VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ TÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
HÀ NỘI, năm 2019
địa bàn tỉnh Hà Nam ............................................................................................. 52
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI
VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH
VIÊN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM ............................................................. 58
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả đối với quản lý nhà nước về giáo dục pháp
luật cho sinh viên từ thực tiễn tỉnh Hà Nam ......................................................... 58
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả đối với quản lý nhà nước về giáo dục pháp
luật cho sinh viên từ thực tiễn tỉnh Hà Nam ......................................................... 62
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 79
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDPL
: Giáo dục pháp luật
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HĐPH
: Hội đồng phối hợp
HĐPHPBGDPL
: Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật
chuẩn của sinh viên cũng có xu hướng ngày càng tăng khiến gia đình và xã hội lo
lắng, phổ biến như : vi phạm giao thông, đua xe trái phép, cờ bạc, rượu chè, quay
cóp bài…có lối sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động
và học tập. Những phẩm chất ấy là kết quả của giáo dục không đồng bộ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội; đồng thời cũng do trong thời gian khá dài, công tác
GDPL cho sinh viên còn hạn chế dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật trong giới trẻ
nói chung và sinh viên nói riêng có chiều hướng gia tăng. Một tỷ lệ không nhỏ sinh
viên còn hiểu về pháp luật một cách sơ sài, hời hợt. Nhiều sinh viên coi các môn học
pháp luật trong trường đại học, cao đẳng chỉ là môn phụ, thậm chí có những sinh viên
chưa phân biệt được hành vi hợp pháp với hành vi không hợp pháp giữa các loại vi
phạm pháp luật hành chính, dân sự, hình sự…dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật một
cách đáng tiếc.
Ngoài ra những hạn chế này còn do nhiều nguyên nhân tác động, thể hiện ở
việc nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác GDPL ở một số trường
chưa đúng mức, chương trình nội dung GDPL còn dàn trải chưa thống nhất giữa các
trường, hình thức và phương thức giáo dục còn chậm đổi mới, hoạt động giáo dục
ngoại khóa còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn, đội ngũ nhà giáo và cán bộ làm công tác
GDPL còn thiếu về số lượng, năng lực của một số cán bộ chưa đáp ứng được nhu cầu
trong công việc, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể GDPL còn chưa đồng bộ.
Vì vậy GDPL trong các nhà trường, đặc biệt trong các trường cao đẳng, đại
học là rất quan trọng, nó góp phần đào tạo nhân lực, hình thành một cách vững chắc
những thế hệ người lao động mới đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện tại và
tương lai. Do đó, Đảng và Chính phủ đã ra những nghị quyết, chỉ thị trong đó đã
khẳng định rằng để xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân cần đưa
việc GDPL vào các trường học, các cấp học, từ phổ thông đến đại học, trung học
1
chuyên nghiệp cùng toàn thể nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của
Nguyên nhân một phần là do công tác quản lý, chỉ đạo theo dõi đôn đốc, kiểm tra
chưa được sâu sát, kịp thời.
Thực tế hiện nay cho thấy, hoạt động QLNN về GDPL cho sinh viên trên cả
nước còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Hà
Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, là cửa ngõ phía Nam của Thủ
Đô, là nơi giao thông thuận lợi với hầu hết các tỉnh thành trong cả nước và đang là
nơi thu hút để xây dựng rất nhiều các trường cao đẳng, đại học. Hiện tại, trên địa
bàn tỉnh Hà Nam có gần mười trường cao đẳng, đại học đang hoạt động với khoảng
gần mười nghìn sinh viên không chỉ đến từ tỉnh Hà Nam mà còn rất nhiều tỉnh
thành khác trong cả nước. Ở lứa tuổi này, nhiều bạn sinh viên có khát khao, hoài
bão lớn nhưng cũng còn rất nhiều bạn có những hành vi lệch chuẩn do ảnh hưởng
của nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vì
vậy, nhu cầu GDPL cho sinh viên ngày một gia tăng. Trong khi đó, đội ngũ làm
công tác quản lý về giáo dục đào tạo cho sinh viên còn chưa đáp ứng yêu cầu, lúng
túng trong quản lý, điều hành. Đồng thời, cơ sở vật chất và kinh phí dành cho hoạt
động QLNN về GDPL cho sinh viên chưa được quan tâm đầu tư tương xứng với vị
trí và vai trò của công tác này.
