Nghiên cứu thành ngữ tiếng việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH

NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
TỪ BÌNH DIỆN NGÔN NGỮ HỌC NHÂN CHỦNG

Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ
Mã số

: 62 22 01 01

PHỤ LỤC LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Khang

HÀ NỘI - 2011

`ˆÌi`Ê܈̅Ê̅iÊ`i“œÊÛiÀȜ˜ÊœvÊ
˜vˆÝÊ*ÀœÊ*

`ˆÌœÀÊ
/œÊÀi“œÛiÊ̅ˆÃʘœÌˆVi]ÊۈÈÌ\Ê
ÜÜܰˆVi˜ˆ°Vœ“É՘œVް…Ì“


MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài
Trong ngôn ngữ của một dân tộc, thành ngữ là một đơn vị đặc trƣng và
thành ngữ tiếng Việt cũng không phải là ngoại lệ. Bởi vì, thành ngữ không chỉ

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hƣớng tới những mục đích
sau đây:
Thứ nhất, ứng dụng một số tri thức của ngôn ngữ học nhân chủng vào
nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt. Do đó, có thể coi đây là một cách tiếp cận
mới về thành ngữ, góp phần bổ sung thêm lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ ở
Việt Nam. Cách làm này sẽ giúp chúng tôi thu nhận đƣợc một cơ sở lý luận
quan trọng để từ đó có thể gợi mở những vấn đề khác trong ngôn ngữ học
nhằm tiến hành nghiên cứu thêm trên những nguồn tƣ liệu khác nữa của tiếng
Việt.
Thứ hai, từ cách tiếp cận của ngôn ngữ học nhân chủng, luận án hy
vọng góp phần làm nổi bật những đặc điểm văn hóa xã hội của ngƣời Việt
đƣợc phản ánh trong đơn vị ngôn ngữ đặc biệt là thành ngữ. Qua đó luận án
góp phần chỉ ra những vấn đề liên quan đến thành ngữ mà những cách tiếp
cận trƣớc đây chƣa chú ý hoặc chƣa chỉ ra một cách tƣờng minh, cụ thể.
0.3. Nhiệm vụ của luận án
Xuất phát từ mục đích nói trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
Một là, trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài gồm một
vài vấn đề liên quan đến ngôn ngữ học nhân chủng, những quan điểm nhận
diện và nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt cũng nhƣ các hƣớng tiếp cận
thành ngữ trƣớc đây. Trên cơ sở đó xác định cho mình những nội dung cụ thể
trong nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng.
Hai là, khảo sát một vài vấn đề liên quan đến đặc điểm văn hóa xã hội
trong thành ngữ tiếng Việt. Đƣơng nhiên, khi thực hiện việc khảo sát này luận

2


án sẽ xuất phát từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng để nhằm chắt lọc ra
một số nội dung mà những cách tiếp cận trƣớc đây chƣa chú ý đúng mức. Qua
đó, luận án sẽ bƣớc đầu nêu ra những đặc điểm đặc trƣng về nội dung này của

- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung - Vũ Thúy Anh
- Vũ Quang Hào (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội 1995).
- Từ điển thành ngữ Việt Nam do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên (NXB Văn
hóa, Hà Nội 1993).
- Phần “Sƣu tập và phân loại thành ngữ” tiếng Việt trong cuốn Thành
ngữ học tiếng Việt của Hoàng Văn Hành (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
2004).
Tổng số thành ngữ tiếng Việt đƣợc chúng tôi thu thập để tiến hành
khảo sát là 8.780 đơn vị. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thành ngữ
của các ngôn ngữ khác làm dẫn chứng minh họa và so sánh. Những tƣ liệu
nƣớc ngoài này đƣợc trích dẫn từ các sách, từ điển hay luận án đã đƣợc nêu ra
trong phần tài liệu tham khảo.
0.6. Phương pháp nghiên cứu
Luận án đƣợc tiến hành nghiên cứu dựa trên các phƣơng pháp nghiên
cứu cơ bản của ngôn ngữ học, trong đó chủ yếu là phương pháp miêu tả, phần
nào là phương pháp so sánh đối chiếu. Bên cạnh đó, các thủ pháp nghiên cứu
nhƣ thống kê và phân loại tƣ liệu, phân tích v.v cũng sẽ đƣợc áp dụng để phục
vụ mục tiêu nghiên cứu.
0.7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố của
tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm có ba chƣơng:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài. Chƣơng viết này sẽ làm rõ một
vài vấn đề liên quan đến lý thuyết ngôn ngữ học nhân chủng và những vấn đề
lý thuyết đã có về thành ngữ. Từ đó luận án sẽ xác định hƣớng nghiên cứu cụ

