàng là một quy định được thừa nhận trong các thông lệ quốc tế về
mua bán hàng hóa. Theo điều 390 BLDS năm 2005: “đề nghị giao kết hợp đồng là

18


việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên
đề nghị đối với bên đã xác định được cụ thể”.
Đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương có thể do bến bán hoặc
bên mua đưa ra. BLDS cũng như Luật Thương mại 2005 không quy định về hình thức

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển
cho bên đề nghị việc chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợp
đồng. Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó là hành động
mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hóa. Thời hạn trả lời chấp
nhận giao kết hợp đồng được xác định tùy từng trường hợp. Khi bên đề nghị có ấn
định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận thì chỉ hiệu lực khi được thực hiện trong
thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được sự chấp nhận đề nghị khi đã
hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách
quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp
nhận giao kêt hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay
không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị. Khi các bên trực tiếp tiếp với
nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên đề
nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa
thuận về thời hạn trả lời.
Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp
đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả
lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
2.2.5.3. Thời điểm giao kết hợp đồng.
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa quan
trọng trong việc khẳng định sự tồn tại của hợp đồng, là cơ sở để xác định phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Về nguyên tắc
chung, hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận.
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán theo Điều 404 BLDS.
Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm
giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
(điều 405 BLDS).
2.2.6. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Luật thương mại không quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
mua bán hàng hóa. Căn cứ vào các quy định của từ Điều 122 đến Điều 135 BLDS, hợp

xác lập bằng hành vi cụ thể.
2.2.7. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
2.2.7.1. Nguyên tắc thực hiện.
Theo quy định của BLDS, việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế nói riêng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: Thực hiện đúng

21


hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức
giao nhận hàng, thanh toán và các thỏa thuận khác; thực hiện hợp đồng một cách trung
thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không
được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ich hợp pháp
của người khác.
2.2.7.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
a, Nghĩa vụ của bên bán.



Bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo thỏa thuận.

Dù trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế các bên có thỏa thuận như thế nào
thì giao hàng vẫn là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Thỏa thuận về điều kiện giao nhận hàng hóa nhằm mục đích xác định
trách nhiệm và chi phí giao hàng của các bên như đối với vận tải, bảo hiểm hàng hóa,
thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, gánh chịu rủi ro. Theo quy định của LTM 2005,
bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất
lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng. Trường
hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan
theo quy định của pháp luật.


khi giao hàng.
Kiểm tra hàng hóa trước khi giao là rất cần thiết đối với việc mua bán hàng hóa
trong thương mại. Theo Điều 44 LTM, trường hợp có thỏa thuận về quyền kiểm tra
hàng hóa của bên mua, thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua có điều kiện tiến hành
việc kiểm tra. Nếu bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa theo thỏa thuận,
thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng. Sau khi kiểm tra hàng, nếu phát hiện
hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên mua phải thông báo cho bên bán một thời
hạn hợp lý. Nếu bên mua không thực hiện việc thông báo này, bên bán sẽ không phải
chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa, trừ trường hợp các khiếm
khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp
thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không
thông báo cho bên mua.



Bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa cho bên mua.

Để có thể chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa cho bên mua, tạo điều kiện cho
bên mua có thể tự do định đoạt đối với hàng hóa được mua theo hợp đồng, bên bán
phải đảm bảo hàng hóa không có bất cứ “khuyết tật pháp lý” nào theo quy định tại
Điều 45, Điều 46 Luật Thương mại.
Theo Điều 62 Luật Thương mại năm 2005, quyền sở hữu được chuyển từ bên
bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận, quyền sở hữu hàng hóa cũng có thể được chuyển giao từ bên bán

23



hóa được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của
bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng. Bên mua không chịu rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa, nếu hàng hóa không được xác định rõ ràng
bằng kí hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được
xác định bằng bất kì cách thức nào.

24




Bảo hành.

Bên bán có nghĩa vụ bảo hành hàng hóa theo hợp đồng hoặc theo quy định của
pháp luật. Bảo hành hàng hóa là việc bên bán phải chịu trách nhiệm về chất lượng
hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua, trong một thời hạn nhất định. Việc
bảo hành được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Theo Điều
49 LTM 2005, trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách
nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán phải
thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.
Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2.2.7.2. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua.



Bên mua hàng có nghĩa vụ nhận hàng.

Nhận hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên mua (Điều 56 Luật Thương mại năm
2005). Nhận hàng là việc bên mua công nhận nghĩa vụ giao hàng của bên bán, tức là
bên mua đã nhận hàng về mặt pháp lý. Bên mua hàng có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status