Đứng trước yêu cầu mang tính cấp thiết nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: ―Quản lý
nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn tỉnh Hà Nam‖ để làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa cả về phương
diện lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về GDPL cho sinh viên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong khoa học pháp lý ở nước ta, vấn đề QLNN về GDPL được các chuyên
gia pháp luật, các nhà khoa học Việt Nam quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ,
mức độ khác nhau, cụ thể:
- Dưới góc độ nghiên cứu về GDPL cho các đối tượng khác nhau có các công
trình của các tác giả sau: Nguyễn Tất Viễn (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Đề tài cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà
Quốc gia Hà Nội [31]. Phạm Đức Hoài (2009), Quản lý nhà nước về PBGDPL
trong Bộ Quốc Phòng hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công. Bạch
Tú Anh (2010), Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học
công lập tại Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính. Phan Thị Cẩm Ly
(2013), Đổi mới quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học từ thực tiễn
Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia [28].
4
Bùi Thành Hùng (2017), Quản lý nhà nước về PBGDPL cho sinh viên người dân
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Luật học [23]. Dương
Hồng Nhung (2018), Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho học sinh phổ
thông từ thực tiễn tỉnh Bình Phước, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
[30]. Đỗ Xuân Lân, Quản lý nhà nước về Phổ biển, giáo dục pháp luật thực trạng
và giải pháp nâng cao hiệu quả, http://pbgdpl.moj.gov.vn, 21/2/ 2017 [27].
Các công trình khoa học trên đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về cơ sở lý
luận, thực tiễn QLNN, kinh nghiệm đối với công tác QLNN trên nhiều góc độ.
Nhưng có rất ít các công trình nghiên cứu QLNN về GDPL cho sinh viên. Đặc biệt,
chưa có công trình nào nghiên cứu về QLNN về GDPL cho sinh viên tại tỉnh Hà
Nam. Đó chính là lý do để học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Cung cấp những luận chứng khoa học để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp luật
của QLNN về GDPL cho sinh viên tại tỉnh Hà Nam. Đồng thời nghiên cứu thực
trạng QLNN về GDPL cho sinh viên tại tỉnh Hà Nam. Từ đó, đề xuất các quan điểm
và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về GDPL cho sinh viên tại tỉnh Hà Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật cơ bản của QLNN
về GDPL cho sinh viên.
đánh giá; Chương 3 sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá,
phương pháp tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận QLNN về GDPL cho sinh
viên. Qua đó, nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này,
góp phần ổn định chính trị tư tưởng, ý thức pháp luật, ngăn ngừa phòng chống
những hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong nhà trường.
Luận văn xác định các yêu cầu, quan điểm và một số giải pháp có tính khả
thi, có khả năng ứng dụng trong công tác QLNN về GDPL cho sinh viên trên địa
bàn tỉnh Hà Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những đề xuất của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc QLNN về
GDPL cho sinh viên tỉnh Hà Nam cũng như có giá trị tham khảo cho các địa
phương có điều kiện tương tự như tỉnh Hà Nam.
6
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên
cứu liên quan sau này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về giáo
dục pháp luật cho sinh viên
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh
viên tại tỉnh Hà Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn tỉnh Hà Nam.
thức hình thành ý thức pháp luật. Khái niệm GDPL có thể thấy là một dạng hoạt
động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực
tiễn áp dụng pháp luật [30].
