I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
THNH TH QUYấN
CHứNG THựC CủA Uỷ BAN NHÂN DÂN CấP Xã
- QUA THựC TIễN HUYệN ĐÔNG ANH, TP Hà NộI
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
THNH TH QUYấN
CHứNG THựC CủA Uỷ BAN NHÂN DÂN CấP Xã
- QUA THựC TIễN HUYệN ĐÔNG ANH, tP Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 60 38 01 02
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NG MINH TUN
H NI - 2016
Khái niệm và đặc điểm chứng thực ...............................................................9
1.1.2.
Nội dung và chủ thể thực hiện chứng thực ..................................................15
1.1.3.
Phân loại hoạt động chứng thực ...................................................................16
1.1.4.
Yêu cầu của hoạt động chứng thực ..............................................................18
1.1.5.
Phân biệt hoạt động chứng thực với hoạt động công chứng ........................19
1.2.
Chứng thực của UBND cấp xã ..................................................................22
1.2.1.
Khái niệm và đặc điểm.................................................................................22
1.2.2.
Thẩm quyền và trách nhiệm .........................................................................23
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986 .........................................................37
2.1.2.
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1999 .........................................................38
2.1.3.
Giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 3 năm 2015 ............................................39
2.1.4.
Giai đoạn từ tháng 4 năm 2015 đến nay ......................................................42
2.2.
Thực trạng pháp luật hiện hành về chứng thực của UBND cấp xã ......44
2.2.1.
Những ưu điểm ............................................................................................45
2.2.2.
Những hạn chế .............................................................................................51
2.3.
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC THỰC TIỄN
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH................... 69
3.1.
Quan điểm hoàn thiện................................................................................69
3.1.1.
Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về chứng thực ......................................69
3.1.2.
Xác định mục tiêu quản lý nhà nước về chứng thực....................................74
3.2.
Giải pháp hoàn thiện..................................................................................78
3.2.1.
Hoàn thiện pháp luật về chứng thực ............................................................78
3.2.2.
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chứng thực trên địa
bàn huyện Đông Anh ...................................................................................83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..........................................................................................91
KẾT LUẬN ..............................................................................................................92
Nhân dân rất quan trọng, Nhân dân thực sự là người làm chủ vận mệnh của đất
nước. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 cũng qui định: Nhà nước tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên
chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch cửa quyền [54, Điều 8].
Như vậy, trong bất kỳ lĩnh vực nào pháp luật cũng là công cụ phổ biến và hữu hiệu
nhất để Nhà nước quản lý xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước và
hoạt động chứng thực cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về chứng thực của cá nhân, tổ chức ngày
càng cao. Trước đây hoạt động công chứng, chứng thực được thực hiện hầu hết ở các
Phòng công chứng nhà nước, các Văn phòng công chứng tư nhân, Phòng tư pháp cấp
huyện dẫn đến tình trạng các cơ quan này thường xuyên quá tải và có nhiều bất cập
đối với cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu công chứng, chứng thực. Ngày nay, việc công
chứng, chứng thực được mở rộng phạm vi hoạt động. Theo đó, các cơ quan đại diện,
các Phòng công chứng Nhà nước, các văn phòng công chứng tư nhân, Phòng tư pháp
cấp huyện, Ủy ban nhân dân (UBND) xã cùng tham gia lĩnh vực này. Song các quy
định của pháp luật về chứng thực cũng có phân định rất rõ ràng thẩm quyền của từng
chủ thể thực hiện lĩnh vực này. Mốc quan trọng đánh dấu sự phân chia thẩm quyền và
1
tách bạch hoạt động công chứng và chứng thực là sự ra đời của Luật công chứng năm
2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ- CP ngày 18/5/2007 của Chính Phủ; tiếp đến là
Luật công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ- CP ngày 16/02/2015 của
Chính phủ về cấp bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ- CP
ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản
- Thời gian giải quyết chứng thực ngay trong buổi làm việc gây nhiều khó
khăn cho cán bộ chuyên môn làm công tác chứng thực
- Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác chứng thực chưa được quan
tâm đúng mức.