4


thể mà ngôn ngữ học nhân chủng có thể áp dụng để nghiên cứu thành ngữ
tiếng Việt.

Ở Việt Nam hiện nay, hầu nhƣ chƣa có một công trình nghiên cứu nào
nhƣ sách chuyên luận hay giáo trình đại học ... về ngôn ngữ học nhân chủng
đƣợc công bố. Vì thế, luận án này có thể đƣợc coi nhƣ là một sự cố gắng bƣớc
đầu ứng dụng những kết quả lý luận của ngôn ngữ học nhân chủng vào việc
nghiên cứu tiếng Việt. Trong tình hình nhƣ vậy, ở chƣơng này, chúng tôi sẽ
giới thiệu về ngôn ngữ học nhân chủng nhằm cung cấp một cái nhìn cơ bản
nhất về chuyên ngành ngôn ngữ học này phục vụ cho nhiệm vụ của luận án.
Việc giới thiệu ở đây là chỉ nhằm nêu ra những vấn đề có thể ứng dụng
cách tiếp cận của chuyên ngành ngôn ngữ học này trong nghiên cứu thành
ngữ tiếng Việt. Vì thế, chúng tôi không có hy vọng làm thỏa mãn những hiểu
biết đầy đủ về ngôn ngữ học nhân chủng. Việc giới thiệu của chúng tôi một
mặt là cơ sở lý luận cho các chƣơng tiếp theo của luận án, mặt khác trong một
chừng mực nào đó có thể góp phần vào việc phát triển lý luận về ngôn ngữ
học nhân chủng giúp ích cho việc nghiên cứu những đối tƣợng ngôn ngữ khác
ở Việt Nam.

6


1.2. Một số vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học nhân chủng.
1.2.1. Việc sử dụng thuật ngữ trong luận án
Về mặt thuật ngữ, hiện vẫn chƣa có sự phân biệt rõ ràng giữa việc dịch
sang tiếng Việt và sử dụng hai thuật ngữ tiếng Anh anthropological
linguistics và linguistic anthropology. Sự giống nhau giữa hai thuật ngữ này
là ở chỗ, cả hai đều dùng để gọi tên một lĩnh vực liên ngành đƣợc hình thành
từ hai ngành anthropology - “nhân học” hay “nhân chủng học” và linguistics “ngôn ngữ học”.
Trong các tài liệu ở Việt Nam, thuật ngữ anthropological linguistics có
thể đƣợc dịch là “ngôn ngữ học nhân học” hoặc “ngôn ngữ học nhân chủng”,
hoặc “ngôn ngữ học nhân chủng học” và linguistic anthropology có thể đƣợc
dịch là “nhân học ngôn ngữ”, “nhân chủng học ngôn ngữ”, “nhân chủng học

