VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY ĐẠI
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY ĐẠI
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Chương 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỤNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO
THIÊN TAI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM ......................................31
2.1. Tình hình Thiên tai ở Việt Nam ................................................................ 31
2.2. Thực trạng công tác xây dựng chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa vào
cộng đồng ở Việt Nam hiện nay................................................................................36
2.3. Đánh giá chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng ở Việt
Nam hiện nay…… ....................................................................................................60
Chương 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG .........................................................................................................69
3.1. Những thách thức hiện nay trong công tác quản lý rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng……….. ............................................................................................ 69
3.2. Quan điểm, định hướng xây dựng và hoàn thiện chính sách quản lý rủi ro
thiên tai dựa vào cộng đồng. .....................................................................................71
3.3. Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng hiện nay. ............................................................................................ 74
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………….79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung
1
STT
BẢNG BIỂU
NỘI DUNG
1
Hình 1.1
Quy trình quản lý rủi ro thiên tai
2
Bảng 2.1.
Phân vùng thiên tai
3
Bảng 2.2.
Tần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở
Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thiên tai là một hiện tượng tự nhiên luôn song hành với sự tồn tại và phát
chính sách phòng, chống và làm giảm nhẹ thiên tai, hỗ trợ khắc phục hậu quả do
thiên tai gây ra. Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia
phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. Trong đó, Chiến lược thể hiện
quan điểm “Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai thực hiện theo phương
châm nhà nước và nhân dân cùng làm, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước,
đồng thời huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước”, đồng thời, đề ra một trong những nhiệm vụ giải pháp là phải tăng
cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về
phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.
Tuy nhiên, trước những diễn biến tác động của BĐKH toàn cầu, đã làm trầm
trọng thêm mức độ thiên tai ở nước ta, gây thiệt hại về kinh tế xã hội với quy mô
lớn tác động đến toàn xã hội. Công tác giảm nhẹ thiên tai luôn được coi là một phần
không thể thiếu được trong sự phát triển bền vững, đặc biệt, công tác phòng tránh
và giảm nhẹ thiên tai dựa vào cộng đồng đã được Nhà nước và Chính phủ quan tâm
và triển khai trong nhiều năm qua với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân thực
hiện và dân kiểm tra” và hiện thực hóa qua phương châm 4 tại chỗ bao gồm “chỉ
huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư - phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ” góp
phần nhanh chóng khắc phục những hậu quả do thiên tai gây ra. Đây có thể coi là
giải pháp trước mắt, cũng như lâu dài nhằm để nâng cao khả năng thích nghi phát
triển bền vững trong môi trường thiên tai, thích ứng với BĐKH. Đặc biệt, Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi
ro thiên tai dựa vào cộng đồng” triển khai trong 12 năm từ 2009 đến 2020 với mục
tiêu thiết lập các sáng kiến quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại 6.000 lãng,
xã dễ bị tổn thương nhất, với hơn 70% dân số tại các xã có mục tiêu được tập huấn;
hơn 1.000 xã đã được khởi động và 33.000 thành viên đã được truyền thông, nâng
cao nhận thức. Đây là một bước quan trọng trong việc thúc đẩy và nhân rộng các
mô hình thực hành Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trên cả nước. Trên cơ
sở những yêu cầu trong nâng cao nhận thức về thiên tai và quản lý thiên tai của các
cấp quản lý và cộng đồng người dân trước những xu thế bất lợi gia tăng của thiên
nhân của các loại thiên tai thường gặp tại tỉnh Lào Cai, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm quản lý rủi ro thiên tai trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Lào Cai. Trong nghiên cứu
của mình, tác giả đã đề cập đến khung quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng như là
một công cụ để nghiên cứu, phân tích, đánh giá đối với công tác quản lý rủi ro thiên tai
trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Lào Cai.
3
Lê Nguyễn Thu Hương (2014), “Đánh giá tác động của thiên tai gây ra bởi
BĐKH đến sinh kế người dân xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”, Luận
văn Thạc sỹ BĐKH, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tổng hợp các số liệu để đánh
giá mức độ tác động của các hiện tượng thiên tai theo quan điểm của người dân địa
phương. Luận văn cũng sử dụng khái niệm, tiêu chí đánh giá sinh kế bền vững và
khung khái niệm về sinh kế bền vững để tìm hiểu và đánh giá năng lực thích ứng của
người dân trước những tác động của các hiện tượng thiên tai. Luận văn áp dụng xây
dựng một công cụ sử dụng GIS để người dân đánh giá sơ bộ sự tổn thương của thiên tai
tới sinh kế người dân khu vực. Đồng thời, miêu tả được sự tham gia của cộng đồng
trong việc sử dụng công cụ GIS trong việc đánh giá sơ bộ tổn thương của thiên tai tới
sinh kế người dân.
