Giá trị của giáo lý phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở việt nam hiện nay - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THỊ HƢƠNG

GIÁ TRỊ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC THỰC HIỆN
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THỊ HƢƠNG

GIÁ TRỊ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC THỰC HIỆN
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

Chủ tịch hội đồng

TS. Nguyễn Thị Tố Uyên


Nguyễn Thị Hương


MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 3
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu...................................................... 6
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.......................................... 7
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu. ............................................... 7
6. Ý nghĩa của luận văn................................................................................... 8
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 8
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...................................... 9
1.1.Một số khái quát chung về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam............... 9
1.1.1.Nguồn gốc ra đời và giáo lý cơ bản của Phật giáo ................................ 9
1.1.2.Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam .............................................. 20
1.2.Luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam hiện nay ............................... 27
1.2.1.Khái quát nội dung cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình từ năm
1945 – 1986 ..................................................................................................... 28
1.2.2.Khái quát nội dung cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình từ năm
1986 đến nay. .................................................................................................. 34
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 45
Chƣơng 2. VAI TRÒ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO TRONG VIỆC
THỰC HIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY ................................................................................................................ 47
2.1.Khái quát quan niệm của Phật giáo về hôn nhân ................................ 47
2.1.1.Quan niệm về nghi thức tổ chức lễ ăn hỏi của Phật giáo................... 47
2.1.2.Quan niệm về nghi thức tổ chức lễ cưới của Phật giáo ...................... 61
2.2.Ảnh hƣởng của giáo lý Phật giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội Việt Nam. Ðạo Phật đã thấm vào
nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất. Ðạo
Phật đã lan tỏa khắp hang cùng ngỏ hẻm trên lãnh thổ Việt Nam và đã có một
chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam. Ðạo lý của Phật
giáo Việt Nam cũng đã ảnh hưởng và ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của
người dân Việt và đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân
trên xứ sở này. Trong suốt chiều dài lịch sử mười tám thế kỷ qua, Ðạo Phật đã
chứng minh sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lãnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, luật pháp... và có những đóng góp, những ảnh hưởng tích
cực vào các mặt nói trên.
Có thể nói, Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng
góp phần định hình nên các quan niệm, chu n mực, hệ giá trị đạo đức trong
xã hội. Trong hệ thống giáo lý Phật giáo, chúng ta có thể tìm thấy những cơ

3


sở lý luận xác thực cho vấn đề đạo đức xã hội, hướng con người tới Chân,
Thiện, M .
Ở Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XX, đất nước ta đang ngày
càng chịu nhiều tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, của quá trình
công trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Theo đó, mặt trái của quá trình này
là các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị băng hoại, nhiều biểu hiện của
lối sống xa lạ, trái với thuần phong m tục trong một bộ phận cộng đồng dân
cư diễn ra ngày càng phổ biến. Thái độ coi thường những giá trị truyền thống
là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội đang ngày càng có chiều hướng gia
tăng, đặc biệt là ở lớp trẻ. Họ có thiên hướng đề cao cá nhân, sống ích kỷ,
lạnh lùng, không tình không nghĩa, ít chú ý đến nghĩa vụ và trách nhiệm, ít
quan tâm đến những người xung quanh,… Hàng loạt những hiện tượng đau
lòng diễn ra thường xuyên trong thời gian gần đây khiến cho chúng ta không

đến hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể là luật hôn nhân và gia đình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong luận văn này, tôi xin được góp nhặt cơ sở tư liệu trong các sách,
báo, tạp chí, những công trình chuyên nghiên cứu về Phật giáo, về tư tưởng
nói chung trong đó có Phật giáo, những công trình nghiên cứu liên quan đến
mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo. Tôi xin tạm chia các tài liệu thành hai
khuynh hướng sau:
Thứ nhất, khuynh hướng nghiên cứu về Phật giáo, các nghi lễ tôn giáo.
Trong đó tiêu biểu là các tài liệu như cuốn: Đào Nguyên, Sự gắn bó giữa dân
tộc Việt nam và dân tộc Việt Nam nhìn ở góc độ văn học; Đặng Nghiêm Vạn
(chủ biên) nhiều tác giả (1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Thuận Khiêm, Hướng đến một Phật giáo
thời đại; Giác Dũng, Phật Việt Nam, dân tộc Việt Nam; Nguyễn Lang, Việt
Nam Phật giáo sử luận; Nguyễn Hồng Dương, Tôn giáo trong mối quan hệ

