Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống chính quyền của Nhà nước ta, chính quyền cấp xã có vị trí
rất quan trọng ở cơ sở, đây là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, có
chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị,
văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng. Ở nước ta cũng như các nước trên thế
giới, vai trò của chính quyền địa phương là đặc biệt quan trọng, quyết định sự
thành công của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền do dân, vì dân vững
mạnh. Do cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất, gần dân nhất, có trách nhiệm
chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương, phát huy mọi khả năng của
mình để xây dựng địa phương vững mạnh, nên chính quyền xã, phường mạnh
hay yếu việc làm của cấp xã tốt hay không tốt, đúng hay sai điều tác động trực
tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần có khi ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị
của người dân, đến lòng tin của nhân dân đến Đảng và Nhà nước.
Trong thời gian vừa qua, chính quyền cấp xã đã thực hiện khá tốt vai trò
nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn còn ở một vài địa phương, chính quyền cấp xã
vẫn còn nhiều hạn chế yếu kém, như: công tác quản lý, điều hành của bộ máy
chính quyền cấp xã còn hạn chế, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao, ý thức
trách nhiệm, tính kỷ luật, kỷ cương của một bộ phận cán bộ công chức còn yếu
kém, năng lực trình độ chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới hiện nay. Điều này đã
gây ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân
cấp xã, đồng thời nó còn làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân
trong địa phương, từ đó nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã không
được nhân dân hưởng ứng, ngược lại còn có những thái độ và hành động đi
ngược lại với những chủ trương, chính sách đó.
Vì vậy, việc chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp
xã ở tỉnh An Giang” làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ quản lý Nhà
nước, đó là nhằm mục đích tìm ra những nguyên nhân, giải pháp nhằm củng cố
và nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An



5. Những đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận, đối với chính quyền cấp xã đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu, đề ra những giải pháp, cách thức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của chính
quyền cấp xã. Vì vậy, luận văn này chỉ nhằm hoàn thiện hơn về mặt lý luận đối
với chính quyền cấp xã và trong thực tế ở những vùng, miền khác nhau, có những
phong tục, tập quán sinh sống khác nhau, do vậy cần phải xác định được những
mấu chốt của vấn đề trong xây dựng và cũng có chính quyền ở cơ sở vừa phù hợp
với các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vừa phù hợp với
thực tế địa phương, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu cải cách, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo được các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình
hình mới hiện nay; luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách ở tỉnh An Giang.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp xã.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở
tỉnh An Giang.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của Ủy
ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang.

3


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng bộ máy chính quyền ở cơ sở

chức của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì Uỷ ban nhân dân
do Hội đồng nhân dân bầu ra và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp.
1.2. Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp

1.2.1. Hệ thống chính quyền cấp xã ở nước ta từ năm 1945 đến trước khi có
Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, cơ quan chính quyền địa phương giữ vị trí,
vai trò rất quan trọng. Ở nước ta, chính quyền địa phương của Nhà nước kiểu mới
được thành lập bằng cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng vũ trang giành
chính quyền từ tay bọn thực dân đế quốc và bọn tay sai của chúng trong cuộc
cách mạng tháng tám năm 1945. Để xây dựng cơ sở pháp lý cho chính quyền địa
phương, sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành hai
sắc lệnh đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương. Theo quy định của sắc lệnh
số 63/SL và sắc lệnh số 77/SL năm 1945, chính quyền địa phương ở nước ta được
tổ chức ở 4 cấp, đó là: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; ở thành phố tổ chức
hai cấp chính quyền đó là cấp thành phố và cấp khu phố.
Kế thừa các sắc lệnh 63/SL và 77/SL, Hiếp pháp năm 1946 quy định nước
Việt Nam về phương diện hành chính gồm có 3 bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ
chia thành Tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã. Ở tỉnh,
thành phố thị xã và xã có Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông trực tiếp
bầu ra. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã và xã cử ra Ủy ban hành chính;
Ở bộ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính, chứ không có Hội đồng nhân dân.
5


Đến Hiến pháp năm 1959, đã chính thức bãi bỏ cấp hành chính có tính chất
vùng miền (khu, liên khu), chỉ còn ba cấp: cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực

Hội đồng nhân dân cấp xã trực tiếp bầu ra. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nhất
thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, còn các thành viên khác của Ủy
ban nhân dân cấp xã thì không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Kết
quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân và các ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã do
Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của chủ tịch Ủy ban nhân
dân bằng hình thức bỏ phiếu kín.
1.2.2.2. Chức danh và số lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân
dân cấp xã
Căn cứ Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của
Chính Phủ và Nghị định số 92/2009/ND-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định
về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cụ thể
các chức danh của cán bộ, công chức cấp xã như sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông
dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư,
diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến
binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy
trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi
trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi
trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.
- Về Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành
chính cấp xã; cụ thể như sau: Cấp xã loại 1: không quá 25 người; Cấp xã loại 2:
không quá 23 người; Cấp xã loại 3: không quá 21 người;
7




năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà Pháp luật quy định thuộc thẩm
quyền của Ủy ban nhân dân xã.
1.3.4. Mối quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã: Để thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ngoài trách nhiệm chung, Ủy ban nhân dân cấp xã
còn có mối quan hệ qua lại với Ủy ban nhân dân huyện, các cơ quan chuyên môn
cấp huyện, mối quan hệ với Đảng ủy và Hội đồng nhân dân cùng cấp, mối quan
hệ với UBMTTQ và các tổ chức thành viên; mối quan hệ đối với Trưởng các
khóm, ấp, các tổ tự quản trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
1.3.5. Chế độ hội họp, làm việc của Ủy ban nhân dân xã: Bao gồm các phiên
họp của Ủy ban nhân dân xã, các phiên họp giao ban; các cách thức tổ chức làm
việc với Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan chuyên môn cấp huyện.
1.3.6. Quản lý và ban hành văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã.
1.4. Vai trò quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân trong hệ thống
chính quyền cấp xã
Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt bộ phận nhân dân cư trú, sinh
sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy
động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng
dân cư. Trong đó, vai trò quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã là rất
quan trọng, nó được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội và trên mọi
lĩnh vực như kinh tế, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, văn hóa xã hội, an ninh
quốc phòng,…
Kết luận lại, chương I đã trình bày khái quát những nội dung cơ bản về vai
trò, tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở và những nội dung chính về đặc điểm của
chính quyền cấp xã; những nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của
Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính quyền các cấp ở nước ta hiện nay.


bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.
10


Về số lượng, thì số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn
vị hành chính cấp xã, cụ thể:
+ Đối với cán bộ, công chức: cấp xã loại 1: không quá 25 người; cấp xã loại
2: không quá 23 người và cấp xã loại 3: không quá 21 người.
+ Đối với số lượng người hoạt động không chuyên trách: cấp xã loại 1 được
bố trí không quá 22 người; cấp xã loại 2 được bố trí không quá 20 người và cấp
xã loại 3 được bố trí không quá 19 người.
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị
định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc
phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Theo đó, toàn tỉnh An Giang có
110 xã loại 1, 44 xã loại 2 và 03 xã loại 3.
* Căn cứ vào 92/2009/ND-CP của Chính Phủ và thông tư liên tịch số
03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH của Bộ Nội vụ, bộ Tài chính và bộ Lao
động - Thương binh và xã hội về việc hướng dẫn thưc hiện nghị định
92/2009/NĐ-CP của Chính Phủ, ngày 09 tháng 11 năm 2010, Ủy ban nhân dân
tỉnh An Giang ban hành quyết định số 54/2010/QĐ-UB, về việc ban hành Quy
định chức danh và một số chế độ chính sách đối với những người hoạt động
không chuyên trách và lực lượng công an, quân sự các xã, phường, thị trấn,
khóm, ấp thuộc tỉnh An Giang. Lực lượng cán bộ không chuyên trách của xã, ấp
bao gồm:
- Những người hoạt động không chuyên trách cấp xã bao gồm 20 chức danh.
- Những người hoạt động không chuyên trách khóm, ấp bao gồm ba chức
danh sau: Trưởng ấp kiêm bí thư chi bộ; Phó trưởng ấp phụ trách an ninh trật tự,
kiêm ấp đội trưởng; Phó trưởng ấp phục trách các đoàn thể, kiêm trưởng Ban
công tác mặt trận ấp.
- Bố trí năm người làm công tác đoàn thể ở khóm ấp, bao gồm: Chi Hội

được đảm bảo, kinh tế xã hội phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho bà con nhân dân.

12


- Dân chủ trong đời sống xã hội ở các xã trên địa bàn tỉnh từng bước được
phát huy, thông qua việc thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Hội đồng nhân dân cấp xã đã có bước phát triển tích cực, với chất lượng và
số lượng ngày càng được nâng cao.
- Bộ máy chính quyền cấp xã từng bước được cũng cố, đội ngũ cán bộ được
trẻ hóa và nâng cao về trình độ chuyên môn, cũng như về phẩm chất chính trị, đạo
đức lối sống. Công tác cải cách hành chính ở cấp xã có những chuyển biến tịch
cực, tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa” tại Ủy ban nhân dân xã, các loại thủ tục,
phí và lệ phí, thời gian nhận và trả hồ sở được niêm yết công khai, đã làm giảm
bớt phiền hà cho nhân dân, tạo được lòng tin trong nhân dân. Công tác tiếp dân,
hòa giải ở cơ sở được quan tâm thực hiện thường xuyên, kịp thời, đúng quy định
của pháp luật.
2.3.2. Những hạn chế
- Kinh tế phát triển nhưng chưa thật bền vững, một số chỉ tiêu quan trọng
chưa đạt, nhất là tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khu vực công
nghiệp – xây dựng chuyển dịch chậm.
- Môi trường đầu tư chưa thật thuận lợi, chỉ số năng lực cạnh tranh thấp. Kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém. Các khu công nghiệp, khu kinh tế
cửa khẩu đã được xây dựng nhưng chưa thu hút được nhà đầu tư.
- Lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều khó khăn, yếu
kém. Giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu,
giảm nghèo chưa bền vững.
- Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân có cố gắng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới.

