SKKN xuất sắc cấp tỉnh - Pdf 60

Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN MỘT
PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp
chính thức của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.Bởi thế
dạy Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và
trong đời sống của mỗi con người.Mục tiêu của chương trình Tiếng việt
tiểu học mới ngoài việc cung cấp kiến thức Tiếng Việt và thái độ, tình yêu
Tiếng Việt còn phải giúp học sinh giao tiếp tốt trong môi trường hoạt động
lứa tuổi.Vì thế việc sử dụng từ ngữ đúng,nắm rõ nghĩa của từ có ý nghĩa
quan trong trong giao tiếp, giúp học sinh tự tin tham gia vào hoạt động giao
tiếp qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt.
Muốn làm được điều này học sinh phải có kiến thức vững chắc về
Tiếng Việt. Đó không chỉ là kiến thức về ngữ pháp, về vốn từ mà còn phải
nắm vững kiến thức về nghĩa cuả từ. Trong chương trình Tiếng Việt 5 học
sinh được học kiến thức về nghĩa của từ: các hiện tượng trái nghĩa, đồng
âm, đồng nghĩa và nhiều nghĩa. Trong các hiện tượng đó thì kiến thức về từ
nhiều nghĩa là phức tạp nhất. Là một giáo viên lớp 5, qua hai năm kinh
nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn rất nhiều lúng túng, khó khăn,
khi học nội dung kiến thức này dẫn tới các tiết học nặng nề,không hứng
thú, không lôi cuốn được các em. Nguyên nhân nào dẫn tới những khó
khăn đó? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa?
Đó là lý do tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
các tiết học về từ nhiều nghĩa”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nhằm góp phần nâng cao hơn nữa kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho
học sinh .

Trước đây khi nghiên cứu về nghĩa của từ các nhà nghiên cứu thường
vận dụng cách phân biệt nghĩa đen và nghĩa bóng hoặc nghĩa hẹp và nghĩa
rộng để phân biệt các nghĩa hiện dùng của một từ .
Theo SGK Tiếng Việt 5: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và
một hay một số nghĩa chuyển .Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ có
mối liên hệ với nhau.
Theo cách phân chia này nghĩa của từ được chia làm hai loại: nghĩa
gốc và nghĩa chuyển. Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà những
người trong một cộng đồng ngôn ngữ thường hiểu đối một từ nào đó khi nó
đứng một mình, ít bị phụ thuộc vào những từ đi trước hoặc sau nó. Nghĩa
chuyển là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc .Ví dụ: Đối với từ chân
nghĩa “chi dưới của động vật”, đối với từ nhà nghĩa “công trình kiến
trúc để ở”, đối với từ chạy nghĩa :“dời chổ bằng chân với tốc độ cao”,
đối với chín nghĩa “chỉ trạng thái của quả cây” là nghĩa gốc thì các nghĩa
còn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển.
Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu vật thường chuyển
nghĩa theo một hướng nên nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống
nhau.
Ví dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động vật” là nghĩa
gốc của từ tay thì đó cũng là nghĩa gốc của từ: đầu, mặt,cổ, chân, cánh,
lưng, bụng….và các nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là nghĩa
chuyển của chúng: tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu sóng, mặt bàn, tai mũ, tai
chén, cổ áo, cổ chai, cánh quạt lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn,
chân mây, ruột bút, ruột máy…
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Người thực hiện : Phan Thị Nga – Trường Tiểu học Thụ Lộc – Lộc Hà
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa
-----------------------------------------------------------------------------------------------------

nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của
từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều nghĩa.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1.Những khó khăn mà học sinh thường gặp phải
Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về từ nhiều
nghĩa đều gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể là:
-Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ
sai, lúng túng và còn lủng củng.
-Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ: học sinh còn
làm sai đến 40-45%.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Người thực hiện : Phan Thị Nga – Trường Tiểu học Thụ Lộc – Lộc Hà
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
-Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính.
-Đặt câu có sử dụng từ nhiều nghĩa: chưa hay, chưa đúng với nét
nghĩa yêu cầu.
2. Các bài tập trong SGK tiếng Việt 5:
1/ Tìm nghĩa của từ.
2/So sánh các nghĩa của từ: giống nhau và khác nhau.
3/Tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của một số từ thông qua một só
câu cụ thể.
4/Tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ:Vd: lưng, cổ, miệng,
lưỡi…
5/Đặt câu để phân biệt được các nghĩa của từ nhiều nghĩa là động từ
hoặc tính ví dụ như: đi, đứng, chín..
6/Phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm.
3. Nguyên nhân củ những khó khăn:

Đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Bộ phận củ cơ quan hô hấp.
2. Phần trước của tàu thuyền.
3. Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng.
4. Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi cà Mau.
5. Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có mũi thính.
6. Đơn vị quân đội : mũi quân bên trái.
2. Thiết kế hệ thống bài tập:
Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là một trong những hình thức
học tập rất hữu hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động trong học
tập.Mặt khác nó còn giúp giáo viên nắm được kết quả ngược từ học sinh
một cách chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong việc giảng dạy,
học sinh nắm vững nội dung bài học. Phiếu học tập cần được thiết kế bằng
hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như: nối, đúng- sai, nhiều lựa
chọn…
3. Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên cần đưa các
phương pháp dạy học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp
đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp trò chơi…
-Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm giúp học sinh tham gia tính
cực chủ động vào quá trình học tập, học sinh có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý
kiến hay để cùng giải quyết một vấn đề khó khăn nào đó.
-Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Nhằm mục đích đưa học sinh
và tình huống có vấn đề, từ đó kích thích sự hứng thú học tập của học sinh
vào việc giải quyết vấn đề đưa ra.
VD: Bài “ Luyện tập về từ nhiều nghĩa” trang 73.
? Đặt một câu có từ chạy .
- Học sinh đặt câu.
? Từ chạy trong câu trên có nghĩa là gì?

- Nghĩa ở nhận xét 1 là nghĩa chuyển.
Hai nghĩa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Sau khi học sinh nắm vững nhận xét 1 và 2 cần đặt câu hỏi vấn đáp
để giúp học sinh nhớ khái niệm từ nhiều nghĩa, yêu cầu học sinh lấy ví dụ
về từ nhiều nghĩa. Giáo viên cùng học sinh phân tích từ vừa tím được. Nếu
học sinh còn lúng túng, giáo viên có thể lấy ví dụ về từ nhiều nghĩa trong
các kết hợp từ khác nhau.
Ví dụ: Đi
- Nó chạy còn tôi đi.
- Chân nó không đi giày.
- Ca nô đi nhanh hơn thuyền.
Đối với ví dụ này giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét được từ đi
trong câu 1 có nghĩa là di chuyển từ nơi này sang này sang nơi khác bằng
những bước chân. Từ đi trong câu thứ 2 có nghĩa là mang hay đeo vào. Từ
đi trong câu thứ 3 có nghĩa là chuyển động của cá phương tiện giao thông.
Để rút ra kết luận đi trong câu 1 là nghĩa gốc vì nó chỉ hoạt động của cơ thể
người, từ đi trong câu 2, câu 3 là nghĩa chuyển vì nghĩa của nó được suy ra
từ nghĩa gốc và nó có mối liên hệ về nghĩa với từ đi trong câu 1.
-Với bài tập có dạng tìm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ trong các
câu văn giáo viên nên cho học sinh thảo luận, phát biểu ý kiến của mình
sau khi học sinh đã rút ra được kết quả đúng. Giáo viên nên yêu cầu học
sinh tìm thêm một số câu hay từ chứa tiếngđó mang nghĩa chuyển.
Ví dụ với từ: - Mắt: mắt kính, mắt tre, mắt lưới,mắt xích…
- Chân: chân bàn, chân lưới, chân núi, chân mây…
- Đầu: chải đầu, đầu tàu hỏa, đầu đũa, đầu
người( thành viên trong một gia đình)…
- Với bài tập 2 của phần luyện tập của tiết học yêu cầu học sinh tìm
sự chuyể nghĩa của từ cổ, tay, lưng, lưỡi, miệng. Giáo viên giúp học sinh
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Người thực hiện : Phan Thị Nga – Trường Tiểu học Thụ Lộc – Lộc Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status