Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khoá với đề tài: “Phát triển cho
vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - chi
nhánh Tây Hà Nội”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em còn nhận được rất nhiều
sự ủng hộ giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học Thương Mại, các bác và
các anh chị trong đơn vị thực tập.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Tài Chính Ngân Hàng trường
Đại Học Thương Mại đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong 4 năm học tập. Với
vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình
nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách
vững chắc và tự tin. Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s NGÔ THÙY DUNG đã
tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
chi nhánh Tây Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại đơn
vị. Đặc biệt gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Giang Sơn trưởng phòng Quan hệ Khách
hàng Cá nhân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý. Đồng Kính chúc các Anh, Chị tại BIDV Tây Hà Nội luôn dồi dào sức
khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc!!!
Hà nội, ngày…tháng…năm 2017
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
1
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV Chi nhánh Tây Hà Nội...........21
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
2
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của BIDV Chi nhánh Tây Hà Nội.................................21
2.1.3 Mô hình tổ chức.................................................................................................22
2.1.4
Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2014-
2016
........................................................................................................................ 23
2.3.2. Hoạt động cho vay và đầu tư vốn của BIDV Chi nhánh Tây Hà Nội:............27
2.2 Phân tích và đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Tây Hà Nội..............................29
2.2.1 Những vấn đề chung trong hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân
hàng đầu tư và phát triển BIDV- Chi nhánh Tây Hà Nội.........................................29
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoat động cho vay tiêu dùng cá nhân của ngân
hàng đầu tư và phát triển BIDV- Chi nhánh Tây Hà Nội.........................................34
2.3 Kết quả nghiên cứu về hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng
BIDV – chi nhánh tây Hà Nội...................................................................................43
2.3.1. Kết quả đạt được...............................................................................................43
2.3.2. Hạn chế.............................................................................................................45
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ĐVTT......................................24
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của ĐVTT.............................................................26
Bảng 2.3: Tình hình cho vay của ĐVTT......................................................................27
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu.................................................................................................28
Bảng 2.5: Câu hỏi khảo sát khách hàng.......................................................................37
Bảng 2.6: Các yếu tố đo lường mức độ đánh giá.........................................................39
Bảng 2.7: Cronbach’s Alpha của thang đo ”An toàn và hiệu quả”...............................40
Bảng 2.8: Cronbach’s Alpha của thang đo ”Mức độ tin cậy”.......................................41
Bảng 2.9: Cronbach’s Alpha của thang đo ”Vượt trội về dịch vụ và lãi suất”..............41
Bảng 2.10: Cronbach’s Alpha của thang đo ”Mức độ nhân viên thành thạo”..............41
Bảng 2.11: Cronbach’s Alpha của thang đo của các biến “Cảm nhận của khách hàng về
cho vay tiêu dùng cá nhân”..........................................................................................42
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
VIẾT TẮT
NGHĨA
Cán bộ tín dụng
Trung tâm thông tin tín dụng
CNH -HĐH
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
Chi nhánh
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế. Thông qua hoạt động chính của mình đó là huy động vốn và sử dụng
vốn, ngân hàng đã góp phần luân chuyển nguồn vốn từ những người có nguồn vốn
nhàn rỗi để chuyển sang những người có nhu cầu sử dụng vốn, tạo sự luân chuyển để
nguồn vốn được sử dụng hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đứng dưới góc độ của một doanh nghiệp, việc huy động vốn và sử dụng vốn của
ngân hàng hết sức quan trọng để ngân hàng có được lợi nhuận. Một ngân hàng hoạt
động hiệu quả chỉ khi biết kiểm soát đầu vào và đầu ra của mình một cách hợp lý.
Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh
Tây Hà Nội, em nhận thấy hoạt động của Chi nhánh thời gian qua đã đạt được nhiều
kết quả kinh doanh đáng khích lệ. Mặc dù nền kinh tế chưa hồi phục hoàn toàn và còn
gặp nhiều khó khăn, song trong những năm gần đây, tổng nguồn vốn huy động và cho
vay của Chi nhánh ngày càng được mở rộng, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cùng với sự gia tăng của quy mô vốn cho vay, hiệu quả cho
vay lại chưa có sự tăng lên tương xứng mà biểu hiện cụ thể là nợ xấu của Chi nhánh
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hoạt động cho vay của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển- Chi nhánh Tây Hà
Nội
+ Khách hang có nhu cầu vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển- Chi nhánh
Tây Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
+Về không gian: Chi nhánh BIDV Tây Hà Nội
+ Về thời gian: Từ năm 2014-2016.
4.Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
- Phương pháp suy luận: suy diễn (suy luận từ các mô hình, các lý thuyết có sẵn
nhằm luận giải các vấn đề đặt ra trong thực tiễn quản trị tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển - Chi nhánh Tây Hà Nội
- Các phương pháp xử dữ liệu:
- Phương pháp chỉ số: Phương pháp này sử dụng các hệ thống chỉ số để đánh giá
cơ cấu vốn cũng như tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của Ngân hàng.