Phan Văn Kiên (2015), “Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng
trong bối cảnh BĐKH tại Xã Quảng Nham, Huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hóa”,
Luận văn Thạc sỹ Khoa học môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở tổng
hợp lý luận và thực tiễn về đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả
đi sâu vào phân tích các nội dung của quá trình đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng tại địa bàn nghiên cứu. Luận văn sử dụng Phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của cộng đồng để nghiên cứu và phân tích về các nội dung và tiến trình đánh
giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng.
Đàm Thị Hoa (2017), “Nghiên cứu đánh giá đề án Nâng cao nhận thức cộng
đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng do Trung tâm Phòng tránh và Giảm
cộng đồng – dành cho cấp xã” năm 2014. Đề tài luận văn đã sự kế thừa, phát triển
những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để tổng hợp, đánh giá, phân
tích quá trình quá trình thể chế hóa chính sách và thực hiện chính sách quản lý rủi
ro thiên tai dựa vào cộng đồng ở Việt Nam hiện nay trên phương diện nghiên cứu
khoa học về chính sách công.
Các đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách công, xây dựng
chính sách công
Ths. Thái Xuân Sang - Khoa Nhà nước & Pháp luật – Học viện hành chính
quốc gia, “Một số vấn đề và lý luận và thực tiễn về chính sách công ở Việt Nam”.
Tác giả đã nêu lên mối quan hệ giữa xây dựng chính sách và ban hành pháp luật.
Trong đó, Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của
Đảng nhưng đồng thời, đây cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách
5
công. Vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù có nhiều điểm giao thoa,
tương đồng, là cơ sở của nhau trong một nhà nước pháp quyền. Nếu chính sách là
những tư tưởng, định hướng mang tính chính trị được thể hiện trong các nghị quyết,
các văn kiện của Đảng, thì pháp luật được thể hiện bằng các quy tắc xử sự chung
được ban hành bởi Nhà nước theo những trình tự và thủ tục nghiêm ngặt và được
nhà nước đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Do đó, khi đã được thể chế
hóa thì chính sách có vai trò chi phối, quyết định đối với pháp luật, chính sách thay
đổi thì pháp luật phải thay đổi theo. Ngược lại, pháp luật lại là công cụ thực tiễn hóa
chính sách đi vào cuộc sống một cách thực sự hiệu quả.
Nguyễn Hữu Hải (2016), “Chính sách công – Những vấn đề cơ bản”, NXB
Chính trị quốc gia Sự thật. Ở nghiên cứu này tác giả đã chú trọng đến việc vận dụng
những kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá chính sách công, nghiên cứu về
chính sách công với tư cách là một ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu độc
lập. Từ đó, trang bị những kiến thức cơ bản về chính sách công, trang bị kỹ năng cơ
đắn, chưa đầy đủ về chính sách công theo quan niệm mới, hiện đại dẫn đến việc
hoạch định chính sách cho đến tổ chức thực thi chính sách còn nhiều yếu kém, lãng
phí. Vì vậy, cần phải đầu tư nghiên cứu, làm rõ nội hàm chính sách công bao gồm
khái niệm, các phạm trù, nội dung, các đặc điểm, các yếu tố tác động, chi phối
chính sách công trong bối cảnh hiện tại của nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng của việc xây dựng chính sách và
quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật trong công tác quản lý rủi ro thiên tai dựa vào
cộng đồng ở nước ta hiện nay. Từ đó, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải
pháp tổng thể nhằm hoàn thiện thể chế, chính sách trong công tác quản lý rủi ro
thiên tai dựa vào cộng đồng, góp phần nâng cao năng lực phòng tránh thiên tai và
quàn lý rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận liên quan, thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và quốc
tế về quản lý rủi ro thiên tai cho cộng đồng.
- Nhận diện, đánh giá làm rõ một số vấn đề về xây dựng, thực thi chính sách
quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
- Đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp tổng thể nâng cao năng lực
phòng tránh thiên tai dựa vào cộng đồng.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
thông qua quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức công tác quản lý rủi ro
thiên tai dựa vào cộng đồng trong giai đoạn vừa qua ở nước ta.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
tin từ các chủ trương, đường lối, văn kiện của Đảng, tư liệu, các chính sách và
văn bản pháp luật của Nhà nước, thu thập thông tin trên mạng internet, một số
sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu khác có liên quan đến đối tượng nghiên
cứu của đề tài để làm cơ sở chỉ ra những định hướng, chủ trương chính sách của
nhà nước về chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Bên cạnh đó,
Tác giả cũng thu thập các tài liệu liên quan đến Nâng cao nhận thức cộng đồng và
quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, các báo cáo, nghiên cứu trong và ngoài nước
liên quan và tiến hành phân tích các tài liệu này. Đây là cơ sở quan trọng để làm rõ quá
trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách trong thực tế, qua đó chỉ ra hiệu quả của
chính sách cũng như những tồn tại, hạn chế thách thức liên quan đến bản thân chính sách
và quá trình tổ chức thực hiện đưa chính sách vào cuộc sống.
