(Luận văn thạc sĩ) Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGUYỄN VIẾT CƯỜNG

NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGUYỄN VIẾT CƯỜNG

NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên nghành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH THẾ HƯNG

HÀ NỘI, năm 2019


2.4. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong các giai đoạn của tố tụng hình sự ...... 34
2.5. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội ........................................ 42
CHƯƠNG 3.

MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM

THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI .............................. 54
3.1. Một số yêu cầu bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội .............. 54
3.2. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong
thực tiễn ........................................................................................................... 56
3.3. Một số giải pháp khác .............................................................................. 63
KẾT LUẬN ................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

HĐXX

: Hội đồng xét xử

SĐVT


XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang Cải cách tư pháp trong bối cảnh xây xựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân - một Nhà nước mà ở đó quyền
con người trong đó có quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự được tôn
trọng và bảo vệ. Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây
dựng cho được hệ thống pháp luật thống nhất, chặt chẽ và đồng bộ. Pháp luật tố
tụng hình sự với tư cách là cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội
phạm nhằm phát hiện xử lý tội phạm, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người cũng
cần đáp ứng yêu cầu đó.
Pháp luật tố tụng hình sự đáp ứng các đòi hỏi của nhà nước pháp quyền,
trước hết thể hiện ở chỗ hệ thống nguyên tắc của nó với tư cách là những quan điểm
chỉ đạo làm nền tảng và xuyên suốt các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, hoạt
động tố tụng hình sự cần được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ. Là các nguyên
tắc cơ bản, cốt lõi và quan trọng của tố tụng hình sự. Trong hệ thống các nguyên tắc
của tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội đóng vai trò hết sức quan trọng và
có thể nói đây là một trong những nguyên tắc cơ bản và là trụ cột chính kiến tạo nên
hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Việc nghiên cứu nguyên tắc này trên cả
ba phương diện: lý luận, lập pháp và thực tiễn có vai trò rất lớn trong việc hoàn
thiện pháp luật tố tụng hình sự cũng như hoạt động áp dụng nó nhằm đạt được mục
đích của tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đã
mặc nhiên thừa nhận nguyên tắc SĐVT và coi nó là một trong những nguyên tắc
của tố tụng hình sự của quốc gia mình. Không loại trừ nước ta, Nguyên tắc suy đoán
vô tội được pháp luật Việt Nam ghi nhận một cách đầy đủ trong Bộ luật TTHS Việt

số giải pháp bảo đảm thực hiện các quy định về SĐVT trong thực tiễn là rất cần
thiết hiện nay.
Nhận thức như vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong
tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, hiện nay các công trình, bài viết của các nhà khoa học về
nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật TTHS vẫn còn hạn chế. Các bài viết này

2


được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau nhưng về cơ bản vẫn
cùng một nội dung, mục đích chung là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân, quyền của người bị buộc tội. Bảo đảm các cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thực hiện đúng quy định BLTTHS trong quá trình tố tụng.
Một số bài viết, công trình nỗi bật cụ thể, như: Luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền
con người bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự” của Nguyễn Quang Hiền; Bài
viết “Nguyên tắc suy đoán vô tội” trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2006
của PGS TS Nguyễn Thái Phúc; Bài viết “Các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt
Nam” của GS TSKH Đào Trí Úc; Bài viết “Sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô
tội trong chế định về xét xử của Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” của Ts Đinh Thế
Hưng; Bài viết “Nguyên tắc suy đoán vô tội – nguyên tắc hiến định quan trọng
trong BLTTHS năm 2015” của GS.TSKH Đào Trí Úc, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 02 (2017); “Bình luận về nguyên tắc tranh tụng
trong BLTTHS năm 2015 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi" (2015), Tạp chí Kiểm
sát, số 09, của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc; Bài viết “Bảo đảm quyền con người
trong tố tụng hình sự - Khái quát các tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt
Nam” Tác giả: PGS. TS. Trần Văn Độ Viện Nhà nước và pháp luật; "Bảo đảm
nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự" (2013) của Trịnh Tiến Việt…Tác giả Nguyễn Văn Hiện có

phương thức, giải pháp bảo đảm quyền nguyên tắc SĐVT trong quá trình tố tụng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật thực định về SĐVT; Những tài
liệu, bài viết, công trình đã được nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực SĐVT.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là Những quan điểm của Mác-Lênin,
tư tưởng của Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước
pháp quyền và Cải cách tư pháp
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ
thống, so sánh, phân tích, tổng hợp,...;Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các Hiến
pháp, BLTTHS, các văn bản pháp luật có liên quan, tham khảo các công trình