viên của một cộng đồng xã hội gắn liền với một nền văn hóa nhất định nào đó.
Trong khi đó, đối tƣợng nghiên cứu của nhân chủng học là con ngƣời,
bao gồm tất cả các đặc điểm sinh lý, các đặc điểm tâm lý, tình cảm, tƣ duy v.v,
tức là các hoạt động đặc trƣng của con ngƣời. Trong các hoạt động đặc trƣng
ấy, hoạt động ngôn ngữ đƣợc coi là đặc hoạt động phức tạp nhất và cũng là
điển hình nhất của loài động vật cao cấp này. Hơn thế nữa, ngôn ngữ còn
đƣợc xem nhƣ một tiêu chí quan trọng để xác định và phân biệt một tộc ngƣời
và đặc trƣng văn hóa của tộc ngƣời đó. Cho nên, ngôn ngữ là một phần quan
trọng không thể thiếu khi nghiên cứu nhân chủng học.
Về mặt lịch sử, trƣớc khi ngôn ngữ học nhân chủng ra đời, ngƣời ta
thƣờng quen dùng thuật ngữ nhân chủng học ngôn ngữ. Có thể nói, thuật ngữ
nhân chủng học ngôn ngữ gắn liền với nhân chủng học văn hóa - một trong
bốn lĩnh vực truyền thống của nhân chủng học, bên cạnh nhân chủng học hình
thể, khảo cổ học, dân tộc học. Trong giai đoạn đầu phát triển, nhân chủng học
ngôn ngữ đƣợc xem là một phần của nhân chủng học văn hóa. Khi đó, các
nhà nghiên cứu điền dã nhân chủng học trong quá trình nghiên cứu các tộc

8


ngƣời đã nhận thấy vai trò của ngôn ngữ là hết sức quan trọng đối với nghiên
cứu dân tộc học. Và vì vậy, ngôn ngữ đƣợc các nhà nhân chủng học quan tâm
nghiên cứu nhƣ là một ánh phản của văn hóa tộc ngƣời. Cho nên, nhân chủng
học coi ngôn ngữ, và vì thế cả ngôn ngữ học, là nền tảng của một khoa học về
con ngƣời, bởi vì nó cung cấp một sự hiểu biết về mối liên hệ giữa cấp độ
sinh học và văn hóa xã hội.
Tuy nhiên, chỉ đến khi “Một số người thấy trong phương pháp luận
ngôn ngữ học hiện đại có một mô hình hay mầm mống của một phương pháp
luận chung cho việc nghiên cứu cấu trúc hành vi của con người” (D.Hymes –
trích từ [63,143]) thì từ đó, ngôn ngữ và các hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học

dân châu Mỹ của Boas, Sapir và Whorf. Đây là những ngƣời đƣợc coi là sáng
lập ra ngành ngôn ngữ học này. Trong các công trình nghiên cứu của họ, đối
tƣợng nghiên cứu chính là các ngôn ngữ còn đƣợc lƣu giữ trong những bộ tộc
thổ dân mà ít ngƣời biết đến.
Sau này, cùng với xu hƣớng phát triển rộng khắp trên nhiều nƣớc, đối
tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học nhân chủng đƣợc mở rộng. Và vì vậy, nó
không còn giới hạn ở các ngôn ngữ thổ dân nữa mà là ngôn ngữ loài ngƣời
nói chung. Việc mở rộng đối tƣợng nghiên cứu cũng là bƣớc phát triển về
chất của ngôn ngữ học nhân chủng.
Về mặt phƣơng pháp, ngôn ngữ học nhân chủng kế thừa và vận dụng
các phƣơng pháp của cả ngôn ngữ học và nhân chủng học. Các phƣơng pháp
nghiên cứu cơ bản của ngôn ngữ học mà ngôn ngữ học nhân chủng thƣờng sử
dụng là phƣơng pháp phân tích miêu tả, phƣơng pháp so sánh - lịch sử,
phƣơng pháp so sánh đối chiếu; còn phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản của
nhân chủng học hay đƣợc sử dụng là phƣơng pháp quan sát tham dự, phƣơng
pháp khảo tả dân tộc học. “Vốn đã là một lĩnh vực liên ngành, nó dựa vào và
mở rộng các phương pháp đã có trong các ngành khác, đặc biệt là ngôn ngữ
học và nhân chủng học, với mục tiêu chung là cung cấp hiểu biết dưới nhiều