Tồn tại hạn chế này xuất phát từ nguyên nhân chưa có đạo luật chuyên ngành
điều chỉnh hoạt động chứng thực (chưa có Luật chứng thực).
Đông Anh là một huyện ngoại thành của thành phố Hà nội, là một trong
những huyện nằm trong quy hoạch của thành phố Hà nội nên tốc độ phát triển về
văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội rất mạnh. Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập
kinh tế quốc tế với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền thì hoạt động chứng
thực luôn được quan tâm để phục vụ các giao dịch của cá nhân, tổ chức khi tham
gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự chính trị, văn hóa. Việc nghiên cứu hoạt động
Chứng thực của UBND cấp xã - qua thực tiễn huyện Đông Anh thành phố Hà Nội
là một nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn. Với
nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hoạt động chứng thực trong việc thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, đáp ứng được yêu cầu của Đảng, Nhà nước trong công cuộc cải
cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, tôi
chọn đề tài “Chứng thực thực của UBND cấp xã - qua thực tiễn huyện Đông
Anh, TP Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật điều chỉnh hoạt động chứng thực và thực tiễn áp dụng các văn bản đó.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chứng thực của UBND cấp xã nói chung và
trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng. Từ đó luận văn đưa ra được những thành
tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại hạn chế về chứng thực
của UBND cấp xã nói chung và thực tiễn trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng.
3
4
xã trên các mặt xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về chứng thực,
theo dõi thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật chứng thực.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về hoạt động chứng thực của UBND cấp xã- qua thực
tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; việc thi hành pháp luật và theo dõi thi
hành pháp Luật về chứng thực, thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã;
Tổng quan tài liệu
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động chứng thực, đã có rất nhiều
công trình nghiên về chứng thực nói chung và quản lý Nhà nước về chứng thực nói
riêng. Cho đến nay đã có những bài viết, bình luận, luận văn về hoạt động chứng
thực được công bố như sau:
Nguyễn Thùy Dung (2014), “Quản lý Nhà nước về chứng thực- qua thực
tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ;
Đặng Văn Khanh (2000), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác
định phạm vi, nội dung hành vi công chứng, chứng thực và giá trị pháp lý của văn
bản công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay, Luận văn Tiến sỹ.
Chu Thị Tuyết Lan (2012), “Quản lý nhà nước về chứng thực, thực trạng và
phương hướng đổi mới”, Luận văn Thạc sỹ;
Ths. Đặng Văn Trường (2010),“Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở
nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, 2010, Số 168;
Ngô Sỹ Trung (2010),“Nghị định 79/2007/NĐ-CP - Một bước tiến trong cải
cách hoạt động chứng thực nước ta”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 2010, Số 3;
Ngoài ra, còn một số bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, Tạp chí tổ chức Nhà nước,...
Các công trình nghiên cứu, luận văn, bài viết trên đã đưa ra một cách đầy đủ
nhất về cơ sở lý luận về hoạt động chứng thực cũng như hoạt động quản lý nhà
tích được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của Luận văn để giải quyết
những vấn đề mang tính lý luận như khái niệm, đặc điểm của hoạt động chứng
thực, quản lý Nhà nước về chứng thực, đánh giá thực trạng của pháp luật về chứng
thực và quản lý Nhà nước về chứng thực. Phương pháp chứng minh, thống kê
được sử dụng thông qua việc đưa ra các thông tin, số liệu và các ví dụ thực tế có
tính chất điển hình để minh chứng cho nhận định, đánh giá của tác giả. Phương
pháp so sánh cũng được sử dụng ở cả phần lý luận khi dẫn chiếu các quy định của
6
hệ thống pháp luật và thực trạng pháp luật khi đối chiếu với các quy định của pháp
luật về cùng vấn đề ở các văn bản quy định về chứng thực hoặc thực tiễn áp dụng
thi hành hoạt động chứng thực.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động chứng thực và hoạt động quản lý Nhà
nước về chứng thực của UBND cấp xã trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Đông Anh là một Huyện ngoại thành, ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô
Hà Nội, nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du
lịch đã được Chính phủ và Thành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng
nối Thủ Đô Hà Nội với các Tỉnh phía Bắc.
- Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó: Đất nông nghiệp 9.785 ha.
Huyện có 23 xã, 1 thị trấn; 156 thôn, làng và 62 tổ dân phố; Đến nay Huyện có 85
làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố; Dân số trên 331.000
người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11%.
- Có 33,3 km đường sông (sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ) và 20 km
sông nội Huyện (sông Thiếp – Ngũ Huyện khê)
- Có 33 km đường sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội đi Lào Cai; Hà Nội Thái Nguyên và có đường QL3, quốc lộ Thăng Long - Nội Bài, QL 23.
- Về Công nghiệp Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: Khu công nghiệp
Đông Anh và khu công nghiệp Thăng Long. Ngoài ra, trên địa bàn Huyện còn có
4. Bố cục của Luận văn gồm
Ngoài phần mục lục, mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chứng thực của UBND cấp xã.
Chương 2: Thực trạng hoạt động chứng thực của UBND cấp xã- qua thực
tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Chương 3: quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và thực thi
pháp luật về chứng thực của UBND cấp xã.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG THỰC
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ
1.1. Những vấn đề chung về chứng thực
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chứng thực
1.1.1.1. Khái niệm chứng thực
Để hiểu được khái niệm pháp luật về chứng thực, trước hết, cần làm rõ khái
niệm “chứng thực”. “Chứng thực” là một thuật ngữ khá phức tạp, cần được tìm hiểu
dưới góc độ ngôn ngữ học và dưới góc độ khoa học pháp lý và quản lý. Do vậy, cần
phải so sánh, tìm hiểu các quan niệm khác nhau về chứng thực ở trong nước cũng
như những khái niệm tương ứng của khoa học pháp lý nước ngoài.
Về khía cạnh ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb
Đà Nẵng năm 1997 có một số định nghĩa có liên quan đến chứng thực, sao: “Sao.
Chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản gốc (thường nói về giấy tờ hành
chính). Sao đúng nguyên văn một tài liệu. Sao y bản chính. Bản sao” [81, tr.817].
Còn về xác nhận được định nghĩa: “Thừa nhận đúng sự thật. Xác nhận chữ kí. Xác
nhận lời khai. Tin tức đã được xác nhận” [81, tr.1101]. Về chứng thực được định
nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự thật. Chứng thực lời khai. Xác nhận là
đó có chữ ký, dấu niêm phong và ghi rõ ngày, nơi lập, văn bản công
chứng là đủ.
Tại khoản 1, 2, 3 Điều 40 của Luật này quy định về chứng thực chữ ký: Một
chữ ký chỉ được chứng thực bởi công chứng viên biết chữ ký hoặc lấy được chữ ký
đó; Công chứng viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây
phương hại đến việc hành nghề của mình; Khi chứng thực phải khái quát nhân thân
đương sự - người mà công chứng viên biết hoặc lấy được chữ ký và phải nói rõ là
công chứng viên biết trước chữ ký hay vừa lấy chữ ký.
Như vậy, các văn bản pháp luật nước ngoài cũng chỉ đưa ra thuật ngữ “chứng thực”
với những việc làm, hành động cụ thể mà không đưa ra khái niệm về “chứng thực”.
- Quan niệm về “chứng thực” trong các văn bản pháp luật Việt Nam trước
năm 2015:
+ Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân
10
chủ cộng hòa ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ, Hồ Chủ tịch không dùng thuật
ngữ “chứng thực” mà sử dụng thuật ngữ “thị thực”:
Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa
phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc
tịch nào. Tuy nhiên, Ủy ban thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một
bên đương sự lập ước và việc bất động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại
bất động sản [30, Điều thứ hai].
