LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI KHÍ MÁU
TRAO ĐỔI KHÍ GIỮA PHỔI VÀ MÔ TẾ BÀO
Vận chuyển Oxygen
Phân phối Oxygen đến các mô tế bào
* Sự phân phối Oxygen đến các mô riêng biệt phụ thuộc vào:
• Lượng Oxygen vào phổi.
• Quá trình trao đổi khí ở phổi
• Dòng máu đến các mô tế bào, phụ thuộc vào sự co rút của giường mao mạch ở mô
tế bào và lưu lượng tim
• Khả năng vận chuyển Oxygen của máu
* Tổng lượng Oxygen trong máu được xác định bởi
-Lượng Oxygen hoà tan trong tuần hoàn
-Lượng Hemoglobin (Hb) và ái lực của Hb với Oxygen
Hình 14.1. Vận chuyển khí O
2
từ khí trời vào mô tế bào và
Vận chuyển khí CO
2
từ mô tế bào ra khí trời
phụ thuộc vào sự chênh lệch áp lực riêng phần của từng loại
Bảng 14.1: Nồng độ khí trong máu
Loại
khí
1 ml/dL máu có 15g Hb
Máu động mạch
PaO
2
= 95 mm Hg
PaCO
2
= 40 mm Hg
1
Khí trời Phế nang Tuần hoàn Mô
Như vậy theo bảng 14.1 thì sự có mặt của Hb làm tăng khả năng vận chuyển Oxgen
của máu lên 70 lần (19,5/0,29) và phản ứng của CO
2
làm tăng nồng độ CO
2
trong máu lên
17 lần ( 49,7/ 2,98)
Phản ứng gắn Oxygen của Hb trong cơ thể
Trong cơ thể Hb trong máu ở cuối mao mạch phổi được bão hoà khoảng 97,5% với
PO
2
xấp xỉ 97 mm Hg. Vì có sự pha trộn chút ít với máu tĩnh mạch qua các “shunt sinh lý”
nên Hb trong máu động mạch chỉ được bão hoà 97% (SaO
2
= 97%)
Các yếu tố ảnh hưởng đến ái lực của Hb với Oxygen
Hình 14.2. Đường cong phân ly HbO
2
(Oxygen Hemoglobin)
*Ba yếu tố ảnh hưởng đến đường cong phân ly Hb là
• pH
• t
0
• 2,3 di phosphoglycerate (2,3- DPG)
-Đường cong phân li HbO
2
chuyển sang phải khi: t
phân ly Oxygen hơn → thiếu Oxygen mô tế bào → kích thích tăng hồng cầu → bệnh
tăng hồng cầu.
• 2,3 - DPG tăng lên trong thiếu máu và các bệnh gây thiếu Oxygen mạn tính
• Máu dự trữ làm làm giảm lượng 2,3 -DPG do vậy khả năng giải phóng Oxygen cho mô
tế bào cũng giảm xuống → ↓ giá trị trong các trường hợp truyền máu dự trữ cho bệnh
nhân thiếu Oxygen.
Vận chuyển Carbonic
Số phận của Carbonic trong máu
CO
2
hoà tan trong máu gấp khoảng hơn 20 lần so với O
2
. Để có được áp lực riêng
phần tương đương nhau thì lượng CO
2
phải nhiều hơn đáng kể so với O
2
. CO
2
vào hồng
cầu nhanh chóng được hydrat hoá thành H
2
CO
3
nhờ sự có mặt của enzyme carbonic
anhydrase.
H
2
CO
3
Trong huyết tương, CO
2
phản ứng với protein của huyết tương để hình thành một
lượng nhỏ phức hợp carbamino còn một lượng nhỏ CO
2
được hydrat hoá nhưng phản ứng
này chậm và không có mặt của carbonic anhydrase.
Sự thay đổi vị trí của Clo
Vì HCO
3
-
trong hồng cầu tăng lên nhiều hơn trong huyết tương khi máu đi qua mao
mạch do vậy sẽ có khoảng 70% HCO
3
-
được hình thành trong hồng cầu đi vào huyết tương.
Bình thường các anion protein không qua được màng tế bào và sự di chuyển của Na
+
và K
+
được điều chỉnh bởi bơm Na
4
và K
4
. Cân bằng điện hoá được duy trì bởi Cl
-
vào hồng cầu
thay cho
HCO
Chú ý: +Tím tái không xảy ra ở những bệnh nhân thiếu oxy do:
- Thiếu máu
- Ngộ độc Carbonmonocide vì máu của Hb khử bị che lấp bởi màu đỏ anh
đào của Carbonmonoxy Hb.
- Ngộ độc tế bào (ngộ độc cyanua) vì lượng khí trong máu bình thường.
+Tím tái còn xảy ra khi:
- Ngộ độc các chất gây MetHb.
- Tim bẩm sinh có tím
Hoàn cảnh thường xảy ra thiếu Oxygen
- Bất kỳ một rối loạn thông khí nào
- Trẻ đẻ non trong tuần đầu
- Cai thở máy và thôi thở máy
- Rút ống nội khí quản
- Cơn ngừng thở tái diễn
- Loạn sản phế quản phổi
QUÁ TĂNG OXYGEN
Nguy hại của quá tăng oxygen
• Gây bệnh võng mạc
• Loạn sản phổi
• Viêm ruột hoại tử
• Xuất huyết não
Khi áp lực Oxygen quá cao, dù chỉ trong vài phút cũng dẫn đến co các mạch máu ở
võng mạc và ảnh hưởng đến dòng máu tới não. Khi điều chỉnh được PaO
2
trở về bình
thường ở trẻ sơ sinh đẻ non phải mất một thời gian dài hơn so với trẻ đủ tháng thì các thay
đổi này mới trở lại bình thường (Hình 14.4)
Hoàn cảnh quá tăng Oxygen
- Giai đoạn bắt đầu thở máy.
4
Hoàn cảnh gây quá tăng carbonic
- Trẻ bị suy hô hấp nặng
- Cai thở máy
- Chuyển từ chế độ thở máy tăng thông khí sang phương thức thở thông thường.
- Rút ống nội khí quản
- Trẻ có tăng áp lực nội sọ
QUÁ GIẢM CARBONIC
Nguy hại của quá giảm carbonic
Các kết quả nghiên cứu mối liên quan giữa lưu lượng dòng máu tới não (CBF) với
PaCO
2
ở các trẻ sơ sinh đẻ non đã cho thấy:
• Giảm đột ngột PaCO
2
dẫn đến giảm dòng máu tới não (hình 5)
5