10


phương diện phong phú về ngôn ngữ với tư cách là một tập hợp các thói quen
văn hóa, đó là, như một hệ thống giao tiếp cho phép các các nhân hay từng
cá nhân trình bày về trật tự xã hội và giúp việc giao tiếp trở thành các hành
vi xã hội cơ bản” [158,3].
Trong nghiên cứu ngôn ngữ học nhân chủng truyền thống, bên cạnh
phƣơng pháp khảo tả dân tộc học, các nhà nghiên cứu rất chú trọng đến
phƣơng pháp quan sát tham dự. Bởi vì, đối tƣợng của ngôn ngữ học nhân
chủng là ngôn ngữ nhƣng không phải là ngôn ngữ trong sự phân biệt với lời

ngữ. Họ cũng được liên kết lại với nhau qua việc khẳng định rằng ngôn ngữ
gắn chặt với văn hóa và xã hội loài người, và ở mức độ cao là tạo thành nên
văn hóa và xã hội loài người”. Qua phát biểu trên, có thể nói một cách khái
quát rằng, nội dung chính của ngôn ngữ học nhân chủng là nghiên cứu mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ và xã hội.
1.2.3.1. Đôi nét về lịch sử vấn đề
Trên thực tế, ngôn ngữ học nhân chủng đã trải qua một quá trình “dao
động” trƣớc khi xác định đƣợc cho mình những nội dung nghiên cứu đặc thù
ấy. Để xác định đƣợc nội dung nghiên cứu nói trên, ngôn ngữ học nhân chủng
đã phải cùng các ngành khác trải qua một tiến trình nhận thức về mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ và xã hội. Chúng tôi tạm thời phân
chia tiến trình nhận thức ấy thành các giai đoạn nhƣ sau.
(1) Trƣớc hết, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã là đề tài truyền
thống đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bởi lẽ, bản thân ngôn ngữ,
văn hóa và xã hội đều là những sản phẩm cơ bản mang tính đặc trƣng chỉ có ở
loài ngƣời. Có thể nhận thấy rằng trong thực tế luôn tồn tại một mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ và xã hội. “Là một thành tố của nền
văn hóa tinh thần, ngôn ngữ giữ vị trí đặc biệt trong nó. Bởi vì ngôn ngữ là
phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển và hoạt động
của những thành tố khác trong văn hóa. Ngôn ngữ là một trong những thành

12


tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa nào” [139,21]. Rõ ràng, tƣ cách là
những yếu tố trong cùng một hệ thống đã nói rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ,
văn hóa và xã hội.
(2) Mặc dù ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ tƣơng cận rõ ràng nhƣ
vậy, song việc nhìn nhận và xem xét nó nhƣ một vấn đề nghiên cứu cụ thể thì
phải đến đầu thế kỷ XIX mới đƣợc nêu lên. Chính vì vậy, khi bàn về mối