4


nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan. Trong đó, hai
phương pháp nghiên cứu và phân tích là hai phương pháp chủ đạo của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về nguyên tắc SĐVT,
những yêu cầu đặt ra đối với cơ quan THTT, chủ thể THTT trong hoạt động điều
tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra các giải pháp cụ thể trong từng giai đoạn, kiến nghị hoàn thiện quy
định pháp luật tố tụng trong giai đoạn cải cách tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và pháp luật về nguyên tắc suy đoán

ngữ nghĩa tiếng Việt thì đây là hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau. Việc “Suy đoán"
đòi hỏi phải có thông tin, dữ kiện, tài liệu, chứng cứ để khiến con người tin vào một
điều gì đó. Còn Giả định được hiểu là “cho một cái gì đó là có thật để làm căn cứ để
tiến hành làm cái gì đó”.
Theo ngôn ngữ đời thường, suy đoán là dựa vào cái này mà đoán ra cái khác.
Trong pháp luật, suy đoán là một trong những kỹ thuật lập pháp, là suy đoán pháp
lý nên phải chịu sự ràng buộc của pháp luật.
6


Cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La-mã cổ đại khi người
ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố
tụng dân sự.[13] Tư tưởng này chỉ trở thành nguyên tắc pháp luật khi khi cách Cách
mạng tư sản Pháp thắng lợi cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội:
Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm thô
bạo quyền con người trong tố tụng hình hình sự từ phía nhà nước. Suy đoán vô tội
được ví như là nguyên tắc “vàng” trong TTHS, một thành tựu vĩ đại của văn minh
nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người và chứng minh trong TTHS đã được
thể hiện trong Tuyên ngôn Nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về Quyền chính trị,
dân sự năm 1966 của Liên hợp quốc. Luật TTHS của nhiều nhà nước văn minh
cũng đã ghi nhận suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản trong luật TTHS. Nguyên tắc
này có những nội dung sau đây:
- Người bị tình nghi, bị can, bị cáo luôn vô tội cho đến khi có bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật của toà án.
- Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội, người bị tình nghi, bị can, bị
cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình.
- Mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ đều phải được giải thích có lợi cho
người bị tình nghi, bị can, bị cáo.
- Bản án không được dựa trên những chứng cứ giả định.
Hoạt động phát hiện, xử lý mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,

thấp lên cao, từ chưa biết đến biết, từ biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ, từ hiện
tượng đến bản chất…. Lê-nin đã tổng kết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - Đó là con đường biện chứng của sự
nhận thức chân lý. Trong quá trình nhận thức, con người luôn phải giải quyết các
mâu thuẫn và mục đích cuối cùng là đạt đến chân lý. Chân lý là tri thức có nội dung
phù hợp với thực tiễn khách quan mà nó phản ánh. Lê-Nin đã khái quát lý luận nhận
thức Mác-xít như sau: Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực
khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng
nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu
biết nảy sinh từ không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không
chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”.
Cũng giống như hoạt động nhận thức khác, nhận thức trong tố tụng hình sự

8


phải được bắt đầu bằng những giả thiết chứ không phải là những định kiến sẵn có.
Khi có sự kiện pháp lý đem đến sự suy đoán về dấu hiệu tội phạm các cơ quan tiến
hành tố tụng phải đặt giả thiết có thể có hoặc không có tội phạm và người phạm tội.
“Có thể” chứ không phải là “chắc chắn” phạm tội hay vô tội. Ngay cả khi một
nhân viên điều tra hay thẩm phán trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội đi chăng
nữa thì vẫn không thể vì thế mà không bắt đầu quá trình chứng minh trong tố tụng
hình sự bằng sự suy đoán. Bởi vì, nhận thức của nhân viên điều tra hoặc thẩm phán
trên là nhận thức của cá nhân anh ta về vụ án chứ không phải nhận thức của cơ quan
tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Mặt khác, nếu cá nhân điều tra
viên, thẩm phán trực tiếp chứng kiến vụ việc thì địa vị pháp lý của anh ta trong vụ
án phải là người làm chứng chứ không được là người tiến hành tố tụng.
Từ phân tích trên, có thể khẳng định nhận thức trong TTHS trước hết phải
bắt đầu bằng sự suy đoán: Suy đoán có tội và suy đoán vô tội chứ không phải là
những định kiến có sẵn là có tội hay vô tội.

