BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN THÁI ĐỨC
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG
UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ KHÁM PHỤ KHOA
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN THÁI ĐỨC
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG
UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ KHÁM PHỤ KHOA
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số
: 8 72 07 01
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐẶNG ĐỨC NHU
IARC
: Tổ chức phòng chống ung thư thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...........................................................3
1.1. Nguyên nhân và quá trình hình thành ung thư cổ tử cung.....................3
1.1.1. Quá trình hình thành ung thư cổ tử cung.........................................3
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ hình thành ung thư cổ tử cung.........................3
1.2. Tình hình mắc ung thu cổ tử cung..........................................................5
1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống ung thư cổ tử cung............6
1.3.1. Kiến thức phòng chống ung thư cổ tử cung....................................6
1.3.2. Thái độ, thực hành phòng chống ung thư cổ tử cung......................8
1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng
chống ung thư cổ tử cung........................................................................9
1.5. Biện pháp dự phòng..............................................................................10
1.5.1. Dự phòng cấp 1.............................................................................10
1.5.2. Dự phòng cấp 2.............................................................................13
1.6. Sự tiếp cận thông tin về phòng tránh ung thư cổ tử cung.....................14
1.7. Khung lý thuyết nghiên cứu.................................................................14
1.8. Địa điểm nghiên cứu............................................................................15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............16
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu.......................................16
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................16
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu.....................................................................16
2.1.3. Thời gian nghiên cứu.....................................................................16
2.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................16
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................16
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN..............................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Bảng 3.8:
Bảng 3.9:
Bảng 3.10:
Bảng 3.11:
Bảng 3.12:
Bảng 3.13:
Bảng 3.14:
Bảng 3.15:
Phân chia ý kiến về thái độ của đối tượng nghiên cứu................27
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu...........................................32
Hiểu biết về mức độ phổ biến, nguyên nhân khả năng lây truyền,
di truyền bệnh UTCTC của ĐTNC.............................................33
Hiểu biết về các đối tượng có nguy cơ mắc UTCTC của ĐTNC....34
Hiểu biết về các phương pháp sớm UTCTC của ĐTNC............35
Hiểu biết về các biện pháp phòng bệnh UTCTC của ĐTNC......36
Thực hành biện pháp phát hiện sớm UTCTC của ĐTNC.......37
Biểu đồ 3.4:
Độ tuổi ĐTNC đi khám phụ khoa...........................................38
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong năm 2012, trên toàn Thế giới đã có khoảng 528.000 trường hợp
mới mắc và khoảng 266.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung, chiếm 7,5% ca
tử vong do ung thư ở phụ nữ [19]. Ước tính đến năm 2050, trên Thế giới có
thêm hơn một triệu ca bị ung thư cổ tử cung [20].
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở các nước đang phát triển cao gấp 4 lần các
nước phát triển; từ 80% đến 85% ca tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra tại
các nước đang phát triển. Chỉ tính tại Ấn Độ, mỗi năm có khoảng 75.000
người tử vong vì căn bệnh này [3]. Theo các nghiên cứu ung thư tại Việt Nam
thì nước ta có tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung ở mức cao trên thế giới và có xu
hướng ngày càng gia tăng [21]. Ước tính hàng năm có khoảng 100.000150.000 mắc mới ung thư và có khoảng 70.000 người tử vong vì căn bệnh này
[1]. Theo nghiên cứu PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Đức, Viện trưởng Viện sức
khỏe sinh sản và gia đình tiến hành sàng lọc tại 5 tỉnh cho kết quả tỉnh Vĩnh
Phúc có đến 75% phụ nữ bị viêm nhiễm; trong số hơn 2.200 phụ nữ được xét
nghiệm tại thành phố Hòa Bình, đã có trên 63% phụ nữ viêm cổ tử cung âm
đạo, 50% phụ nữ viêm do vi sinh; tại Thái Bình và Cần Thơ, tỉ lệ phụ nữ bị
viêm nhiễm phụ khoa, chủ yếu là viêm âm đạo và viêm cổ tử cung bất thường
lên tới trên 70% [7].