Thông qua các chỉ số có thể đánh giá được tỉ trọng, cơ cấu cũng như là các yếu tố khác
liên quan, ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân.
- Phương pháp so sánh: Dựa trên phương pháp so sánh số liệu tương đối và
phương pháp so sánh số liệu tuyệt đối giữa các năm để thấy được sự tăng trưởng trong
hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân tại ngân hàng. Phương pháp so sánh số liệu tuyệt
đối để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu xem có biến
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
2
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi
tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng
với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ...
trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng
thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ
nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn
bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.
Ngân hàng quốc gia Việt Nam ra đời ngày 05/05/1951 theo sắc lệnh 15/SL của
Chủ tịch nước VNDCCH. Trong giai đoạn 1951 - 1987, ở Việt Nam đã tạo lập hNệ
thông ngân hàng một cấp, chỉ phù hợp với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung. Khi
nước ta chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, hệ thông ngân hàng một cấp tất yếu
phải được cải tổ sang hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp quản lý và kinh doanh. Sau khi
Nghị định số 53/HĐBT được ban hành ngày 26/03/1998 bộ máy NHNN được tổ chức
thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân hàng
chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo chế độ hạch toán
kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán”.
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
4
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
1.1.2 Phân loại Ngân hàng thương mại
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
-Ngân hàng hợp tác: Ngân hàng hợp tác hay gọi rộng ra là những tổ chức tín
dụng hợp tác, là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự
nguyện lập lên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về
vốn và dịch vụ ngân hàng.
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền
kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các
nghiệp vụ cơ bản sau:
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn :
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động
của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như
huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở
nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát
triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp
vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày
càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín
dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân
hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển
kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù
hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
hàng.
Ba là, nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản
xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố
cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng là một
nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng không thể bỏ
qua sự “an toàn”. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân
hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả
năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ương đề ra.
1.1.3.3 Nghiệp vụ khác
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế
đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.
Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ
thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử , kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, các ngân hàng thương mại còn tiến
hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
7
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác
như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ…
Như vậy, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại
và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện
8
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
- Lợi nhuận ngân hàng thu được là lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí.
Đi kèm với lợi nhuận là rủi ro tín dụng.
1.2 Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NTHM
1.2.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng cho
khách hàng. Vậy để có thể hiểu một cách rõ ràng về CVTD, ta cần phải hiểu rõ khái
niệm về tín dụng Ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và bên đi vay
trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và
lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng và nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh doanh Ngân
hàng. Tín dụng được chia ra làm nhiều loại tùy theo những căn cứ khác nhau. Căn
cứ theo mục đích vay của khách hàng, cho vay tiêu dùng là một phần trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng, mang lại một phần lợi nhuận không nhỏ cho ngân
hàng.
Cho vay tiêu dùng :
“Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thoả thuận để
khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng,
với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.
Những khoản tiền vay này là nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang
trải nhu cầu về nhà ở, mua ô tô, hỗ trợ tài chính… và các nhu cầu khác. Cùng với
sự phát triển của thị trường, cho vay tiêu dùng đã trở thành hoạt động kinh doanh
chủ đạo và chiếm thị phần lớn trong hoạt động tín dụng của nhiều ngân hàng trên
thế giới.
vay trong CVTD thường chỉ là ngắn hạn. Bên cạnh đó, do chính sách khuyến khích sản
xuất kinh doanh, cho nên lãi suất thương mại thường thấp hơn lãi suất CVTD.
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động CVTD khá cao.
- Phụ thuộc vào mức thu thập và trình độ dân trí. Do nguồn trả nợ được trích từ
thu nhập hàng tháng của các thành viên trong gia đình nên nó phụ thuộc vào quá trình
làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm của họ.
1.2.3 Phân loại cho vay tiêu dùng
Có nhiều cách phân chia cho vay tiêu dùng thành các loại khác nhau, tuỳ theo
tiêu thức chúng ta lựa chọn mà cho vay tiêu dùng được phân chia thành:
● Căn cứ theo thời hạn vay:
Theocăn cứ này, CVTD chia làm 3 loại chính :
- Cho vay ngắn hạn : dưới 12 tháng, chủ yếu là đáp ứng nhu cầu cá nhân của
khách hàng.
- Cho vay trung hạn: có thời hạn vay từ 12 tháng đến 60 tháng (5 năm). Loại
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
10
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
hình tín dụng này được sử dụng cho cá nhân có nhu cầu mua ô tô, sửa chữa, mua sắm
nhà cửa hay các sản phẩm công nghệ cao , bán hàng trả góp trong khoảng 1-2 năm.
- Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm. Loại hình cho
vay này được cấp nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn như mua sắm phương tiện vận tải cỡ
lớn, xây mới nhà ở, mua chung cư hay nhà ở,…
● Căn cứ vào mục đích vay.