8
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị tư
tưởng, đạo đức. Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng cho
nhân dân thì tự nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật, tức là nếu làm tốt công tác
giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ có được sự tôn trọng pháp luật của
công dân
- Quan niệm thứ hai cho rằng: không có khái niệm GDPL. Quan điểm này cho
rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi chủ thể có nghĩa vụ
phải tuân thủ pháp luật; do vậy, không cần đặt ra vấn đề GDPL nữa.
- Quan niệm thứ ba: đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến hay giải thích
pháp luật
- Quan niệm thứ tư: đồng nghĩa GDPL với dạy và học pháp luật ở các trường học,
còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là GDPL.
Trong quá trình phát triển của con người thì GDPL là một nội dung, một hoạt
động không thể thiếu. So sánh với tuyên truyền và phổ biến pháp luật thì GDPL có
tính toàn diện hơn. Tính toàn diện đó thể hiện ở chỗ GDPL vừa có tính định hướng
rõ ràng, vừa có tính hệ thống để bảo đảm đối tượng giáo dục được nâng cao cả về
kiến thức pháp luật, kỹ năng thực hiện pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật.
GDPL phải nhằm đạt tới sự hình thành ý thức tự giác trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về
pháp luật và các vấn đề liên quan [14]. Kết quả của GDPL không chỉ ở chỗ đối
tượng biết pháp luật quy định như thế nào mà còn hiểu vì sao lại quy định như vậy
để họ vận dụng pháp luật một cách chủ động, sáng tạo và chính xác.
Theo đó, GDPL là một phạm trù rộng lớn, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội,
của gia đình và nhà trường, trong đó vai trò định hướng, dẫn dắt bởi các nội dung
chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân
thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, lĩnh
vực mà mình được đào tạo [14]
1.1.1.2. Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giáo dục
Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức,
có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các
quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng quản lý”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý
10
chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công
cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Sự ra đời của nhà nước đã dẫn đến sự xuất hiện QLNN. QLNN phụ thuộc vào
chế độ lịch sử, chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia qua các giai đoạn lịch sử. Trong toàn bộ hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham
gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế,
các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội...Trong các chủ thể quản lý xã hội đó thì Nhà
nước là một chủ thể đặc biệt và QLNN có những điểm khác biệt sau:
Thứ nhất, chủ thể QLNN (theo nghĩa rộng) là các cơ quan, cá nhân trong bộ
máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ
quan tư pháp.
Thứ hai, đối tượng QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt
động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài quốc gia.
Thứ ba, QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao...
Thứ tư, QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật và
các chính sách của nhà nước để quản lý xã hội.
hội, nâng cao hiệu quả, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức và cá nhân
trong hoạt động GDPL cho đối tượng là sinh viên.
Trên cơ sở đó, có thề hiểu, QLNN về GDPL cho sinh viên là hoạt động của các
cơ quan QLNN (ban hành văn bản pháp luật, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật
về GDPL, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong GDPL...) nhằm bảo đảm hoạt
động GDPL cho sinh viên đạt được yêu cầu và mục đích đề ra.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên
QLNN về GDPL cho sinh viên trước hết là một hoạt động QLNN về giáo dục
vì vậy nó cũng có đầy đủ các đặc điểm chung, đó là: Thứ nhất, tính quyền lực nhà
nước trong hoạt động quản lý. Đây là đặc điểm nổi bật của QLNN ở mọi lĩnh vực
nói chung và QLNN về giáo dục nói riêng. Biểu hiện:1) Điều kiện để thực hiện
quản QLNN về giáo dục là chủ thể quản lý về giáo dục phải có thẩm quyền và thẩm
quyền đó phải được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật; 2)
Phương tiện QLNN về giáo dục là các văn bản pháp luật; 3)Trong QLNN phải tuân
thủ thứ bậc chặt chẽ theo sự phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh phục tùng, tập trung dân
chủ tức là cơ quan QLNN về giáo dục cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cấp địa
12
phương phải phục tùng cấp Trung ương. Bên cạnh đó các cấp QLNN về giáo dục
vẫn phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Thứ hai, kết hợp quản lý hành chính và
quản lý chuyên môn trong các hoạt động QLNN về giáo dục. Đặc điểm này thực
chất là để triển khai chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do nhà nước quy định, các cơ
quan, tổ chức thay mặt nhà nước để triển khai sự nghiệp giáo dục và điều hành, điều
chỉnh các hoạt động giáo dục. Đây là đặc điểm quan trọng nhất trong hoạt động
QLNN về giáo dục nhằm đảm bảo việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước
trở nên thống nhất và có hiệu quả cao, nói cách khác đó cách “hành chính hóa” các
hoạt động chuyên môn. Thứ ba, kết hợp Nhà nước – xã hội trong quá trình triển
khai QLNN về giáo dục. Giáo dục đào tạo là hoạt động mang tính xã hội cao. Đảng
nâng cao hiệu lực và hiệu quả QLNN trong quản lý xã hội và quản lý sinh viên.