trƣờng phái Praha, theo chủ nghĩa cấu trúc Mỹ “Bloomfield mới”, các nhà
nghiên cứu thổ ngữ học và tâm lý học xã hội. Nhƣng thông qua việc xác định
này, ngƣời ta sẽ hiểu rõ hơn mối quan hệ nhƣ là nội dung nghiên cứu của
ngôn ngữ học nhân chủng.
Cũng có thể kể ra một số công trình tiêu biểu của các nhà nghiên cứu
Anh nhƣ các công trình của Malinowski về chức năng các ngôn ngữ “nguyên
thủy”, nghiên cứu của Bloch về các bài diễn thuyết chính trị trong các xã hội
truyền thống, nghiên cứu xuyên văn hóa của Goody về ảnh hƣởng của kỹ
năng đọc viết.
Ở Pháp, ngƣời ta có thể kể đến công trình của Claude Lévi Strauss về
phân tích cấu trúc huyền thoại, các nghiên cứu về ngôn ngữ Dogon ở Tây Phi
của Calame –Griaule, nhân chủng học tri nhận của Sperber. Bên cạnh đó, có
thể coi lý thuyết xã hội của các học giả Pháp ít nhiều có liên quan đến nội
dung này, ví dụ nhƣ đề xuất của Pierre Bourdieu rằng các dạng thức ngôn ngữ
có thể tạo thành một dạng “vốn ký hiệu” hay nhƣ quan niệm của Michel
Foucault về các giới hạn diễn đạt đƣợc tạo thành thống qua những dạng thức
cấu tạo đƣợc gọi là “trật tự diễn ngôn” [157,65].
Ngoài ra, ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại
Ferdinand de Saussure cũng đã có những đóng góp to lớn cho ngôn ngữ học
hậu cấu trúc, trong đó có ngôn ngữ học nhân chủng. F. Saussure đã khá cực
đoan khi quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống siêu hình đóng kín, bao gồm
các quan hệ thuần tuý phi vật chất. Thế nhƣng, trong đó, ông vẫn thể hiện ra

14


những tƣ tƣởng gieo mầm cho một hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học mới khi
ông “thừa nhận: "Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và
mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân
tộc" [107,47]. Cuốn sách “Giáo trình ngôn ngữ học đại cƣơng” cũng đã thể

thứ yếu trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể của giao tiếp hay tư duy. Sự
thật của vấn đề ở đây là cái thế giới “thực” ấy phần lớn được hình thành một
cách vô thức trên nền những thói quen ngôn ngữ của cộng đồng. Chúng ta
nghe, thấy, hay nói cách khác là trải nghiệm như thế chủ yếu là do những thói
quen ngôn ngữ của cộng đồng đã làm cho chúng ta có những cách lựa chọn
như thế” [Edward Sapir – trích từ [63,11].
Tƣ tƣởng trên của Sapir đƣợc B.Whorf phát triển thêm trong bài viết
“Mối quan hệ giữa tư duy và hành vi thông lệ trong ngôn ngữ (The Relation
of Habitual Thought and Behavior to Language)”. Bài viết của ông bao gồm
hàng loạt các ví dụ để trả lời cho các câu hỏi chẳng hạn nhƣ tên gọi tình
huống ảnh hƣởng đến hành vi nhƣ thế nào, hay các mô hình ngữ pháp trong
vai trò lý giải kinh nghiệm ra sao, và đặc biệt trong bài viết có rất nhiều ví dụ
từ các ngôn ngữ Sae và Hopi nhƣ: số nhiều và phạm trù số đếm, danh từ chỉ
số lƣợng vật thể, các giai đoạn của chu kỳ, hình thức diễn đạt của động từ v.v.
Tƣ tƣởng của Whorf phản ánh đầy đủ và có thể nói là đậm đặc thông
qua các ví dụ. Song, do cách viết của ông không hề đơn giản và dễ hiểu, nên
rất khó tìm đƣợc một trích dẫn tiêu biểu. Nhƣng dù vậy, bất kỳ ai đọc bài báo
của ông cũng đều nhận thấy rằng, điều mà Whorf muốn nói là ngôn ngữ có
ảnh hƣởng đến cách suy nghĩ của ngƣời sử dụng nó. Mỗi một ngƣời nói một
thứ ngôn ngữ khác nhau sẽ có những thói quen suy nghĩ khác nhau, hay ngôn
ngữ sẽ quyết định cách tƣ duy của ngƣời nói thứ ngôn ngữ đó. Vậy là “Ngôn
ngữ được phú cho một quyền năng thực bao trùm tuyệt đối: nó xác lập các
tập quán (chuẩn mực) của tư duy và của hành vi, nó chi phối sự hình thành
các phạm trù lô gíc, nó kèm cặp và dẫn dắt con người trong mọi hoạt động xã

