ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH
BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỐI VỚI CHỦ ĐỀ
ĐẠO HÀM VÀ ỨNG DỤNG TRONG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học
(Bộ môn Toán học)
Mã số: 60 14 10
HÀ NỘI – 2013
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH
BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỐI VỚI CHỦ ĐỀ
ĐẠO HÀM VÀ ỨNG DỤNG TRONG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(Bộ môn Toán học)
Xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, Ngày 02tháng.12năm..2013
Tác giả
Chu Thị Hương
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1. BCH
Ban chấp hành
2. ĐC
Đối chứng
3. ĐS
Đáp số
4. ĐH – CĐ
Đại học – Cao đẳng
Trung học phổ thông
13. TN
Thực nghiệm
14. SGK
Sách giáo khoa
15. VD
Ví dụ
iv
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Danh mục chữ viết tắt ....................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1:CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN........................................... 5
1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì? ......................................................... 5
1.1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ............................................ 5
1.1.2. Vì sao phải dạy học tích cực? ................................................................. 7
1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực ................................................................ 8
1.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực .......................................... 10
1.2.1. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh .......... 10
1.2.2. Dạy học chú trọng bồi dưỡng, phát triển năng lực tự học cho học sinh11
3.3.2. Nội dung và tổ chức thực nghiệm ......................................................... 86
3.4. Kết quả dạy thực nghiệm ....................................................................... 104
Đánh giá và phân tích kết quả thực nghiệm .................................................. 107
3.5.1. Nhận xét của giáo viên qua tiết dạy thực nghiệm ............................... 107
3.5.2. Ý kiến của học sinh về giờ dạy thực nghiệm ...................................... 107
3.3.3. Những đánh giá từ kết quả bài kiểm tra .............................................. 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.............................................................103
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 110
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo hàm và ứng dụng của Đạo hàm là một mảng kiến thức vô cùng
quan trọng trong toán học, nhờ có Đạo hàm mà rất nhiều những bài toán
khó đã được giải quyết một cách đơn giản, thông qua đạo hàm mà trong
vật lý có thể tính được gia tốc của một chuyển động phức tạp, trong hóa
học có thể đưa ra những thông số phản ứng chính xác,...Vậy có thể nói
Đạo hàm với ứng dụng của nó không chỉ quan trọng trong toán học mà nó
rất cần thiết cho cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta. Khi chúng ta
học ở bậc phổ thông là nơi đầu tiên chúng ta làm quen với khái niệm Đạo
hàm và một số ứng dụng của đạo hàm, càng học lên cao công cụ Đạo hàm
càng trở nên quen thuộc với ta, hay nói cách khác những kiến thức này còn
rất cần thiết để học ở các cấp bậc cao hơn. Do đó việc giảng dạy ở phổ
thông sao cho học sinh chủ động, tích cực lĩnh hội phần kiến thức này là
thực sự cần thiết.