5.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Trên cơ sở các số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả sẽ tiến
hành nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách đối chiếu, so sánh, phân tích
chúng thành từng bộ phận khác nhau để tìm ra những điểm mới, khác biệt trong việc xây
dựng và thực hiện chính sách, các tác động của thiên tai đến cộng đồng, các nguồn lực
của cộng đồng trong ứng phó với thiên tai. Từ đó liên kết từng mặt, từng bộ phận thông
tin đã được phân tích, xác định để đưa ra những đánh giá phù hợp về vấn đề nghiên cứu.
5.4. Phương pháp kế thừa tài liệu
Để thực hiện nghiên cứu đảm bảo tính logic và phù hợp với điều kiện thực tế,
việc kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây là cần thiết để có thể đạt
được những kết quả trong quá trình nghiên cứu đề tài. Bên cạnh đó, việc phân tích
và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu, thông tin có liên quan cần đảm bảo
tính khách quan, có chọn lọc, từ đó, đánh giá các thông tin thu thập được phù hợp
với yêu cầu và mục đích nghiên cứu.
9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
1.1.
Các khái niệm về Chính sách công
1.1.1. Chính sách
Ở các nước phát triển, thuật ngữ “Chính sách” hay còn gọi là “Chính
sách công” được sử dụng khá phổ biến, được tiếp cận nghiên cứu, nhìn nhận
từ những giác độ khoa học khác nhau, từ đó Chính sách công có những cách
hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm. Ngay cả trên lý
thuyết, việc nghiên cứu những vấn đề chung về chính sách công cũng phải bắt
đầu từ chính sách công của các quốc gia cụ thể. Vì chính sách công bao gồm
cả hoạt động xây dựng và thực thi chính sách do vậy phải gắn với chủ thể ban
hành và thực hiện chính sách công. Từ đó cho thấy chính sách công luôn được
đặt trong hoàn cảnh của một hoặc một số quốc gia cụ thể với các điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định. Ở Việt Nam, một số nhà nghiên
cứu đã đưa ra quan điểm về Chính sách công như sau:
- TS. Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự
báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công
nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ
(do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tếxã hội và chính sách nói chung của mỗi nước.
- PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng: trên thế giới, cuộc tranh luận về định
nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và chưa đi đến được sự
nhất trí rộng rãi. Tuy nhiên, nhìn chung, chính sách công có những đặc trưng
cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước(bao gồm
Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp); chính sách công không
chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động,
11
là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của
Đảng. Do vậy việc đề cập tới chính sách công ở đây được hiểu là các chính
sách công do Nhà nước ban hành.
Chính sách công ở Việt Nam thường được thể chế hóa thành các văn
bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, tuy nhiên,
bên cạnh đó cũng bao gồm những phương án hành động có tính định hướng,
kích thích phát triển. Thông thường trong một đề nghị xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật có thể có nhiều chính sách. Các chính sách này thường có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang. Chính sách trong
đề nghị xây dựng văn bản phải đảm bảo tuân thủ đường lối, chủ trương của
Đảng, phù hợp với hiến pháp và các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù
hợp với các cam kết quốc tế mà Việt nam đã tham gia.
Như vậy, chủ trương, đường lối của Đảng là một trong những căn cứ
quan trọng, hàng đầu để thiết kế nội dung chính sách trong lập đề nghị xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật. Điều đó giải thích vì sao trong những năm
gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao vai trò
của Chính sách công như là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước nói riêng và đẩy mạnh chất lượng của sự nghiệp đổi mới nói
chung [19]
1.1.2. Xây dựng Chính sách
Xây dựng chính sách công là một quá trình mà thông qua đó một vấn
đề công xác định được đưa vào chương trình nghị sự của nhà nước cho đến
khi một chính sách được ban hành nhằm giải quyết vấn đề đã được đặt ra đó.
Chính sách công được ban hành cần phải đảm bảo hai yếu tố: mục tiêu
giải quyết vấn đề và giải pháp để đạt được mục tiêu đó. Chính vì vậy, xây
dựng chính sách công là toàn bộ quá trình từ thiết lập chương trình nghị sự
cho đến khi ban hành một chính sách giải quyết vấn đề công.
14
khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng,.. Đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để
điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội. Để sử dụng
có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông qua các chính
sách thực hiện kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ
hợp lý các nguồn lực trong xã hội.
Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.
Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình
thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách
phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công
nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng...
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành.
Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không
thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ
quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân. Vì
vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa
các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân,
góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách.
1.1.4. Quy trình xây dựng chính sách
Quá trình xây dựng chính sách có thể được chia thành nhiều bước khác
nhau, cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào mô hình lý thuyết được áp dụng.
Đối với cách tiếp cận các giai đoạn của quy trình hoạch định chính sách, thì
trước khi Ban hành chính sách (chính sách được thông qua) cần trải qua quá
trình từ Sáng kiến chính sách và Chấp thuận sáng kiến chính sách.
a) Sáng kiến chính sách:
sách mong muốn đạt được cũng như những điều kiện cần thiết để đạt được
các mục tiêu đó. Đây là một công việc rất phức tạp và việc lựa chọn phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong một xã hội dân chủ, nhu cầu của xã hội
16
ngày càng nhiều thì việc xác định vấn đề nào trở thành vấn đề chính sách là
một việc quan trọng. Vấn đề chính sách được lựa chọn tùy theo điều kiện cụ
thể và sự cần thiết của chính sách – vấn đề đó cần phải có chính sách của nhà
nước mới giải quyết được. Trong điều kiện chung, quản lý nhà nước có sự
tham gia không chỉ của nhà nước mà của các lực lượng chính trị - xã hội
khác, vì vậy việc quyết định vấn đề chính sách thuộc về tất cả các tổ chức
trong hệ thống chính trị.
Trong điều kiện của Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất,
không có sự phân chia nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước thì một chính sách công được đưa ra đều có sự tham gia của ba cơ quan:
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đa số các vấn đề chính sách đều được các cơ
quan hành pháp đưa ra và trao đổi, lấy ý kiến của công dân và các tổ chức
chính trị - xã hội. Xác định vấn đề nào trở thành vấn đề chính sách phần lớn
thuộc về chính phủ - cơ quan thực thi quyền hành pháp. Quyền quyết định của
các nhà hành pháp đối với các vấn đề chính sách thông qua quyền lập quy của
chính phủ.
c) Ban hành chính sách
Ban hành chính sách công là toàn bộ quá trình hiện thực hóa nội dung
chính sách dưới hình thức văn bản quản lý nhà nước theo một trình tự, thủ tục
do luật pháp định. Thực chất, đây là toàn bộ quá trình pháp lý hóa về nội
dung, hình thức của một chính sách công. Sau khi quyết định, chính sách
công sẽ được ban hành dưới thể thức văn bản pháp lý bằng văn bản do một cơ
quan có thẩm quyền ban hành theo luật định. Do được tiến hành theo một
lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ
hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá,
sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [23].
18
1.2.2. Rủi ro thiên tai
Tổ chức Chiến lược quốc tế của Liên hợp quốc về giảm nhẹ thiên tai
(UNISDR) định nghĩa rủi ro thiên tai là khả năng gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng
hoạt động của một cộng đồng hoặc xã hội liên quan đến những thiệt hại và tác động
của con người, vật chất, kinh tế hoặc môi trường, vượt quá khả năng của cộng đồng
hoặc xã hội bị ảnh hưởng. sử dụng tài nguyên của chính nó (UNISDR Global
Assessment Report 2015).
Rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi
trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội [23].
Khái niệm Rủi ro thiên tai nhằm chỉ nguy cơ xảy ra các thiên tai hơn là mô tả
các sự kiện thiên tai thực tế. Như vậy, giảm nhẹ rủi ro thiên tai vừa là một mục tiêu
hoặc mục đích chính sách, vừa là các biện pháp chiến lược và công cụ được sử dụng
để dự đoán rủi ro thiên tai trong tương lai, giảm hiểm họa, mức độ bị tổn thương và
nâng cao khả năng chống chịu. Vấn đề quan trọng ở đây là cần phải hiểu rằng rủi ro
thiên tai không chỉ liên quan tới các mối đe dọa của các hiểm họa đối với vật chất.
Một hiểm họa có thể chỉ dẫn tới một thiên tai nếu dưới các tác động của hiểm họa
đó, một cá nhân và các hệ thống xã hội bị tác động dẫn tới tình trạng dễ bị tổn
thương và việc giảm thiểu rủi ro thiên tai là một khung khái niệm tập trung vào việc
giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn, chứ không phải quản lý hoặc tác động lên thảm họa.
1.2.3. Quản lý rủi ro thiên tai
Quản lý rủi ro thiên tai là một thuật ngữ mang tính tổng hợp bao hàm mọi
khía cạnh về xây dựng kế hoạch và ứng phó thiên tai, bao gồm các biện pháp công
trình đến biện pháp phi công trình và một loạt các hoạt động can thiệp có thể được