+ Nghị định số 31/CP đã giao cho UBND thực hiện việc chứng thực: Uỷ ban
nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp luật quy định và
chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được quy định tại khoản 1, 2 Điều
18 của Nghị định này. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực việc từ chối
nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định [80, Điều 19].
+ Nghị định số 75/2000/NĐ- CP là văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm “chứng
Theo Nghị định số 23/2015/NĐ- CP khái niệm về chứng thực được giải thích
bằng những từ ngữ dưới đây và được hiểu như sau:
1. Cấp bản sao từ sổ gốc” là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ
gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ gốc có nội dung
đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
2. Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để
chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
3. Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn
bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.
4. Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền
theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết
hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc
dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch [29, Điều 2].
Về cơ bản, Nghị định này kế thừa khái niệm về “chứng thực” của Nghị định
số 79/2007/NĐ- CP và bổ sung thêm quy định mới về khái niệm “chứng thực hợp
đồng, giao dịch”. Nghị định số 23/2015/NĐ- CP không đưa ra khái niệm ”chứng
thực ” cụ thể, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu chung nhất về hoạt động chứng thực
12
theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản
được chứng thực so với bản chính và sổ gốc; xác nhận tính chính xác, tính có thực
của chữ ký được chứng thực là chữ ký của một cá nhân cụ thể; xác nhận tính chính
xác, tính có thực của thời gian giao kết hợp đồng giao dịch, năng lực hành vi dân
sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia giao kết hợp đồng
giao dịch, là cơ sở phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của cá nhân, tổ chức
- Hoạt động chứng thực nhằm xác nhận giá trị pháp lý của văn bản theo quy
định của pháp luật
Việc cấp bản sao từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị
pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch. Chữ ký được chứng thực có
giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định
trách nhiệm của người ký đối với nội dung của giấy tờ, văn bản mà người đó đã ký.
Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị xác nhận thời gian, địa điểm giao
kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu
điểm chỉ của các bên tham gia giao kết hợp đồng là có thật, là cơ sở xác định trách
nhiệm của các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch khi có tranh chấp.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền chứng thực phải chịu trách
nhiệm Bảo đảm trung thực, chính xác, khách quan khi thực hiện chứng thực.
Văn bản đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực có giá trị pháp
lý thay cho bản chính; người tiếp nhận không được yêu cầu xuất trình bản chính để
đối chiếu, trừ trường hợp có căn cứ về việc bản sao giả mạo, bất hợp pháp thì yêu
cầu xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh [29, Điều 6]
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực phải thực hiện thủ tục chứng thực
văn bản, giấy tờ theo đúng trình tự quy định của pháp luật về chứng thực, trong trường
hợp có sai phạm sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật [29, Điều 9, Khoản 1,2,3].
Trong khi thi hành nhiệm vụ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản
chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch người thực hiện nhiệm
vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định của Nghị định số
23/2015/NĐ- CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì tuỳ theo mức độ vi
phạm có thể bị xử lý kỷ luật, bồi thường theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính [29, Điều 44].
14
1.1.2. Nội dung và chủ thể thực hiện chứng thực
- Từ chối chứng thực theo quy định của pháp luật (giải thích rõ lý do từ chối
cho người yêu cầu chứng thực biết. Nếu việc chứng thực không thuộc thẩm quyền
của cơ quan mình thì hướng dẫn công dân có yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền).
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết
cho việc thực hiện chứng thực; hoặc để xác minh tính hợp pháp của giấy tờ, văn bản
yêu cầu chứng thực;
- Lập biên bản tạm giữ giấy tờ, văn bản có dấu hiệu giả mạo; ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với giấy tờ, văn bản yêu cầu
chứng thực được cấp sai thẩm quyền, giả mạo hoặc có nội dung trái pháp luật, đạo
đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy
tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.