Như chúng ta đã biết do sự phát triển như vũ bão của khoa học và biến
đổi cách mạng trong đời sống của con người. Xây dựng nền kinh tế tri
thức, tiến tới xã hội tri thức, đang là chủ đề quan trọng trong các chương
một số phương pháp dạy học tích cực, họ đã và đang áp dụng chúng vào
một số những bài giảng của mình. Bản thân tôilà một giáo viên Trung học
phổ thông cũng rất muốn học hỏi, tiếp cận và xây dựng cho mình những
giáo án, những tình huống dạy học mang phong cách của phương pháp dạy
học tích cực. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài:
“Phát triển năng lực toán học của học sinh bằng phương pháp dạy
học tích cực đối với chủ đề Đạo hàm và ứng dụng trong Trường trung
học phổ thông”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đạo hàm và ứng dụng của Đạo hàm trước đây là kiến thức chỉ giảng
dạy ở lớp 12 của bậc trung học phổ thông, nhưng giờ trong sách giáo khoa
lớp 11 cũng đã được đưa vào.Đây là phần kiến thức rất hay và rất cần
thiết đối với học sinh vì luôn luôn xuất hiện ở các kỳ thi cao đẳng và đại
2
học. Tuy nhiên các sách tham khảo hiện nay chỉ chú trọng đến việc tạo cho
học sinh thói quen là ghi nhớ cách giải từ hệ thống bài tập. Giáo viên
thường chỉ thông báo kiến thức đến học sinh nên chưa thực sự lôi cuốn,
thu hút được sự thích thú của học sinh mà chỉ làm cho học sinh cố học để
thi cao đẳng và đại học, chưa phát huy được năng lực học tập tích cực, chủ
động sáng tạo của học sinh. Vài năm gần đây cũng đã có sự để ý thay đổi
phương pháp trong dạy học nhưng còn chưa rõ ràng và thường xuyên. Do
vậy cũng đã có một số công trình nghiên cứu gần gũi với đề tài này. Nhưng
chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu “Phát triển năng
lực toán học của học sinh bằng phương pháp dạy học tích cực đối với
chủ đề Đạo hàm và ứng dụng trong Trường trung học phổ thông”. Với
lý do đó tôi đã chọn đề tài này với mong muốn sẽ lôi cuốn được học sinh
trong việc giảng dạy Đạo hàm và ứng dụng của Đạo hàm.
dụng của Đạo hàm ở trường trung học phổ thông.
- Phỏng vấn giáo viên về việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực
trong việc dạy toán nói chung và dạy Đạo hàm và ứng dụng của Đạo hàm
nói riêng cùng kết quả đạt được.
- Tìm hiểu và nghiên cứu sâu về các sách, báo, tài liệu về Đạo hàm và
ứng dụng của Đạo hàm cùng các phương pháp dạy học tích cực của học
sinh.
9. Luận cứ
9.1. Luận cứ lý thuyết
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học tự học.
- Phương pháp dạy học hợp tác nhóm.
9.2. Luận cứ thực tiễn
Kết quả thực nghiệm về năng lực toán học của học sinh trong việc giải
bài tập về Đạo hàm và ứng dụng của Đạo hàm mà không sử dụng một số
phương pháp dạy học tích cực đã nêu ở trên.
10.Cấu trúc luận văn
4
Ngoài phần mở đầu , kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Phát triển năng lực toán học của học sinh bằng
phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy Đạo hàm và ứng dụng
của Đạo hàm trong chương trình trung học phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
CHƯƠNG 1
học nhất là các nhà sư phạm từ lâu đã tâm đắc và tâm niệm một lời cảnh báo
mạnh mẽ của viện sĩ Kapitxa cho rằng vấn đề thông minh sáng tạo của tuổi trẻ
không kém phần quan trọng so với vấn đề vũ khí hạt nhân và chiến tranh hòa
bình. Mikhancop, Viện sĩ liên xô trước đây cũng đã nhắc nhở nhà trường rằng
: “ Điều quan trọng không phải là dạy cái gì mà là dạy như thế nào. Diện mạo
tinh thần của một đất nước ra sao tùy thuộc vào việc nhà trường giảng dạy
như thế nào”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ những năm 60 của thế kỷ 20 đã
nhiều lần căn dặn thầy giáo phải : “ Gõ vào trí thông minh”, của học sinh, là
cần “ ... đào tạo học sinh thành những thế hệ thông minh sáng tạo”. Phương
pháp dạy học tích cực phát triển từ rất lâu, tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới
giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển, năng
6
động và sáng tạo thì các phương pháp này ngày càng được các cấp quản lý
giáo dục đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay chủ yếu chống kiểu: “ thầy giảng, trò ghi”. Làm như thế là rất cứng
nhắc, hiệu quả dạy học bị hạn chế, bới chúng ta biết không phải trong từng
bài giảng người dạy phải luôn theo phương pháp gợi mở trao đổi hai chiều với
người học, dẫn dắt họ để cho họ tham gia phát hiện, tìm ra kiến thức mới. Vì
chương trình của chúng ta vốn dĩ eo hẹp về thời gian, hay việc quá lạm dụng
phương tiện dạy học hiện đại như Over head, powerpoint, ... Vấn đề quan
trọng “ Không phải là đưa chân lý đến cho học sinh mà là làm thế nào để lúc
nào học sinh cũng có thể biết đến cách tìm đến chân lý”.( J.J.Rousseau). Vì
vậy việc học “độc thoại hay gợi mở, quy nạp hay suy diễn thì tùy vấn đề và
đối tượng” (Hoàng Tụy) mà thực hiện.