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Vai trò của chính quyền cấp xã nói chung và chất lượng của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chính quyền cơ sở nói riêng bị xem nhẹ.

14


- Mặt bằng dân trí ở địa bàn cấp xã tại tỉnh nhìn chung còn thấp, đặc biệt là
các xã vùng cao, vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số. Do đó khó có nguồn cán bộ có
trình độ để tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền cấp xã.
- Công tác đánh giá cán bộ chưa được quan tâm đúng mức do chưa nhận
thức đầy đủ ý nghĩa và tác động của đánh giá cán bộ, do đó một số nơi đánh giá
cán bộ không đi vào thực chất, chưa sâu sát, khách quan, khoa học.
- Công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo chính quyền cơ sở, xây dựng đội ngũ
cán bộ tại địa phương thực sự chưa hiệu quả; chưa gắn công tác quản lý, sử dụng,
đánh giá cán bộ với việc qui hoạch, đào tạo chuẩn hoá và tạo nguồn; đồng thời
chưa có chính sách thu hút nhân tài về cơ sở.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại tỉnh còn nhiều bất cập, chỉ mới giải
quyết những vấn đề cấp thiết, tình huống mà chưa có tính chiến lược, lâu dài.
- Điều kiện làm việc của chính quyền cấp xã tại tỉnh còn bất cập, nhất là các
xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rất thiếu thốn, chưa được
đầu tư đầy đủ đảm bảo điều kiện cần thiết cho hoạt động của một cơ quan công
quyền.
- Ảnh hưởng cuả yếu tố văn hoá địa phương.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Một bộ phận không nhỏ cán bộ có biểu hiện thoái hoá về tư tưởng, dao
động về lý tưởng, nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và chủ nghĩa xã hội, ý thức tổ chức kỷ luật đảng kém, tính chiến đấu, ý thức
phê bình, tự phê bình giảm sút…
- Một số cán bộ lợi dụng chức quyền, lợi thế trong công vụ và những khe hở

Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đối với các gia đình chính sách, hộ
nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Kết luận lại, chương này đã trình bày khái quát về những đặc điểm về điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cơ bản của tỉnh An Giang và những khảo sát về tổ
chức, hoạt động, trình độ cán bộ công chức cấp xã, những hạn chế yếu kém trong
quá trình lãnh đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã ở An Giang, đồng thời
cũng chỉ rõ một số nguyên nhân và bài học kinh nghiệm để làm cơ sở đề ra những
giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
16


CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở TỈNH AN GIANG
3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao hiệu quả hoạt động của
Ủy ban nhân dân cấp xã
Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt bộ phận nhân dân cư trú, sinh
sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy
động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của công đồng
dân cư.
Xây dựng chính quyền cấp xã thật sự trong sạch, vững mạnh; là cầu nối giữa
Đảng và Nhà nước với nhân dân; nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành và hiệu
quả tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng dân
chủ đi đôi với đảm bảo kỷ cương, pháp luật của Nhà nước.
3.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp xã ở tỉnh An Giang nói riêng và ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về ủy ban nhân dân các cấp

- Cần có sự thống nhất trong việc phân bổ ngân sách cấp xã, không nên chỉ
dựa vào nguồn thu, tăng tính chủ động trong dự toán chi ngân sách hàng năm.
- Cần quy định thống nhất mức chế độ phụ cấp đối với cán bộ không chuyên
trách cấp xã, ở khóm ấp.
Thứ hai, trong hoạt động quản lý đất đai
- Cần phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền quản lý đất đai cũng như thẩm quyền
xử lý vi phạm về đất đai cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Cần tăng biên chế đối với công chức Địa chính cấp xã.
- Thực hiện tốt cơ chế một cửa liên thông trong hoạt động quản lý đất đai.
18


Thứ ba, trong hoạt động chứng thực
Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tư pháp hộ tịch ở cấp xã. Bổ sung số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch cho xã, phường,
thị trấn, đặc biệt là những nơi có trên 10.000 dân theo quy định của Chính phủ.
Thứ tư, trong hoạt động đăng ký hộ tịch
Đối với một số các sự kiện hộ tịch mà nhân dân chưa tự giác đi đăng ký như
việc khai tử, nên quy định trách nhiệm cho các ấp, tổ dân phố,… đôn đốc các gia
đình đi khai tử.
Thứ năm, trong hoạt động điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã
Quy định rõ chế độ trách nhiệm cá nhân đối với từng thành viên khi thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn của mìn; Phân định rõ trách nhiệm của từng cá nhân với
trách nhiệm của tập thể Ủy ban nhân dân; Phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ
trong hoạt động quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời phát
huy chế độ tự chịu trách nhiệm và thể chế người đứng đầu.
3.2.3. Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ nên quy định
những vấn đề chung mang tính nguyên tắc, những vấn đề khung để đảm bảo tính
thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Còn những vấn đề
cụ thể, chi tiết nên để cho từng địa phương tự quy định cho phù hợp với đặc điểm

nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân cùng cấp đối với cán bộ, công chức của
Ủy ban nhân dân cấp xã. Thực hiện nguyên tắc: “Quyền lực của nhân dân phải
do chính nhân dân và cơ quan quyền lực của nhân dân kiểm soát”.
3.2.6. Củng cố mối quan hệ của Ủy ban nhân dân cấp xã với nhân dân, huy
động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào việc giám sát các hoạt động của
Ủy ban nhân dân cấp xã
Tiếp tục phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, quán triệt sâu sắc
trong nhận thức và hành động của cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, đặc
biệt là cơ quan hành chính nhà nước cấp xã luôn gần dân nhất trong mọi mối quan

20


hệ. Khắc phục tình trạng vô trách nhiệm hoặc đùn đẩy khó khăn cho nhân dân của
cán bộ.
Việc thực hiện mô hình Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân dân
theo Thông báo số 223-TB/TW, ngày 14 tháng 2 năm 2009 của Bộ Chính Trị.
Hiện nay việc thực hiện thí điểm tuy đã có kết quả khả quan bước đầu, nhưng
chưa thể hiện hết những hạn chế, yếu kém khi thực hiện đồng bộ trên cả nước. Do
vậy, để thực hiện tốt chủ trương Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã, bản thân nhận thấy cần quan tâm đến những vấn đề sau: Thứ nhất, việc
thực hiện mô hình này là một việc lớn và nhạy cảm, có liên quan đến nhiều tổ
chức, hoạt động của hệ thống chính trị các cấp, mặt khác do thời gian thực hiện
còn ngắn và ở những nơi thí điểm là những địa phương có phong trào khá, nên
những ưu điểm hạn chế của mô hình này chưa bộc lộ hết, vì vậy đề nghị nên có
thời gian tiếp tục thí điểm và có mở rộng thêm một số nơi để tiếp tục nghiên cứu,
đúc kết kinh nghiệm. Thứ hai, mức phụ cấp cho đồng chí bí thư cấp ủy kiêm chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã như hiện nay là thấp, cần có chế độ phục cấp cao
hơn (bằng hoặc hơn 50% mức lương hiện hưởng).
Kết luận lại, chương này đã nêu lên những quan điểm và định hướng chỉ

địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh An Giang trong
tình hình mới.
6. Để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối
với đơn vị hành chính cấp xã theo hướng phát triển đi lên, đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chính quyền cấp xã phải được củng cố về căn bản, nâng cao trình độ học vấn,
trình độ lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn, quản lý nhà nước cần thiết.

22


7. Nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chính quyền cấp xã tại An Giang cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
Một là, xác định tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo chính quyền cấp xã một cách
cụ thể, khách quan, khoa học và mang tính thực tiễn, kế thừa, định hướng.
Hai là, đánh giá năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chính quyền cấp xã thật chính xác, rõ ràng và có phương pháp khoa học, hiện đại.
Ba là, thực hiện tốt công tác qui hoạch và tạo nguồn cán bộ cho chức danh
lãnh đạo chính quyền cấp xã.
Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính
quyền cấp xã tại địa phương.
Năm là, xây dựng chế độ trách nhiệm công vụ một cách rõ ràng, công khai,
minh bạch và gắn với công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cán bộ
lãnh đạo chính quyền cấp xã.
Sáu là, thực hiện và bảo đảm chất lượng công tác luân chuyển cán bộ về giữ
chức danh lãnh đạo chính quyền tại cơ sở.
Bảy là, tiếp tục cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc.
Từ những vấn đề trên cho thấy việc cũng cố và kiện toàn tổ chức và hoạt
động của Ủy ban nhân dân cấp xã là một vấn đề quan trọng và cấp thiết hiện nay.
Điều này vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển cán bộ, công chức cấp xã, vừa đảm
bảo cho việc tổ chức quản lý và điều hành phát triển kinh tế - xã hội đi đúng định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status