5


văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội; Tạ Chí Hồng, “Ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam
hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, năm 2014; Thích Minh Châu
với “Đạo đức học Phật giáo", Nxb Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1995 và “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người”, Nxb Tôn
giáo, năm 2002,...
Thứ hai, khuynh hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và
tôn giáo cũng như ảnh hưởng của tôn giáo trong việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật: TS. Nguyễn Thị Tố Uyên (2014), Mối quan hệ giữa pháp luật và
tôn giáo ở Việt Nam, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam; Ðặng Nghiêm Vạn
(2007), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đức Lữ (2011), Tìm hiểu về tôn giáo và chính

luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay.
*Phạm vi nghiên cứu
- Quan niệm về hôn nhân gia đình của Phật giáo Bắc tông và nghi lễ
Hằng thuận được tổ chức tại các chùa ở miền Bắc.
- Luật hôn nhân và gia đình từ năm 1945 đến nay (Luật hiện hành ban
hành năm 2014)
- Nghiên cứu trên nhóm những người Phật Tử tại gia và tu tại chùa biết,
hiểu về giáo lý Phật giáo và có lối sống thực hành đạo.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Đề tài cũng kế thừa những kết quả
của các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam của các nhà khoa học
trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu: kết hợp sử dụng một số phương pháp khác
nhau nhằm đảm bảo tính hiệu quả và độ tin cậy của các thông tin thu thập

7


được. Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp xem xét tôn
giáo xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo, phương pháp chuyên ngành và
liên ngành như triết học, tôn giáo học, phương pháp lịch sử cụ thể, phương
pháp cấu trúc chức năng, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy
nạp, so sánh, điền dã, phỏng vấn.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Đề tài góp phần làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và tôn giáo cụ thể
là Phật giáo
- Chỉ ra giá trị của giáo lý Phật giáo trong việc thực hiện luật hôn nhân và
gia đình ở Việt Nam hiện nay.

của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân
hồi. Sau nhiều năm tìm thày học đạo, Thái Tử nhận ra rằng phương pháp tu
hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hết khổ được. Cuối
cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng “Nếu Ta
không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi
chỗ này”. Sau 49 ngày đêm thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng,
thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó là
ngày 08 tháng 12 năm Đức Phật 31 tuổi.
Về văn hóa, thời kỳ này có những phát minh hết sức quan trọng về toán
học (gồm cả số học và hình học), về thiên văn học, về triết học; đã chế tác
được những đồ trang sức, đóng thuyền vượt biển,… Những thành tựu này trực
tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào sự ra đời của Phật giáo.

9


Về tín ngưỡng tôn giáo, thời kỳ này ở Ấn Độ đạo Bà la môn giữ địa vị
thống trị. “Xét về mặt tôn giáo đạo Bà la môn đề cao vai trò của đấng tối cao
Phạm Thiên, hạ thấp vai trò của con người đặc biệt là tầng lớp thấp hèn. Xét
về mặt xã hội, đây là tôn giáo đề cao, tuyệt đối hóa sự bất bình đẳng giữa các
đẳng cấp. Đạo Phật ra đời, một mặt nó là sự phản bác lại đạo Bà la môn, mặt
khác nó lại tiếp thu, kế thừa những quan niệm của tôn giáo Bà la môn như:
phản bác sự bất bình đẳng, tiếp thu quan niệm về nghiệp, kiếp, luân hồi” 51;
Tr.84]
Về xã hội, thời kỳ này do có sự phát triển của sản xuất, của sở hữu tư
sản về tư liệu sản xuất đã dẫn đến sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc.
Ở Ấn Độ, do đặc điểm về kết cấu xã hội mà sự phân hóa này gắn chặt chẽ với
sự phân hóa đẳng cấp, làm cho sự phân hóa giai cấp và đẳng cấp thêm khắc
nghiệt. Về đại thể thời kỳ này có bốn đẳng cấp. Đẳng cấp thứ nhất là đẳng cấp
tăng lữ (hay đẳng cấp Bà la môn) – đẳng cấp được coi là có địa vị cao nhất,