Như vậy việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ
thông thực chất là: Về phía Giáo viên phải định hướng được rằng: người thầy
không còn là người truyền đạt kiến thức một chiều nữa mà trở thành người tổ
chức, hướng dẫn học sinh thu nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực, hỗ
Để có được nguồn nhân lực nói trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới
Giáo dục, trong đó có đổi mới nội dung Giáo dục, đổi mới mục tiêu Giáo dục,
đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng Giáo dục đã nêu trên.
1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực
Cho đến nay, ở nước ta vẫn còn có những ý kiến khác nhau về phương
pháp dạy – học và cũng không phải đã hết ý kiến về việc có nên áp dụng
phương pháp dạy- học tích cực hay không? Khái quát lại có ba loại ý kiến như
sau:
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, trong điều kiện hiện nay, do hạn chế về thời
gian, hạn chế về nhận thức(Thầy giỏi về chuyên môn sẽ dạy giỏi; cái mà thầy
dạy chỉ là nội dung; mục tiêu học tập chủ yếu là kiến thức); hạn chế về điều
kiện cơ sở vật chất- kỹ thuật và chưa có cơ chế chính sách tạo động lực... nên
thuyết giảng vẫn là phương pháp của các phương pháp. Thuyết giảng- phương
pháp thầy truyền thụ, giảng giải để trò nghe rõ, ghi đầy đủ, khi thi có tư liệu
trả bài theo thầy, vẫn là phương pháp cơ bản nhất.
8
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chỉ nên áp dụng phương pháp dạy học mới
trong điều kiện cho phép, chưa phải lúc tiến hành cuộc cách mạng về phương
pháp. Do quá quen với phương pháp truyền thống, nên không dễ gì thay đổi
được. Bởi vậy chỉ cần cải tiến chính phương pháp thuyết giảng là đủ.
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng, trong thời đại công nghệ thông tin, toàn cầu
hoá, lượng tri thức mà nhân loại sáng tạo ra mỗi ngày một tăng theo cấp số
nhân và càng chuyên sâu, nếu không có phương pháp tư duy mới sẽ không có
khả năng tiếp nhận chưa nói gì sáng tạo ra tri thức mới. Hơn nữa kỹ thuật trợ
giảng ngày càng hiện đại, người thầy, nói đúng hơn sự nghiệp Giáo dục và
Đào tạo không thể đứng ngoài với xu thế chung. Để thích ứng với yêu cầu của
thời đại (thực ra từ thời cổ đại đã có), đòi hỏi cần phải đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của cả thầy và
phương pháp khơi dạy, phát huy tính chủ động, sáng tạo và tích cực của cả
người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung tâm trên cơ sở
phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy, vai trò thực hiện,thi
công của trò và sức mạnh của các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm chinh
phục chân lý trên cả ba phương diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ.
1.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
1.2.1. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp tích cực, người học, đối tượng của hoạt động dạy,
đồng thời là chủ thể của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học
tập do Giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, tự lực khám phá những
điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những trí thức đã
được Giáo viên sắp đặt ra theo cách suy nghĩ của mình. Từ đó, vừa nắm được
kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng
đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo.
Dạy theo cách này thì Giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt tri
thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình hành động của cộng đồng.