Cho vay tiêu dùng bất động sản.
Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng, cải tạo nhà
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
- CVTD tuần hoàn: là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách
hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành các séc được phép thấu chi dựa trên tài
khoản vãng lai.
Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước,căn cứ vào
nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kì, khách hàng được ngân hàng cho phép
thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kì một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
Hình thức này áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên. Khách
hàng chỉ cần làm thủ tục một lần nhưng có thể vay nhiều lần. Trong tất cả các hình
thức CVTD thì đây là hình thức có mức lãi suất cao nhất do có các rủi ro đi kèm và
các chi phí liên quan để quản lý tài khoản thấu chi.
●Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp : là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua lại
các khoản nợ phát sinh do những Công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá cho người tiêu
dùng. Hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các CTBL mà không trực tiếp tiếp
xúc với khách hàng.
Ngân hàng
(1)
Công ty bán lẻ
(4)
(5)
(6)
(2)
CTBL.
- Tài trợ miễn truy đòi : theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho
ngân hàng, CTBL không còn chịu trách nhiệm cho việc các khoản nợ có được hoàn trả
hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao nên chi phí tài trợ thường được
ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua
cũng được lựa chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những CTBL có uy tín mới được áp dụng
phương thức này.
- Tài trợ có mua lại : khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức miễn
truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì
NHTM phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận
trước thì ngân hàng có thể bán lại cho CTBL phần nợ của mình chưa được thanh
toán, kèm với tài sản đã được sử dụng trong một thời hạn nhất định.
* Ưu , nhược điểm của CVTD gián tiếp :
+ Ưu điểm
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD
- Cho phép ngân hàng tiết kiệm, giảm được chi phí trong cho vay.
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
13
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo điều kiện cho việc
bán chéo sản phẩm ở quá trình tiếp theo.
+ Nhược điểm
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được các CTBL bán
chịu.
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
14
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
hiện nay. Theo phương thức này, ngân hàng cấp cho khách hàng toàn bộ số tiền vay
và khách hàng trả nợ cho ngân hàng theo từng kỳ hạn cụ thể. Kỳ hạn hoàn trả có thể
khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của người vay, thường là 1 lần/ tháng.
- Thấu chi: đây là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hạn mức
tín dụng, được thực hiệnbằng cách cho phép khách hàng được sử dụng dư nợ trong
một giới hạn nhất định trên tài khoản vãng lai và mức dư nợ tối đa bằng với hạn mức
tín dụng đã cam kết.
- Thẻ tín dụng : là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ tín
dụng cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức
giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.
* CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn CVTD gián tiếp :
Sử dụng phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường của nhân
viên tín dụng - những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực tín dụng. Do đó, các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có
chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những CTBL. Hình
thức này cũng linh hoạt hơn và cho phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với
các khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng. Thông qua CVTD trực tiếp, ngân
hàng có thể bán các sản phẩm khác, tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng.
1.2.4 Vai trò của cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay của NHTM có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
xã hội. Hoạt động cho vay giúp khai thông dòng tài chính, để những luồng vốn được
luân chuyển liên tục. Đối với nền kinh tế, việc NHTM cho KH cá nhân vay vốn cho
CVTD góp phần cải thiện môi trường thanh toán, giảm lượng tiền mặt lưu thông
trên thị trường. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá
trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, tiền bạc
cho xã hội.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân của
ngân hàng
1.3.1 Nhân tố chủ quan
- Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt
động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng.
Để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải có chính sách tín
dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của
người gửi tiền, của ngân hàng và người vay tiền.
- Quy trình tín dụng: quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ
thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân
hàng có liên quan. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa
học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng.
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
16
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
- Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với
mọi ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng
thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện
đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng.
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
Trong quy trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi
đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay
nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên.
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của qui trình thẩm định, tính
cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn
phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược
phát triển trong tương lai. Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng
chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện. Khách hàng có
thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản,
sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án
kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngân hàng.
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng
là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết
trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều
khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm
lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả
nợ với khách hàng, bạn hàng và ngân hàng. Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm
bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó,
ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của
khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác.
- Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng
Hiệu quả cho vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý
kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả
của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân
hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như
học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng
trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng
lên, làm giảm chất lượng tín dụng.
- Môi trường tự nhiên
Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh,
… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và ngân
hàng. Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn,
mặt khác ngân hàng thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc
được Nhà nước hỗ trợ. trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp trên thị trường. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn
định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các
doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận
GVHD: ThS. Ngô Thùy Dung
SVTH: Trần Ngọc Cảnh
19
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài Chính Ngân Hàng
lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ
đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp
ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao chùm đến các hoạt động của ngân hàng, làm
ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng.
- Môi trường chính trị
Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh
doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tính ổn định về chính trị
trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh có hiệu quả. Nếu xảy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh,
xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những