Coi Phật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai
trò của con người, thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là “Tứ diệu đế” và “Niết
bàn”. Vì “Tứ diệu đế” lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ, và diệt khổ là để
đến thế giới “Niết bàn”.
Tứ diệu đế được Phật giáo coi là bốn chân lý hay bốn nền tảng: gồm
khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế: Phật giáo coi cuộc đời con người là khổ, theo quan niệm này,
“cái khổ” bao gồm cả cái khổ và cái vui của đời sống trần tục, vì cái vui cũng
chỉ là giả tạm. Cho nên nghĩa chung nhất của chữ khổ ở đây là “vô thường”
(không thường còn). Phật giáo cũng đã cố gắng chỉ ra những cái khổ của đời
sống trần tục và quy nó vào “bát khổ” (8 cái khổ). Đó là sinh khổ, lão khổ,
bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không đạt được thì khổ), ái
biệt ly khổ (thương yêu nhau mà phải xa nhau thì khổ), oán tăng hội khổ (thù
ghét nhau mà phải sống với nhau thì khổ), ngũ u n xí thịnh khổ (sự thụ b m

11


của yếu tố vật chất, sự tương tác của giác quan với thế giới bên ngoài – khổ).
Tám cái khổ trên thuộc về quy luật sinh tồn và quan hệ thiết thực của con
người, do vậy ở đây, thoát khổ của Phật giáo là thoát khỏ quy luật sinh tồn và
quan hệ hiện thực của họ.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do
đó, con người ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại
nào khác. Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ
mới. Phật ví sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh
nhiều hơn nước biển”. [33]
Tập đế: Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ. “Tập” là
tụ hợp, kết tập lại. Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn
dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham

duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau.
Cũng có lời giải thích là 12 yếu tố tích lu đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà
yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp.
Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng l n qu n của
nổi khổ đau nhân loại.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê
không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh
khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc
lập ở trong chúng. Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay
không là do lòng mình. Hay nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người
đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục
vọng, vị k hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời
đầy an lạc hạnh phúc.
Diệt đế: Là chân lý về diệt khổ. Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có
thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn”. Một khi gốc của mọi tham

13


ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. muốn diệt khổ phải đi ngược
lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh.
Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất tồn tại,
thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục và kéo theo những
hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nói cách
khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ u n dừng lại, tu đến
niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh tử.
Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái,
chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm trở nên thanh
thản, đầu óc tĩnh táo hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng
lượng hơn. Đó là một hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không bị chi

Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố duy vật
và tư tưởng biện chứng của thế giới. Phật giáo khuyên con người suy nghĨ
thiện và làm việc thiện nhằm góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tuy nhiên
trong triết lý nhân sinh và con đường giải phóng của phật giáo vẫn mang nặng
tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội. Và những tư tưởng xã
hội phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội
Ấn Độ cổ – trung đại và nêu lên ước vọng giải thoát nổi bi kịch cho con người
lúc đó. Phật giáo cũng nói lên được tự do bình đẳng trong xã hội nhưng triết
lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan không tưởng và duy tâm về
xã hội.
Niết bàn: Niết bàn được Phật giáo coi là một trang thái vắng lặng, tịch
diệt, nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên, tự tại, vô ngã vị tha. Đây là
một trạng thái lý tưởng. “Về cơ bản có hai cách giải thích về sự tồn tại của
Niết bàn: Cách thứ nhất cho rằng Niết bàn tồn tại ở nơi mà sau khi con người
ta chết, nếu tu hành đắc đạo, linh hồn sẽ được siêu thoát về thế giới Niết bàn,
Niết bàn ở đây cũng có nhiều bậc khác nha. Các giải thích thứ hai cho rằng
Niết bàn có thể tồn tại ngay trong thế giới trần tục (sinh tử là Niết bàn, Niết

15


bàn là sinh tử), con người có thể đạt tới trạng thái Niết bàn này khi con người
đã loại bỏ được “tham, sân, si”, khi con người đã thoát khỏi vô minh và sống
an nhiên tự tại, vô ngã vị tha” 50. Tr.91]
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung
của 3 phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên.
Vô ngã: Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các
môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể
siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới
xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà

trở thành kết quả mới. Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của
các sự vật, tuân theo quy luật Nhân – Quả, nhân là cái hạt, quả là cái trái, cái
trái do mầm ấy phát sinh. Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương
vào nhau mà có. Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu không có quả
thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy.
Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết
học Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần
Brahman sáng tạo ra con người và thế giới. Phật giáo cho rằng sự vật và con
người được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần. Các sự vật hiện
tượng thế giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng.
Nguyên nhân của sự vận động , biến đồi nằm trong các sự vật. Đó là quan
điểm biện chứng về thế giới tuy còn mộc mạc chất phác nhưng rất đáng trân
trọng. Và đó cũng là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới.
- Giới luật căn bản của Phật giáo
Giới là điều răn, luật là quy luật thi hành giới. Luật bao hàm cả giới còn
giới chỉ là một bộ phận của luật. Tuy gọi khác nhau như thế nhưng tính chất
vốn đồng nên có tên ghép là giới luật.
Giới luật gồm có nhiều loại:

17


+ Giới Thanh văn : Đây là giới của hàng xuất gia, có công năng giúp
giữ gìn bản thể thanh tịnh Tỳ kheo và phát triển sự hòa hợp Tăng đoàn.
+ Giới Bồ tát : Giới này còn gọi là thông giới, tức gồm cả xuất gia và
tại gia cùng ứng dụng tu tập để thành tựu tâm Bồ đề.
+ Giới tại gia: Theo nguyên tắc của Phật giáo, để trở thành một Phật tử,
yêu cầu mọi người phải phát tâm thọ nhận ba pháp quy y (Quy y Tam Bảo là
Phật, Pháp và Tăng) và hành trì năm giới. Đây chính là giới dành của các Phật
tử tu tại gia, chính là lực lượng người chủ yêu sẽ làm lễ cưới tại chùa.

+ Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn
+ Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới.
Ở các bộ Quảng luật (chỉ cho tất cả các bộ Luật trong Luật tạng) có nói
đến 10 lợi ích của giới là:
1. Nhiếp phục Tăng chúng
2. Triệt để nhiếp phục Tăng chúng.
3. Khiến cho Tăng chúng an lạc.
4. Nhiếp phục những người không biết hổ thẹn
5. Khiến những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.
6. Khiến những người không tin khiến họ tin tưởng.
7. Khiến những người đã tin tăng thêm lòng tin.
8. Khiến dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại
9. Giúp những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.
10.Giúp cho chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Như vậy, giới luật là nền tảng để hành giả hoàn thiện nhân cách, trong
sạch thân tâm, hóa giải phiền não, xây dựng Tăng đoàn, tận trừ mọi lậu hoặc.
Người nào tha thiết chấp trì giới luật thì chính là giữ gìn sự an lạc hạnh phúc
cho mình và tha nhân ngay trong hiện tại và tương lai. Ngược lại, người nào

19


không nghiêm túc vâng giữ giới luật là tự mình gây tổn hại đến nguồn an lạc
hạnh phúc ấy.
Nói tóm lại, để bảo hộ sự thanh tịnh trang nghiêm của Tăng đoàn, để
gìn giữ bản thể của các Tỳ kheo cũng như để thiết lập một đời sống an ninh
cho nhân loại, đức Phật đã tuyên bày giới luật. Giới luật có công năng là dứt
đi nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sinh tử. Không chỉ ở vị lai mà
ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm c n thì
cuộc sống sẽ an lành, thân tâm luôn thanh thản.

Về văn hóa: một mặt nhân dân ta đã tiếp thu những yếu tố tích cực của
văn hóa Trung Hoa nhưng mặt khác ta vẫn bảo tồn được nền văn hóa truyền
thống dân tộc, không bị hòa tan.
Về xã hội: do những chính sách cai trị tàn bạo, vơ vét nặng nề của các
triều đại phương Bắc đã làm xuất hiện mâu thuẫn mới giữa nhân dân ta với
chính quyền đô hộ.
Trong sự nhiễu nhương của xã hội lúc bấy giờ, nhân dân vô cùng đau
khổ, lầm than. Họ bị chính quyền đô hộ đàn áp, bóc lột vô cùng nặng nề.
Thóc gạo làm ra bị mất trắng. Thực dân phương Bắc quyết tâm đồng hóa dân
ta với những chính sách tàn bạo, khắp nơi đều là cướp bóc. Trước tình cảnh
đó, sự xuất hiện của một tôn giáo mới mà những giáo lý vô cùng gần gũi với
văn hóa truyền thống Việt Nam, giúp nhân dân thoát khỏi khổ ải về tinh thần,
xoa dịu những nỗi đau hiện thực. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự
du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, hòa cùng văn hóa, tín ngưỡng bản địa.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam bằng hai con đường; đường
thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ là
con đường đồng cỏ từ Trung Á.
Cho đến nay, Phật giáo vẫn tiếp tục phát huy giá trị tốt đẹp, cao cả của
mình trong nhiều mặt của đời sống xã hội. Có thể khẳng định rằng từ chỗ là
tôn giáo được du nhập từ ngoài vào, Phật giáo đã sớm khẳng định mình để trở

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status