10
1.2.2. Dạy học chú trọng bồi dưỡng, phát triển năng lực tự học cho học
sinh
Chúng ta đều biết rằng xã hội không ngừng biến đổi và ngày càng phát
triển. Cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải mở rộng sự hiểu biết. Không có
một trường học nào có thể cung cấp cho con người ta tất cả tri thức để có thể
làm việc suốt đời. Để thực hiện một hoạt động đạt hiệu quả, không phải lúc
nào cũng chỉ có tái hiện tri thức có sẵn, sử dụng những kỹ năng sẵn có, mà
còn cần những tri thức mới, kĩ năng mới, nên cần phải biết tự học. Qúa trình
sống và quá trình hoạt động của con người là quá trình con người dần dần
con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong
học tập, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định, hay bác bỏ.Qua đó
người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu
biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa
trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo.
1.2.4. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều
kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây,
mọi người vẫn thường hay có quan niệm Giáo viên có độc quyền đánh giá học
sinh .Nhưng trong phương pháp tích cực, Giáo viên phải hướng dẫn học sinh
tự đánh giá để điều chỉnh cách học. Liên quan đến điều này, Giáo viên cần tạo
thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và
điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc
sống mà mỗi thầy cô cũng như nhà trường phải trang bị cho học sinh. Với
phương pháp này, Giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học
tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của
chương trình. Ở trên lớp, với phương pháp tích cực này thì học sinh hoạt động
là chính. Song khi soạn giáo án Giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian
rất nhiều so với kiểu dạy học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với
12
vai trò là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt
động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh.
1.3. Một số phương pháp dạy học tích cực cần thiết ở trường THPT
1.3.1. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
Như chúng ta đã biết triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng: mâu
tổ chức cho trò học tập trong hoạt động và bằng hoạt động do thầy tạo ra
những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện ra vấn đề, nhưng
vấn đề này có liên hệ với nhứng tri thức đã biết, khiến cho học sinh thấy triển
vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ. Thông qua đó mà kiến tạo tri
thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác. Nếu theo
cách hiểu như trên thì ta cần làm rõ hai ý: vấn đề là gì ? và tình huống gợi vấn
đề là gì ?
Ở đây chúng ta chỉ cần bàn đến vấn đề trong dạy học toán. “ Vấn đề”
trong dạy học toán là những câu hỏi, bài tập, các yêu cầu hành động, các bài
toán thực tế do GV biên soạn nhằm đạt mục tiêu giảng dạy đề ra. Các câu hỏi,
bài tập đó học sinh phải chưa thực hiện được vì chưa có quy tắc và phương
pháp mang tính thuật toán để giải quyết.
Tình huống gợi vấn đề làm một tình huống gợi ra cho học sinh những
khó khăn về mặt lí luận hay thực tế mà học thấy cần thiết và có khả năng vượt
qua, nhưng không phải ngay tức khắc mà nhờ một thuật giải mà phải trải qua
một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoặc điều
chỉnh kiến thức sẵn có. Như vậy một tình huống gợi vấn đề phải thỏa mãn các
điều kiện sau:
- Tồn tại một vấn đề, tức tình huống bộc lộ mâu thuẫn giữa thực tế với trình
độ nhận thức, chủ thể phải ý thức được một khó khăn trong tư duy hoặc hành
động mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ để vượt qua.
- Gợi nhu cầu nhận thức, tức tình huống đó phải bộc lộ được những khiếm
khuyết về kiến thức và kĩ năng của học sinh để họ càm thấy cần thiết phải bổ
sung, hoàn thiện tri thức.
- Khơi gợi niềm tin ở khả năng bản thân. Một tình huống tuy có vấn đề và
nhu cầu nhận thức ở học sinh nhưng nếu họ cảm thấy vấn đề quá khó không
14
thể vượt qua với khả năng của họ thì họ cũng không sẵn sàng tham gia giải
Mức 1: Giáo viên nêu vấn đề và cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của Giáo viên. Giáo viên đánh giá kết
quả làm việc của học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề.