Như vậy, từ đặc điểm và mục đích của việc GDPL cho sinh viên ta thấy GDPL
cho sinh viên tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường QLNN
bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình QLNN,
quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực,
chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý. GDPL cho sinh viên là sự tác
động có định hướng, có tổ chức nhằm hình thành tri thức, tình cảm và hành vi phù
hợp với quy định của pháp luật cho sinh viên để họ tự giác tuân thủ, thi hành pháp
luật, nâng cao ý thức pháp luật cho bản thân. Việc GDPL đó được thực hiện thông
qua hoạt động dạy và học pháp luật (cả chính khóa và ngoại khóa) trong các trường
đại học, cao đẳng nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, góp phần hình thành và bồi dưỡng ý thức công dân, sống
và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Thứ 2, hoạt động QLNN về GDPL cho sinh viên mang tính quyền lực nhà nước
Nhà nước là bộ phận trung tâm của hệ thống chính trị, nhà nước là chủ thể duy
nhất nắm giữ quyền QLNN trên toàn xã hội. GDPL đối với sinh viên là một hoạt
động quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của toàn dân, vì vậy để hoạt động GDPL
đi theo đúng định hướng, đạt mục đích và hiệu quả cao nhất đòi hỏi phải có sự quản
lý sát sao của nhà nước. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, xuất phát từ đối tượng chịu sự
quản lý của hoạt động GDPL là sinh viên sẽ có những khác biệt so với các đối
tượng khác như học sinh, người khuyết tật, phụ nữ... Vì vậy, cách thức quản lý về
GDPL đối với sinh viên cũng khác so với những đối tượng nêu trên. Hoạt động
QLNN về GDPL cho sinh viên diễn ra ở các cơ quan QLNN từ trung ương đến địa
14
phương. Nhà nước sẽ sử dụng quyền lực nhà nước để đảm bảo việc thực hiện công
tác QLNN về GDPL đi vào thực tiễn. Vì vậy, hoạt động QLNN về GDPL cho mọi
Pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất cho nhà nước quản lý mọi mặt đời sống
xã hội, nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp luật và pháp luật không thể phát huy
hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của bộ máy nhà nước. Sinh viên là một
tầng lớp trẻ tuổi đang trong quá trình học tập và rèn luyện, họ chưa có những tư
tưởng, quan niệm về các hiện tượng trong đời sống xã hội lại dễ chịu tác động ảnh
hưởng trực tiếp của môi trường xã hội, vì vậy cần phải có “cái khung pháp lý” để
họ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp, từ đó nâng cao được hiệu lực QLNN
đối với sinh viên.