Nguyên nhân trực tiếp gây ra ung thư cổ tử cung hiện chưa được biết
nhưng từ năm 1984, các nhà khoa học Đức đã khẳng định mối liên quan giữa
nhiễm virus gây u nhú ở người – Human papilloma virus (HPV) và sự hình
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguyên nhân và quá trình hình thành ung thư cổ tử cung
1.1.1. Quá trình hình thành ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư sinh dục thường gặp ở phụ
nữ [2]. Ung thư cổ tử cung xảy ra tại vị trí cổ tử cung, thường xuất phát
từ vùng chuyển tiếp giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy. Bắt đầu từ tổn thương
tiền ung thư tiến triển thành ung thư tại chỗ, sau đó là ung thư vi xâm nhập và
cuối cùng kết thúc bằng ung thư xâm nhập. Nguyên nhân trực tiếp gây ra ung
thư cổ tử cung hiện nay vẫn chưa được biết, nhưng đã có nhiều nghiên
cứu liên quan đã đưa ra những bằng chứng về mối liên hệ giữa ung thư cổ
tử cung với virus gây u nhú ở người – Human Papiloma Virus (HPV) điển
hình như nghiên cứu của Meisels và Fortin năm 1976 – là người đầu tiên đã
chứng minh tần số cao nhiễm trùng HPV và đã lưu ý sự kết hợp của nó loạn
sản cổ tử cung [22]. Quần thể có nguy cơ cao có thể xác định được, và nó có
thể khẳng định rằng vai trò của nhiễm trùng virus đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển của quá trình bệnh [23]. Nhiễm HPV phổ biến nhất ở phụ
nữ trong độ tuổi dưới 25 tuổi [24]. Nhưng ở giai đoạn này, các biểu hiện
nhiễm trùng thường là thoáng qua, khó phát hiện [25]. HPV là một tổ hợp các
chủng virus khác nhau, có hơm 100 loại HPV khác nhau nhưng chỉ khoảng 40
loại trong số đó có thể gây bệnh ở vùng hậu môn, sinh dục và 15 loại tiềm ẩn
nguy cơ gây ung thư.
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ hình thành ung thư cổ tử cung
Nguy cơ viêm nhiễm HPV có liên quan chủ yếu đến hoạt động tình dục,
đặc biệt là các hành vi tình dục của các bạn tình của họ. Tuy nhiên, viêm
nhiễm HPV cũng khác so với các viêm nhiễm lây qua đường tình dục khác,
5
Dấu hiệu phát hiện sớm ung thư cổ tử cung thường không có triệu
chứng ban đầu mà chỉ đến khi ung thư phát triển sang các mô gần bên thì các
triệu chứng mới bắt đầu xuất hiện mà thông thường được biểu hiện bởi các
dấu hiệu của bệnh phụ khoa nên rất dễ bị bỏ qua. Dấu hiệu có thể gặp là khí
hư không bình thường, đau hoặc chảy máu âm đạo. Ngoài ra, người bệnh còn
có thể có các dấu hiệu khác thường làm cho người bệnh không chú ý như:
thiếu máu, chảy máu từ trực tràng hoặc bàng quang, đau lưng hoặc chân,
khung xương chậu liên tục, các vấn đề về tiểu tiện, giảm cân nhanh và đột
ngột, chảy máu âm đạo bất thường hoặc sau quan hệ tình dục,…
1.2. Tình hình mắc ung thu cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là ung thư thứ hai phổ biến nhất ở phụ nữ. Hơn
85% gánh nặng toàn cầu xảy ra ở các nước đang phát triển, nơi mà nó chiếm
13% của tất cả các loại ung thư ở phụ nữ [8]. Mỗi năm có khoảng 490.000
trường hợp ung thư cổ tử cung được chẩn đoán và trên 270.000 trường
hợp tử vong vì bệnh này [16]. Hàng năm, có khoảng một nửa triệu ca mới
nhiễm ung thư cổ tử cung được chẩn đoán. Trên toàn Thế giới, hàng năm
có trên 250.000 phụ nữ tử vong vì căn bệnh này [33]. Tỷ lệ tử vong tại các
nước đang phát triển cao gấp 4 lần tại các nước đang phát triển [21], [34].