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của Giáo viên khi
cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát
hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải
pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng
đánh giá.
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự
đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.
Trong dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, học sinh
vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó,
phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với
đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
1.3.2. Phương pháp dạy học tự học
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự
bùng nổ thông tin của xã hội hiện đại thì việc dạy phương pháp tự học là thực
sự cần thiết, mỗi người cần phải biết tự học suốt đời, biết rèn luyện khả năng
tìm tòi, khám phá và sáng tạo tri thức mới không ngừng. Chính vì thế, việc
dạy học cho học sinh cách tự học ngay khi các em còn đang ngồi trên ghế nhà
trường phổ thông là vấn đề quan trọng trong Giáo dục thời đại hiện nay; bởi
tự học là một hoạt động có ý thức luôn luôn tự nạp năng lượng trí tuệ cho bản
thân. Theo Bùi Văn NGhị [13,tr.17-20]: Rèn luyện phương pháp học tập cho
học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một
mục tiêu dạy học.
mạng không kém gì văn chương nghệ thuật, đồng thời còn là công cụ để học
tốt các môn học khác. Nói về tầm quan trọng của toán học với việc phát triển
17
tư duy và cuộc sống của con người, hơn 2500 trước, Pitago- nhà Triết học
kiêm Toán học cổ đại Hy Lạp đã dự báo: “ các con số sẽ điều khiển thế giới”.
Vì vậy việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh phổ thông không chỉ có ý
nghĩa trước mắt mà còn có tính quyết định về việc cải tạo chất lượng tư duy
cho thế hệ trẻ nước nhà hôm nay và mai sau.
Thời gian học sinh học tập ở trường là khá ít, chủ yếu là các em phải tự
học tập ở nhà, ở ngoài xã hội. Các em phải tự ôn tập lại kiến thức ở mức độ
sâu hơn, phải tự đọc sách tham khảo để bổ sung kiến thức. Do đó việc Giáo
viên phải hướng dẫn cho các em việc tự học là thực sự cần thiết. Để rèn luyện
phương pháp tự học cho học sinh thì cần phải có những hoạt động sau:
- Xác định rõ mục tiêu: Đọc một nội dung nào đó để nắm được những vấn đề
gì? Trả lời được những câu hỏi như thế nào?
- Hoạt động làm mẫu: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách đọc, cách
suy luận, cách ghi chép một vấn đề nào đó trên lớp cho học sinh theo dõi.
- Rèn các kỹ năng: Tổng kết bài toán, đào sâu suy nghĩ, ghi chép vấn đề quan
trọng sau khi đọc...
1.3.3. Phương pháp dạy học hợp tác nhóm
Từ xa xưa trong dân gian ta đã có câu “ học thầy không tày học bạn”,
nói lên vai trò của việc học hợp tác. Không có ai học một cách hoàn toàn đơn
độc, mà phải học trong sự giao lưu, tương tác giữa kiến thức và những mối
quan hệ xã hội.
Tại Mĩ, trong ba thập niên cuối thế kỉ XIX, Francis Parker đã nhấn
mạnh rằng trẻ em có bản chất là những người hợp tác. Ông tin rằng niềm vui
lớn nhất, sau đó mới đến sự phát hiện ra “ chân lý”, cùng nhau chia sẻ sự thật
với các bạn trong lớp và cái thúc đẩy mạnh mẽ việc học tập cũng như các
Việc vận dụng quan điểm dạy học hợp tác này vào trong dạy học được
gọi là phương pháp dạy học hợp tác. Ở đây tôi đề cập đến phương pháp dạy
học hợp tác theo nhóm trên cơ sở quan điểm trên. Có thể định nghĩa như sau:
''Dạy học hợp tác theo nhóm là phương pháp dạy học trong đó Giáo viên sắp
xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp
19