17


hội và cá nhân…Các quá trình tư duy khái niệm luôn luôn diễn ra trong hình
thức ngôn ngữ, vậy mà các cấu trúc ngôn ngữ thì khác nhau, cho nên điều

Anh và tiếng Yucatec Maya ở Mexico nhằm làm sáng tỏ quan điểm thƣờng bị
hiểu nhầm của Whorf. Theo Lucy, “Whorf không cho là ngôn ngữ quyết định
nhận thức và văn hóa, Whorf chỉ cho là: cách nghĩ và cách nhìn nhận thế giới
theo thói quen của người nói một thứ ngôn ngữ nhất định nào đó dẫn họ đến
cách phân loại các sự việc, hiện tượng trên thế giới theo những kiểu nhất định.
Do đó, người nghiên cứu cần học các cách nhận thức cơ bản về thế giới
khách quan của một dân tộc nếu muốn hiểu đúng về dân tộc đó” [25,198].
Ngoài ra, còn có thể kể ra các công trình đã đƣợc tiến hành nhằm kiểm
chứng giả thiết này nhƣ: Nghiên cứu mối tƣơng quan giữa từ chỉ màu sắc và
khả năng ghi nhớ và phân loại màu của ngƣời nói trên cứ liệu tiếng Anh và
tiếng Zuni của Lenneberg và Robert; nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tri
nhận màu sắc của con ngƣời và ngôn ngữ của Berlin và Kay trên cứ liệu 20
ngôn ngữ khác nhau, của Kay và Kempton trên cứ liệu tiến Anh và tiếng
Tarahumara; nghiên cứu về mối tƣơng quan giữa cấu trúc câu giả định và sự
tri nhận tính chân ngụy của câu giả định trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Hán
của Bloom; … [131,41-43]. Đặc biệt, sự tham gia của các nhà ngôn ngữ học
tri nhận nhƣ Lakoff hay ngôn ngữ học tạo sinh nhƣ Chomsky trong việc kiểm
chứng giả thuyết Sapir – Whorf càng chứng tỏ ảnh hƣởng cúa giả thuyết này
đối với ngôn ngữ học đƣơng đại.
Nhắc đến cuộc cách mạng ngôn ngữ học đó, hầu hết các tài liệu đều nói
đến bƣớc tiến lý thuyết quan trọng là Khảo tả dân tộc học lời nói (The
ethnography of speaking) do Dell H. Hymes đề xuất, và sau đó là John
Gumperz và các học trò của ông tiếp nối. Các nhà nghiên cứu theo hƣớng này
chú trọng việc quan sát tham dự các diễn ngôn diễn ra tự nhiên trong ngữ

19


cảnh văn hóa để từ đó đánh giá năng lực giao tiếp, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.
Theo họ, các kỹ năng ấy không đơn thuần là các tri thức ngữ pháp trừu tƣợng


góp nhiều khái niệm quan trọng nhƣ cộng đồng nói năng, sự kiện lời nói,
hành động ngôn từ v.v cho ngôn ngữ học nhân chủng.
Nhƣ vậy, từ nhận thức giản đơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn
hóa, giữa ngôn ngữ và xã hội bắt nguồn từ những tƣ tƣởng mang tính hàn lâm
của các nhà triết học Đức thế kỷ XIX, tiếp đến những tƣ tƣởng mang tính gợi
mở của Boaz rồi đến Sapir và Whorf, trải qua gần một thế kỷ, đến nay giới
nghiên cứu đã có những bƣớc đi đáng kể trong nghiên cứu mối quan hệ phức
tạp này.
Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, nội dung nghiên cứu của ngôn ngữ học
nhân chủng, nhƣ vậy, không phải chỉ đề cập đơn thuần đến mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và văn hóa và/hoặc giữa ngôn ngữ và xã hội mà nó còn là việc xem
xét cách gắn kết hay tương tác giữa ba thành tố ngôn ngữ, văn hóa và xã hội
trong mối liên hệ ấy. Như vậy, có thể nói việc chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn
ngữ và văn hóa và/hoặc giữa ngôn ngữ và xã hội cũng như việc đồng thời chỉ
ra cách thức gắn kết hay tương tác giữa ba thành tố đó chính là nhiệm vụ hay
nội dung nghiên cứu của ngôn ngữ học nhân chủng hiện nay.
1.2.4. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ học nhân chủng và một số chuyên
ngành ngôn ngữ học khác
Ngôn ngữ học nhân chủng có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chuyên
ngành ngôn ngữ học khác. Nói một cách chính xác hơn là nó kế thừa rất nhiều
những khái niệm, thuật ngữ, kết quả nghiên cứu, thậm chí cả một số nội dung
nghiên cứu của các chuyên ngành khác theo cách riêng của mình. Đồng thời,
do là một phân ngành ngôn ngữ học, nó cũng sử dụng những phƣơng pháp
nghiên cứu chung của ngôn ngữ học nhƣ những phân ngành khác.
Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nhân chủng quan tâm đến
các diễn ngôn diễn ra trong bối cảnh tự nhiên, nên phân tích diễn ngôn và các
vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn cũng nằm trong mối quan tâm của

21



thế kỷ XX, hệ thuật ngữ của ngôn ngữ học xã hội đã xuất hiện một cách chính
thức [67,9].
Mặt khác, ngƣời ta cũng đã từng cố gắng kết hợp ngôn ngữ học nhân
chủng và ngôn ngữ học xã hội lại với nhau. Mà ở đây phải kể đến những nỗ
lực của Gumperz và Hymes (1964) trong việc xác định một lĩnh vực liên
ngành xung quanh vấn đề sử dụng ngôn ngữ nhƣ là đối tƣợng nghiên cứu
[158,13]. Nhƣng những cố gắng ấy vẫn chƣa thành.
Trong khi đó thực tế các nhà ngôn ngữ học xã hội thì đã, đang và sẽ
tiếp tục nghiên cứu với các vấn đề mang tính đặc trƣng nhƣ: sự lựa chọn ngôn
ngữ của cộng đồng, sự thay đổi ngôn ngữ dƣới tác động của các nhân tố xã
hội, các ngôn ngữ lai tạp pidgin và creole, hay là kế hoạch hóa ngôn ngữ,
chính sách ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ v.v. Còn những vấn đề nhƣ ngôn
ngữ và giới, hành động nói năng, diễn ngôn tự nhiên v.v thì đã, đang và sẽ là
đối tƣợng của ngôn ngữ học nhân chủng. Nhƣ thế, xét ở mặt lĩnh vực ngôn
ngữ là đối tƣợng nghiên cứu của mỗi phân ngành, chúng có những khác nhau
nhất định.
Tuy vậy, vẫn có những vấn đề và phạm vi nghiên cứu giữa chúng giống
nhau khiến cho ngôn ngữ học nhân chủng đôi khi có thể bị hiểu nhầm là
trùng với đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội. Nhƣng thực tế là tuy
cùng đối tƣợng nhƣng mục tiêu của hai phân ngành này có sự phân biệt nhất
định. Theo đó, ngôn ngữ học nhân chủng xem xét ngôn ngữ thông qua các
đặc điểm văn hóa - xã hôi của cộng đồng, giải thích ngôn ngữ để từ đó làm
sáng tỏ những đặc điểm văn hóa - xã hội đằng sau việc sử dụng ngôn ngữ,
đằng sau những dạng thức của từ ngữ hay phong cách khác nhau. Đó chính là
một phân ngành lột bỏ lớp vỏ bên ngoài của một ngôn ngữ để tìm ra những
hiểu biết về văn hóa - xã hội ở cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó.

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status