Theo các nghiên cứu ung thư tại Việt Nam trong các ung thư ở phụ nữ,
ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ hai sau ung thư vú tại Hà Nội và đứng
đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh [5]. Nước ta có tỷ lệ mắc ung thư cổ tử
cung ở mức cao trên Thế giới và có xu hướng tăng [8], [13]. Theo báo cáo
của IARC (2010) cho thấy tại Việt Nam có 5.174 trường hợp mắc mới và
2.472 trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung, chiếm 11,65% số
trường hợp mới mắc của các nước Đông Nam Á (44.404 trường hợp) [35]. Tỷ
lệ mắc là 11,7/100.000 dân. So với các nước trong khu vực thì tỷ lệ ung thư
cổ tử cung tương đương với các nước như Indonesia, Philipines và Brunei
7
4,5/100.000 dân vào năm 1998. Có tới trên 90% ung thư cổ tử cung được
phát hiện sớm nhờ tiến hành sàng lọc. Nhìn chung, ở các nước phát triển như
Canada, Mỹ và các quốc gia Bắc Âu, nhờ triển khai có hiệu quả các chương
trình sàng lọc ung thư cổ tử cung mà người ta chữa khỏi được 60% bệnh
ung thư cổ tử cung và con số này sẽ được nâng cao hơn nữa trong các
năm tới [8]. Hiện nay tại Việt Nam, chương trình phòng chống ung thư đã
được triển khai từ năm 2008 [6]. Một trong những mục tiêu ưu tiên của các
chương trình này là xây dựng mô hình sàng lọc sớm ung thư tại cộng đồng
bao gồm ung thư cổ tử cung [4]. Hiện tại, chương trình sàng lọc phát
hiện sớm ung thư cổ tử cung đã được triển khai ở nhiều tỉnh, thành phố
trong cả nước. Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động sàng lọc đang còn hạn
chế. Thực tế cho thấy số trường hợp mắc ung thư cổ tử cung vẫn tăng
theo từng năm rõ rệt, đặc biệt tỷ lệ các trường hợp phát hiện ở giai đoạn muộn
chiếm đa số [3].
Ung thư cổ tử cung là bệnh có thể phòng ngừa được, do đó kiến
thức và thực hành về phòng ngừa ung thư cổ tử cung của phụ nữ là yếu
tố quan trọng để đạt được các mục tiêu của chương trình. Nâng cao kiến thức
và thực hành về phòng bệnh ung thư cổ tử cung đúng cho đối tượng có
nguy cơ sẽ là biện pháp can thiệp cộng đồng có hiệu quả lâu dài nhằm giảm
gánh nặng bệnh tật. Nghiên cứu tổng quan tài liệu này và rà soát lại những
nghiên cứu đã tiến hành tại Việt Nam tìm hiểu về kiến thức, thực hành phòng
bệnh ung thư cổ tử cung để từ đó đưa ra các khuyến nghị về các mảng
kiến thức và thực hành còn hạn chế, qua đó đặt cơ sở để xây dựng các chương
trình can thiệp truyền thông tại nước ta. Tuy nhiên theo một số nghiên cứu
trước đây về các mảng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng
chống ung thư cổ tử cung thì cho thấy kết quả còn thấp.
9
phòng chống ung thư còn thấp: 37,4% số đối tượng nghiên cứu đã đi khám
sức khỏe 6 tháng/1 lần và 29,8% đi khám sức khỏe hàng năm, 9,4% đi khám 3
tháng/1 lần, không đi khám sức khỏe định kỳ chiếm 23,4%. Tỷ lệ tiêm phòng
vaccine HPV rất thấp (0,5%), có rất nhiều người chưa nghe nói/chưa biết đến
vaccine phòng ung thư cổ tử cung [13].
Có sự khác nhau về hiểu biết các bệnh ung thư phổ biến ở người dân, tỷ
lệ người dân hiểu biết về biện pháp phòng tránh ung thư phổi 85% và ung thư
gan là 66%, nhưng lại thấp ở các bệnh phổ biến khác: ung thư cổ tử cung
34,1%, vú 40%, dạ dày 33,2%, đại trực tràng 20,6%. Nhiều người dân còn
chưa biết đầy đủ và đúng về các bệnh ung thư phổ biến như: nguyên nhân gây
bệnh (chiếm 50%), cách phòng tránh (chiếm 60%), các dấu hiệu cảnh báo
(chiếm 50%) trong khi tỷ lệ khá cao người dân tiếp cận với thông tin về ung
thư 74%. Điều này cho thấy người dân có được nghe về các thông tin nay
nhưng chỉ nghe loáng thoáng, các thông điệp truyền tải chưa thực sự mang
tính thuyết phục để giúp người dân có thể hiểu thấu đáo và từ đó thay đổi
hành vi, hoặc do nhận thức của người dân còn hạn chế chưa nắm bắt được hết
các thông tin mà truyền thông mang lại. Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy
vẫn còn những khoảng trống rõ rệt trong kiến thức và còn sự khác biệt lớn từ
thái độ sang tới việc chuyển đổi hành vi của người dân [13].
1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng
chống ung thư cổ tử cung
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khuyên về những lý do khiến phụ
nữ ngại đi khám phụ khoa: mắc cỡ (chiếm 56,1%), đường xa (9,7%), kinh tế
khó khăn (7,5%), không ý kiến (26,5%) [17].
Cũng theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Trọng Trung, tỷ lệ UTCTC ở
phụ nữ có liên quan với tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục, viêm âm đạo do
trùng roi, thụt rửa âm đạo và phẫu thuật cắt buồng trứng. Những phụ nữ đã
11
18, trong đó có hai type là 6 và 11 chịu trách nhiệm chính cho các bệnh sùi
mào gà sinh dục và hai type 16 và 18 chịu trách nhiệm cho 70% các trường
hợp UTCTC. Liều tiêm là 3 mũi vào tháng 0, tháng 2 và tháng 6. Đối với
Cervarix™ thì khuyến cáo cho trẻ em nữ 11 – 12 tuổi và cũng cho phép trẻ nữ
9 tuổi có thể tiêm phòng, liều tiêm là mũi 1 vào tháng 0, mũi 2 cách mũi 1 từ
1 đến 2 tháng và mũi 3 cách mũi 2 là 6 tháng [32], [39].
Vaccine sử dụng các thành phần gây miễn dịch của virus (virus like
particules) có chứa các gen L1, L2 của virus. Do đó, khi nhận liều vaccine, hệ
thống miễn dịch của cơ thể sẽ được kích họat, từ đó hình thành miễn dịch
(qua tế bào và qua dịch thể) với nhóm HPV tương ứng. Kháng thể chống HPV
và các tế bào miễn dịch với HPV sẽ thâm nhập qua biểu mô cổ tử cung (trụ và
lát) và có tác dụng bảo vệ cho lớp tế bảo nhạy cảm với HPV tại cổ tử cung.
Do không sử dụng các yếu tố gây ung thư, vaccine không gây các thay đổi bất
thường trên tế bào cổ tử cung như khi bị nhiễm HPV [39].
Khuyến cáo nên tiêm cho thiếu nữ trẻ hay trẻ gái vị thành niên chưa có
QHTD, nhằm chuẩn bị đầy đủ miễn dịch, tránh tác động của HPV một khi
cónhiễm HPV qua đường tình dục. Đối với phụ nữ lớn hơn, nếu xét nghiệm
HPV âm tính, cũng có thể sử dụng; tuy nhiên, không loại trừ người đó đã từng
nhiễm HPV thậm chí đã từng có tổn thương tại cổ tử cung do HPV, hiệu quả
của vaccine sẽ bị hạn chế. Cho đến hiện nay, vaccine HPV vẫn được khẳng
định là vaccine thuộc dạng phòng ngừa chứ không phải là vaccine điều trị,
mặc dù vaccine cũng có tác dụng làm thoái lui các tổn thương cổ tử cung do
nhiễm HPV [39].
Tuy không phòng tránh được tất cả các type HPV và vẫn còn tồn tại
nhiều vấn đề như liều, thời gian, chi phí, độ an toàn và hiệu quả cũng như
không thể tránh hoàn toàn khỏi UTCTC nhưng không thể bác bỏ việc tiêm
vaccine trở thành một nhu cầu quan trọng trong phòng chống HPV và
Ở vùng núi và vùng nông thôn, tỉ lệ bao phủ đạt trên 98%, trong khi đó tại
13
Cần Thơ, tỉ lệ chỉ đạt 89 - 91% [21], [38]. Việc tiêm chủng trong dự án là
được hoàn toàn miễn phí do vậy tỷ lệ này có thể giảm nếu gia đình phải tự chi
trả phí.
1.5.2. Dự phòng cấp 2
Sử dụng biện pháp khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị. Biện pháp
khám sàng lọc tế bào (Pap smear) được thực hiện để xác định các tổn thương
tiền ung thư để điều trị hoặc theo dõi.
Tại Canada và các nước Châu Âu, áp dụng chương trình tầm soát xét
nghiệm DNA HPV trước và chỉ làm PAP cho những phụ nữ HPV(+), các
chuyên gia nhận thấy phương pháp này giảm chi phí nhưng lại hiệu quả hơn
nhờ khu trú được những đối tượng cần theo dõi sát, do đó có thể phát hiện và
điều trị bệnh sớm.
Theo hướng dẫn của Hoa Kỳ về tầm soát UTCTC, tuổi bắt đầu là 3 năm
sau lần giao hợp đầu tiên. Tuy nhiên, tháng 03, năm 2012 Hội Ung Thư Hoa
Kỳ (American Cancer Society), Hội soi cổ tử cung và Bệnh học cổ tử cung
(American Society for Colposcopy and Cervical Pathology), Hội Bệnh học
lâm sàng Hoa Kỳ (American Society for Clinical Pathology) đã công bố bản
hướng dẫn đồng thuận: không tầm soát ung thư cổ tử cung cho phụ nữ dưới
21 tuổi bất kể tiền sử sinh hoạt tình dục. Đó là lý do vì sao các hiệp hội y
khoa ở Hoa Kỳ chọn mốc tuổi khám tầm soát UTCTC là 21 tuổi và do đó họ
khuyến cáo phụ nữ nên di khám vào lúc 21 tuổi hoặc 3 năm sau lần quan hệ
đầu tiên, tùy vào điều nào đến trước [21].
Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng hiện nay được gọi chung là
phương pháp “xét nghiệm HPV” (HPV testing) ra đời từ những năm đầu thập
niên 1990 và không ngừng phát triển. Sự ra đời của các phương pháp chẩn
15
tế công cộng, tổng quan tài liệu và các yếu tố liên quan. Các yếu tố ảnh hưởng
lên hành vi sức khỏe được đề cập bao gồm các nhóm yếu tố cá nhân, nhóm
yếu tố tăng cường, nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi. Mô hình lý thuyết này
đáp ứng được việc mô tả các mối liên quan giữa hành vi sức khỏe mang tính
chất cá nhân với các vấn đề sức khỏe nói chung, đồng thời cũng chỉ ra rằng
hành vi của con người có mối quan hệ tương tác với môi trường sống xung
quanh và có sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau, đặt mối quan hệ con người
trong một sinh thái xã hội động như một chủ thể, sự thay đổi chuẩn mực xã
hội sẽ thay đối hành vi cua con người.
1.8. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế. Bệnh
viện có quy mô hơn 1000 giường bệnh nội trú, 14 khoa lâm sàng, 9 khoa cận
lâm sàng và 7 trung tâm. Hơn 60 năm thành lập và phát triển, bệnh viện trở
thành cơ sở đầu ngành trên cả nước về chuyên khoa ngành phụ sản, bên cạnh
đó, bệnh viện còn là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học,
chỉ đạo tuyến và chuyển giao công nghệ về chuyên ngành phụ sản, sơ sinh trên
toàn quốc. Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng được đào tạo cơ bản trong nước và được
cử ra nước ngoài học tập nâng cao tay nghề, nhờ thế, bệnh viện đã trở thành cơ
sở uy tín, chất lượng về điều trị các bệnh liên quan đến phụ khoa.
Khoa “Điều hòa sinh sản” hiện nay là khoa Điều trị theo yêu cầu được
thành lập tháng 4/1991. Năm 1997, khoa được sát nhập với khoa Phụ II. Năm
1998, khoa lại được tách khỏi khoa Phụ II và lấy tên là khoa Điều trị theo yêu
cầu. Từ năm 1999 - 2012, khoa đổi tên là Khoa điều trị tự nguyện. Từ năm
2012 đến nay là Khoa Điều trị theo yêu cầu.
Khoa Điều trị theo yêu cầu có chức năng:
Khám chữa bệnh và điều trị
- Khám hội chẩn các trường hợp có chỉ định mổ sản phụ khoa.
- Mổ phụ khoa.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang phân tích
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
17
a. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
α: Mức ý nghĩa thống kê (Chọn = 0,05 ứng với độ tin cậy 95% thay
vào ta được Z(1 – α/2) = 1,96).
p: Tỷ lệ người dân có kiến thức đạt về biện pháp phòng ngừa UTCTC,
nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách và cộng sự (2010) (= 82%) [13].
ε= 0,051: Sai số mong muốn giữa mẫu nghiên cứu và quần thể.
Thay vào công thức, ta tính được cỡ mẫu n=324, thêm 10% sai số, tổng
số phiếu cần thu thập dự tính 356.
b. Chọn mẫu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu sẽ được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu
thuận tiện. Tất cả các phụ nữ đến khám tại khoa Điều trị theo yêu cầu Bệnh
viện Phụ sản Trung ương độ tuổi từ 15 trở lên đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn sẽ
được mời tham gia nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu.
2.3. Biến số, chỉ số nghiên cứu
2.3.1. Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá
Nội dung
Đặc điểm
cá nhân
trị theo yêu cầu
18
Nội dung
Biến số nghiên
cứu
Chỉ số
Phương pháp
thu thập
có người quen mắc
mắc UTCTC
UTCTC và không có người
quen mắc UTCTC
Mục tiêu 1: Hiểu biết về mức Tỷ lệ % ĐTNC có kiến
Đánh giá
độ phổ biến của
kiến
UTCTC
Hiểu biết về
Tỷ lệ % ĐTNC có kiến
những dấu hiệu
thức đúng về dấu hiệu nghi
nghi ngờ của
ngờ của bệnh UTCTC
bệnh UTCTC
Hiểu biết về khả Tỷ lệ % ĐTNC có kiến
năng phát hiện
Phiếu điều tra
thức đúng về khả năng phát
tại Khoa
sớm UTCTC
hiện sớm UTCTC
Hiểu biết về khả Tỷ lệ % ĐTNC có kiến
điều trị
năng lây truyền
thức đúng về khả năng lây
Phiếu điều tra
Phiếu điều tra
Phiếu điều tra
đúng về các yếu tố nguy cơ
Trung
ương
của UTCTC
của UTCTC