Quyền và nghĩa vụ của chủ thể yêu cầu thực hiện chứng thực: Người yêu
cầu chứng thực có quyền yêu cầu chứng thực tại bất kỳ cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền nào thuận tiện nhất, trừ trường hợp Việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch
liên quan đến quyền của người sử dụng đất được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất. Việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến nhà ở được
thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà [29, Điều 5, Khoản 6].
Trong trường hợp bị từ chối chứng thực thì có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức
từ chối giải thích rõ lý do bằng văn bản hoặc khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Người yêu cầu chứng thực phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp lệ,
hợp pháp của giấy tờ, văn bản mà mình yêu cầu chứng thực hoặc xuất trình khi làm
thủ tục chứng thực theo quy định của Nghị định này.
1.1.3. Phân loại hoạt động chứng thực
Có 02 cách phân loại hoạt động chứng thực:
1.1.3.1. Căn cứ theo thẩm quyền thực hiện chứng thực [29, Điều 5], gồm:
- Chứng thực thực hiện tại Phòng Tư pháp cấp huyện gồm: chứng thực bản sao
- Cấp bản sao từ sổ gốc (hay gọi là chứng thực bản sao từ sổ gốc): là việc cơ
quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ
gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
- Chứng thực bản sao từ bản chính: là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
17
- Chứng thực chữ ký: là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực chữ
ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.
- Chứng thực hợp đồng, giao dịch: là việc cơ quan có thẩm quyền chứng
thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý
chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.
1.1.4. Yêu cầu của hoạt động chứng thực
Đảm bảo tính kịp thời
Mọi yêu cầu chứng thực của cá nhân, tổ chức phải được công chức Tư pháp,
công chứng viên thực hiện kịp thời đúng quy định của pháp luật về quy trình, thời
gian, thẩm quyền giải quyết, đảm bảo lợi ích của cá nhân, tổ chức. Tính kịp thời của
hoạt động chứng thực có tác động rất lớn đến các giao dịch dân sự, kinh tế, thương
mại… của cá nhân, tổ chức có yêu cầu. Không đảm bảo tính kịp thời có thể gây ảnh
hưởng lớn về kinh tế của cá nhân, tổ chức có yêu cầu, gây mất ổn định xã hội và sự
hoài nghi của người dân. Tuy nhiên, tính kịp thời của công tác chứng thực chỉ có
thể đạt được khi người dân có ý thức tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ khi có yêu
cầu chứng thực đồng thời công chức Tư pháp và công chứng viên phải có ý thức
trách nhiệm, trình độ chuyên môn vững vàng đảm bảo hoạt động chứng thực đúng
quy định của pháp luật.
Đảm bảo tính trung thực, chính xác và khách quan
Tính trung thực, chính xác và khách quan là yêu cầu quan trọng trong hoạt
động chứng thực. Tôn trọng tính trung thực, chính xác, khách quan mới đảm bảo
giải quyết để thực hiện.
Để tiến tới thực hiện việc cấp số định danh công dân thì tính trung thực,
tính chính xác khách quan và tính đúng thẩm quyền trong hoạt động chứng thực
cần phải được đặc biệt tôn trọng, tránh tình trạng tùy tiện thiếu trách nhiệm của
một số cán bộ, công chức, tạo đồng thuận trong thi hành pháp luật và sự đồng
thuận trong nhân dân.
1.1.5. Phân biệt hoạt động chứng thực với hoạt động công chứng
Luật công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ- CP của Chính phủ
đã phân biệt thẩm quyền trong thực hiện hoạt động công chứng và hoạt động chứng
thực nhưng trong nhận thức về lý luận cũng như trong quy định của pháp luật còn
có sự chồng chéo giữa hoạt động công chứng của các tổ chức hành nghề công
19