Hiệu lực và hiệu quả trong quản lý sinh viên thể hiện ở việc: nhờ hệ thống
pháp luật đồng bộ và hoàn chỉnh cùng với sự QLNN về GDPL giúp cho sinh viên
có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề
cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và
quyền tự do của mỗi sinh viên. QLNN về GDPL cho sinh viên (đặc biệt ở các
tỉnh lẻ) tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường QLNN bằng
pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình QLNN,
quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực,
chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình QLNN về GDPL cho sinh viên tại địa
phương. QLNN về GDPL đối với sinh viên phải nhằm tạo lập một hệ thống pháp
luật đồng bộ, hoàn chỉnh, điều tiết được, quản lý được hệ thống cơ sở giáo dục,
đặc biệt ngăn ngừa và xử lý những tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, vi phạm
pháp luật của sinh viên, những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho
mọi hoạt động GDPL được đảm bảo, với tinh thần “tất cả vì con người” - một
trong những mục tiêu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam hướng tới.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.1.3.1. Góp phần triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
về giáo dục pháp luật
QLNN về GDPL cho sinh viên luôn là phương tiện để triển khai thực hiện chủ
cho sinh viên.
Hoạt động GDPL cho sinh viên muốn đạt hiệu quả cao thì phải cần sự chung
tay góp sức của rất nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống xã hội, sự phối hợp của cả
gia đình, nhà trường và xã hội. Chỉ có QLNN mới bảo đảm được tổ chức và phối
hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức đó trong hoạt động này. Nhà nước bằng việc
tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về GDPL cho sinh viên, sử dụng bộ
17
máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật.., đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để
thực hiện những vấn đề QLNN, nhằm đưa chính sách phù hợp QLNN về GDPL cho
sinh viên vào thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện. Hình thành cơ chế phối
hợp hữu hiệu giữa cơ quan QLNN về GDPL cho sinh viên với các cấp trong hệ
thống tổ chức của Trung ương và cấp chính quyền địa phương. Tổ chức và quản lý
công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ báo cáo viên,
tuyên truyền viên pháp luật, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục phục vụ cho công
tác QLNN về GDPL cho sinh viên được tốt nhất.
1.1.3.4. Bảo đảm phát triển vững chắc sự nghiệp giáo dục và đào tạo, xây dựng ý
thức pháp luật cho thế hệ trẻ, tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước,
góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực hiện tốt công tác QLNN về GDPL cho sinh viên sẽ là cơ sở để phát triển
vững chắc sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung, giáo dục và đào tạo cho sinh viên
nói riêng. Hơn bao giờ hết, sự nghiệp giáo dục và đào tạo rất cần vai trò quản lý của
nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực GDPL đối với sinh viên. Ý thức pháp luật của
sinh viên được hình thành từ hai yếu tố: tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật.
Khi công tác GDPL được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục
lúc đó ý thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên sẽ được nâng cao. GDPL
góp phần củng cố những tri thức pháp luật được học trong nhà trường, bồi dưỡng
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước; chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết,
nghị định, chương trình công tác của Chính phủ.
- Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Hiến pháp và
pháp luật; bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và các nguồn lực khác để
thi hành Hiến pháp và pháp luật; thống nhất quản lý công tác hành chính tư pháp,
bổ trợ tư pháp, bồi thường nhà nước, thi hành án.
- Tổng hợp đánh giá tình hình thi hành Hiến pháp, pháp luật và báo cáo với
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước theo quy định của pháp luật.
1.2.1.2. Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về GDPL cho
sinh viên; chủ trì xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình, kế
hoạch dài hạn, trung hạn về GDPL cho sinh viên; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu
19
quốc gia về pháp luật cho sinh viên.
Khoản 12 Điều 2 Nghị định 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 quy định về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Bộ Tư pháp nêu rõ nhiệm vụ,
quyền hạn của Bộ Tư pháp trong lĩnh vực PBGDPL cho sinh viên gồm:
- Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác PBGDPL cho sinh viên;
- Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực HĐPHPBGDPL ở TW;
- Công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật theo quy định pháp luật;
- Hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở xã, phường,
thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và trường học.
1.2.1.3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện QLNN về
GDPL cho sinh viên. Cụ thể: