BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
CÙ THU HƯỜNG
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
CÙ THU HƯỜNG
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện
Mã số
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................3
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy...............3
1.1.1 . Tầm quan trọng của vệ sinh tay.............................................................4
1.1.2. Nhiễm khuẩn bệnh viện.........................................................................67
1.2.Kiến thức, thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế. 9
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên
y tế...................................................................................................................12
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................17
2.1. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................17
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn..............................................................................17
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.................................................................................17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................17
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu...............................................................................17
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu.........................................................................1817
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu................................................................18
2.3.4. Xử lý và phân tích số liệu......................................................................20
2.3.5. Sai số và các biện pháp khắc phục.......................................................24
2.3.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu..........................................................25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................26
3.1. Đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu...........................................26
3.2. Kiến thức về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh............28
3.3. Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh................33
3.4. Yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành vệ sinh tay thường quy của
điều dưỡng và hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương..........................3838
Phân bố tuổi, giới của điều dưỡng và hộ sinh.............................26
Bảng 3.2.
Phân bố thực trạng đào tạo về VST của điều dưỡng và hộ sinh
.................................................................................................2827
Bảng 3.3.
Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức về 5 thời điểm vệ sinh
tay thường quy............................................................................28
Bảng 3.4.
Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức đúng về tác dụng của
vệ sinh tay thường quy............................................................2928
Bảng 3.5.
Tỷ lệ kiến thức của điều dưỡng và hộ sinh về dung dịch
vệ sinh tay phù hợp nhất.............................................................31
Bảng 3.6.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi tiếp xúc với người bệnh.....33
Bảng 3.7.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi làm thủ thuật vô khuẩn.......33
thực hành chưa đạt..................................................................4444
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1:
Hình 1.1:
Hình 3.1:
Hình 3.2:
Hình 3.3:
Hình 3.4:
Hình 3.5:
Hình 3.6:
Hình 3.7:
Quy trình rửa tay thường quy..........................................................6
Khung lý thuyết nghiên cứu..........................................................15
Phân bố trình độ chuyên môn của điều dưỡng và hộ sinh.............26
Phân bố thâm niên công tác của điều dưỡng và hộ sinh...............27
Phân bố điều dưỡng, hộ sinh theo đơn vị công tác của điều dưỡng
và hộ sinh.......................................................................................27
Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh sắp xếp đúng thứ tự các bước trong
quy trình vệ sinh tay thường quy...................................................30
Tỷ lệ phân loại kiến thức chung về vệ sinh tay thường quy của
điều dưỡng và hộ sinh...............................................................3233
Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh. 3637
Phân bố thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ
sinh theo thời điểm quan sát......................................................3738
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Người bệnh
NVYT
Nhân viên y tế
RTTQ
Rửa tay thường quy
TCYTTG
Tổ chức Y tế Thế giới
TTRT
Tuân thủ rửa tay
VST
Vệ sinh tay
VSBT
Vệ sinh bàn tay
VSTTQ
Vệ sinh tay thường quy
người bệnh và 96,1% cho rằng việc này sẽ giảm NKBV ở NVYT [5].
Năm 2007, Bộ Y Tế đã ban hành công văn số 7517/BYT- Đtr quy định
và hướng dẫn quy trình VST thường quy [6]. Năm 2009, Bộ Y Tế đã ban
hành thông tư số 18/2009/TT - BYT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác
kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) tại các cơ sở khám chữa bệnh, trong đó đã
quy định thầy thuốc, NVYT, sinh viên – học sinh và người bệnh, người nhà
2
người bệnh khi đến bệnh viện phải VST theo quy định và hướng dẫn của cơ
sở khám chữa bệnh [7]. Ngày 28/8/2017, Bộ Y Tế đã ban hành quyết định số
3916/QĐ - BYT về các hướng dẫn KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh trong đó có hướng dẫn thực hành VST [8]. Tại các cơ sở khám, chữa
bệnh thì điều dưỡng là người có thời gian tiếp xúc với người bệnh nhiều nhất.
Phần lớn các hoạt động chăm sóc, trị liệu trên người bệnh đều do điều dưỡng
thực hiện. Nếu bàn tay người điều dưỡng mà nhiễm khuẩn thì người bệnh sẽ
có nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn bệnh viện.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về
lĩnh vực Sản phụ khoa. Bệnh viện là tuyến cao nhất có chức năng khám, cấp
cứu, điều trị và phòng bệnh, mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận hàng nghìn người
bệnh đến khám, điều trị và sinh con tại viện…Điều này đồng nghĩa với tần
suất chăm sóc và thăm khám đỡ đẻ của điều dưỡng, hộ sinh trên người bệnh
rất nhiều, vì vậy khi điều dưỡng, hộ sinh thực hành tốt VSTTQ sẽ làm giảm
nguy cơ NKBV. Bệnh viện đã và đang triển khai các chương trình VST theo
hướng dẫn của Bộ Y Tế. Tuy nhiên bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh
giá khảo sát về kiến thức và thực hành VST của điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh
viện. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến
thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến vệ sinh tay thường quy của
điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa, ,bệnh viện Phụ sản Trung ương” với 2
- Rửa tay khử khuẩn: là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn.
- Cơ hội VST: :theo TCYTTG, cơ hội VST là “Một thời điểm khi có nguy
cơ lây truyền mầm bệnh thực tế hoặc tiềm tàng từ một bề mặt (hoặc bệnh
nhân) này tới bề mặt (hoặc bệnh nhân khác) thông qua bàn tay”.
- Tuân thủ VST trong nghiên cứu này là: rửa tay với nước và xà phòng
hoặc dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn/ cồn tại các thời điểm cần VST và thực
hiện đúng đủ 6 bước của quy trình RTTQ.
4
- Vùng kề cận người bệnh: là vùng xung quanh người bệnh như
giường bệnh, bàn, ga trải giường, các dụng cụ thiết bị trực tiếp phục vụ
người bệnh. Vùng kề cận người bệnh thường ô nhiễm các vi sinh vật (VSV)
có từ người bệnh.
1.1.1 . Tầm quan trọng của vệ sinh tay
Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
NVYT hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm
sóc người bệnh, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu,
dịch tiết sinh học, dịch tiết của người bệnh. Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh
nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa
các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [1]. 5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay củaNVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- Vệ sinh tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật [1].
Trong một nghiên cứu được thực hiện trên 77 bàn tay của NVYT tại
bệnh viện Chợ Rẫy - TP. Hồ Chí Minh cho kết quả, trung bình có 267,378 vi
1997 trên 20.000 cơ hội VST của NVYT tại bệnh viện Geneva đã cho thấy:
Khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ
lệ NKBV giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997) [4]. Tại Việt Nam,
can thiệp làm tăng sự tuân thủ VST của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích
cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước can thiệp xuống còn
4,8% sau can thiệp [10].
Đánh giá được tầm quan trọng của VSTTQ trong việc phòng ngừa và
giảm bớt tỷ lệ NKBV, từ năm 1996 Bộ Y Tế đã ban hành Quy trình VSTTQ
có minh họa bằng hình ảnh. Năm 2007, dựa trên hướng dẫn mới nhất của của
TCYTTG về phương pháp VSTTQ và sát khuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn
có chứa cồn, Bộ Y Ttế đã mời các chuyên gia y tế và chuyên gia KSNK sửa
đổi quy trình cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và ban hành công văn
số 7517/BYT - Đtr ngày 12 tháng 10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn
6
vị tổ chức cho cán bộ, nhân viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng
dẫn mới và treo Quy trình VST bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để
NVYT thực hiện theo quy định [11]. Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông
tư 18/2009/TT - BYT: “Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các
cơ sở khám chữa bệnh”. Thông tư quy định: “Thầy thuốc, nhân viên y tế, học
sinh, sinh viên thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ VST đúng
chỉ định và đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y Ttế. Người bệnh và người
nhà người bệnh, khách đến thăm phải VST theo quy định và hướng dẫn của cơ
sở khám, chữa bệnh” [7].
Các thời điểm nhân viên y tế bắt buộc phải vệ sinh bàn tay bao gồm:
+ Trước khi tiếp xúc với người bệnh
+ Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
+ Sau khi tiếp xúc với người bệnh
Varicella- Zoster [13].
c) Ký sinh trùng và nấm
Một số ký sinh trùng (Giardia lamblia) có thể lây truyền dễ dàng giữa
người trưởng thành và trẻ em. Nhiều loại nấm và ký sinh trùng là các sinh vật
cơ hội và là nguyên nhân nhiễm trùng trong khi điều trị quá nhiều kháng sinh và
8
trong trường hợp suy giảm miễn dịch (Candida albicans, Aspergillus spp,
Cryptococcus neoformans,…).Căn nguyên nhiễm trùng là nấm thường kháng
thuốc cao và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình điều trị [13].
* Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện
Có 3 đường lây truyền chính trong cơ sở y tế là lây qua tiếp xúc, giọt bắn
và qua không khí [14]. Trong đó lây qua đường tiếp xúc là đường lây nhiễm
quan trọng và phổ biến nhất trong NKBV (chiếm 90% các NKBV) và được
chia làm hai loại khác nhau là lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp (trực tiếp
với các tác nhân gây bệnh) và lây qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung
gian truyền bệnh). Nhiễm khuẩn huyết cũng được coi là một dạng đặc biệt của
lây truyền qua tiếp xúc bởi các phương tiện dụng cụ có chứa vi khuẩn xâm
nhập vào đường máu.
* Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với người bệnh
cũng như các NVYT. Các hậu quả của NKBV bao gồm:
(a) Tăng chi phí và tăng ngày điều trị:
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội
năm 2008 cho biết, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4
đến 24,3 ngày và tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 đến 32,3 triệu đồng [15].
Đây là số tiền lớn so với mức thu nhập bình quân của người dân Việt Nam tại
thời điểm năm 2008 là 1024 USD, tương đương gần 16 triệu đồng [16].
nghiên cứu cho thấy tất cả các sinh viên đều được học về cách VST nhưng
thực sự sinh viên vẫn chưa quan tâm tới VST và chưa thực hành được kiến
thức đã học [20].
10
Tuân thủ VST phòng tránh được NKBV, tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ VST của
NVYT còn rất thấp. Tại Hoa Kỳ, một số nghiên cứu về tỷ lệ này được thực
hiện trong khoảng từ năm 1991 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt
29% đến 40% [21].
Năm 2010 nghiên cứu của Allegranzi và cộng sự tại 47 quốc gia cho thấy
tỷ lệ TTRT của mẫu nghiên cứu là 60,4% [24].
Năm 2002, tại Italia, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức,
thái độ và thực hành VST của NVYT tại các khoa hồi sức tích cực tại 24 bệnh
viện vùng Campania và Calabria. Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức
đúng, tỷ lệ có thái độ tích cực về VST là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm
NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với các nhóm khác. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ TTRT của NVYT tại thời
điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau chăm sóc đạt 72,5% [22].
Nghiên cứu của Khaled và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại
học Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức VST tốt hơn
bác sĩ nhưng các bác sĩ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%), tuy nhiên,
tỷ lệ VST đúng của họ chỉ là 11,6% [23].
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh
viện khu vực phía Bắc vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về VST
chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ NVYT có
nhận thức tốt về VST chỉ đạt 41,2% [16].
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư và cộng
sự thực hiện năm 2005 cho thấy: Trước can thiệp tỷ lệ tuân thủ VST của
của NVYT vềVST tăng lên 12,7% (p< 0,001) [29].
12
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và tỷ lệ tuân
thủ VSTTQ của điều dưỡng Bệnh viện Xanh Pon Hà Nội cho thấy 70,1% điều
dưỡng có kiến thức tốt về thực hành VST. Điều dưỡng khoa Ngoại có kiến
thức tốt hơn khoa Nội (63,6% so với 36,4%), tỷ lệ tuân thủ các cơ hội VST là
58%, tỷ lệ tuân thủ buổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7% so với 50,3%) [14].
Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy năm 2014 về tuân thủ VST thường quy
của NVYT tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy: số có cơ hội tuân thủ VSTTQ
chiếm 39,5% tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy cao nhất tại các thời điểm
sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết của bệnh nhân chiếm 76,4%. Có 14,8%
nhân viên y tế có thực hành VSTTQ đạt [30].
Nghiên cứu của Lê Thanh Hiệp, Trần Thị Xuân Thùy và cộng sự (2015)
về kiến thức và thực hành về rửa tay thường quy của điều dưỡng - hộ sinh
BVĐK Tịnh Biên cho thấy 84,4% điều dưỡng - hộ sinh có kiến thức chung
đúng về VST. 73,3% điều dưỡng, hộ sinh thực hành chung đúng về VST [31].
Nghiên cứu củaNguyễn Thị Mai Hương (2017) tại bệnh viện Trung ương
Quân đội 108 cho thấy tỷ lệ học viên và nhân viên y tế bệnh viện có kiến thức
đúng về những nội dung cần vệ sinh tay đúng chiếm tỷ lệ khá cao (>95%).
Thực hành rửa tay của nhân viên y tế và người đi học còn rất hạn chế.
Thực hành vệ sinh tay khi tiếp xúc với người bệnh lần 1 của các đối tượng
nghiên cứu còn hạn chế (12,1 - 53,4%),thực hành vệ sinh tay trước khi thực
hiện thủ thuật sạch/vô khuẩn lần 1 (12,8 - 71,5%), thực hành vệ sinh tay khi
tiếp xúc dịch cơ thể lần 1 (6 - 58,3%) [36].
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên
y tế
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ VST ở NVYT gồm thiếu phương tiện, thiếu kiến thức, thiếu
- Không đồng ý với quy trình VST.
- Thiếu thông tin khoa học liên quan giữa VST và NKBV.
Một số yếu tố khác:
- Thiếu các biện pháp thúc đẩy VST từ lãnh đạo khoa/bệnh viện.
- Thiếu sự quan tâm của lãnh đạo khoa/bệnh viện.
- Thiếu các biện pháp hành chính liên quan tới thực hành VST (phê bình,
khiển trách, khen thưởng).
* Pittet D. Improving compliance with hand hygiene in hospitals. Infect
Control Hosp Epidemiol 2000;21:381–6.
14
Theo nghiên cứu của Lò Thị Hà và cộng sự tại bệnh viện Việt Nam Cu
Ba năm 2013 cho thấy có 85,1% các bác sỹ, điều dưỡng đã hiểu đúng khái
niệm vệ sinh tay. Tuy nhiên, chỉ có 73,3% ĐTNC cho rằng vệ sinh tay là biện
pháp quan trọng và đơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện.
20,8% các bác sỹ, điều dưỡng có kiến thức chưa đúng về thời gian thích hợp
để vệ sinh tay. Chỉ có 48,5% ĐTNC có kiến thức đúng về vị trí vi khuẩn được
tìm thấy nhiều nhất trên bàn tay.
Các điều dưỡng có tỷ lệ kiến thức đúng về vệ sinh tay thường quy, tác chính
nhân gây NKBV và thái độ đúng về 5 thời điểm vệ sinh tay cao hơn nhiều so với
bác sỹ (p 40 có kiến
nơi VST thuận tiện,
quy định về VST,
kiểm tra, giám sát VST
Tập huấn VST
Kiến thức đúng
về vệ sinh tay
thường quy
Hình 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu
1.3. Giới thiệu về Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa hạng I đầu
ngành về lĩnh vực sản phụ khoa. Bệnh viện là tuyến cao nhất có chức năng
cấp cứu, khám, điều trị và phòng bệnh. Bệnh viện có 09 phòng chức năng, 14
khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng và 7 trung tâm. Bệnh viện được giao chỉ
16
tiêu 1060 giường bệnh, với 1391 cán bộ công nhân viên chức và người lao
động trong đó có 228 bác sỹ, 648 điều dưỡng và hộ sinh còn lại là kỹ thuật
viên. Trong 14 khoa lâm sàng có các khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Sản nhiễm
khuẩn, khoa Sản bệnh lý là những nơi tập trung nhiều người bệnh nặng nhất
viện, hơn nữa người bệnh thường có bệnh lý kèm theo nên sức đề kháng của
người bệnh kém; khoa Đẻ là nơi tập trung các sản phụ đến sinh, hàng ngày số
lượng sản phụ vào sinh rất đông nên tần suất hoạt động của hộ sinh tại khoa
Đẻ nhiều nhất viện. Vì vậy nếu điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa trên không
tuân thủ rửa tay thường quy sẽ dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao, kéo dài
thời gian điều trị đặc biệt có thể gây tử vong cho người bệnh. Đây là đặc điểm
quan trọng để lựa chọn các khoa trên tham gia trong nghiên cứu này.