hình sự không thể kết thúc mà không có kết quả pháp lý cụ thể. Cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự không thể kết thúc hoạt động tụng mà vấn đề có phạm tội hay không
phạm tội vẫn chưa thể kết luận được. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là khi kết thúc
hoạt động tố tụng hình sự phải xác định rõ ràng hoặc người bị buộc tội là có tội hay
không phạm tội. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xuất phát từ chỗ hoặc
là người bị buộc tội được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho đến khi chứng
minh được có phạm tội hoặc là người bị buộc tội bị áp dụng nguyên tắc suy đoán vô
tội cho đến khi chứng minh được là không phạm tội. Lịch sử phát triển tố tụng hình
sự trên thế giới đã không chấp nhận nguyên tắc suy đoán có phạm tội và đã phát
triển theo hướng nhân đạo và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội. [19]
Từ những quan điểm khoa học pháp lý đó, pháp luật TTHS Việt Nam đã tiếp
thu tư tưởng tiến bộ và ghi nhận SĐVT là một trong những nguyên tắc cơ bản của
luật TTHS để bảo đảm quyền con người và hoạt động TTHS.
Trước khi BLTTHS 2015 ra đời thì thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được
quy định chính thức trong bất cứ điều luật điều luật nào. Tuy nhiên một phần của
nội dung và tư tưởng của nguyên tắc cũng đã được xuất hiện ở một số văn bản quy
phạm pháp luật cũ. Trước tiên tại thông tư số 2252/HCTP ngày 29/10/1953 cho

10


rằng “Không nên có định kiến rằng, hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối
xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để toà án có thái
độ hoàn toàn khách quan”. BLTTHS năm 1988 ra đời đã quy định rõ hơn nội dung
này tại điều 10: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có
bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Hiến pháp 1992 kế thừa và
khẳng định lại tinh thần SĐVT một lần nữa tại Điều 72: “Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật.[36]
Trong Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2001 nội dung của nguyên tắc SĐVT

SĐVT được xác định rõ gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Khắc
phục được những hạn chế của BLTTHS 2003 khi không xác đinh rõ ai là người
được SĐVT. Ngoài những chủ thể đầu tiên được SĐVT là bị can, bị cáo, Bộ luật
hiện hành đã bổ sung người bị tạm giữ và người bị bắt cũng là hai chủ thể được
SĐVT. (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS). Người bị tạm giữ, người bị bắt là người
tại thời điểm tạm giữ hay bị bắt họ chưa có bất cứ lời buộc tội nào từ phía cơ quan
tố tụng, chỉ được biết như là tình nghi và có các căn cứ liên quan đến việc phạm tội.
Việc ra các lệnh, quyết định bắt, tạm giữ như là một lời buộc tội gián tiếp đối với
họ. Do đó, việc quy định thêm hai chủ thể này được SĐVT là phù hợp. Về cơ bản,
Bộ luật hiện hành đã thể hiện đầy đủ phạm vi của các chủ thể cũng như thời gian
được SĐVT
1.1.2. Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội.
Suy đoán vô tội là nguyên tắc có tính nền tảng của tố tụng văn minh, vì thiếu
nó chúng ta không thể đến được tư pháp công bằng và nhân đạo. BLTTHS 2015
quy định nguyên tắc SĐVT rất ngắn gọn (có 90 từ), nhưng hiểu như thế nào là đúng
để thực hiện mới là vấn đề mà cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố
tụng cần quan tâm. Vì đến nay, chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hướng dẫn thực hiện nguyên tắc này. Theo nhận thức của chúng tôi, nguyên
tắc “Suy đoán vô tội” có các nội dung chính sau đây:
1.1.2.1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 và có bản án kết tội
của Tòa án có hiệu luật pháp luật.
Một là, yêu cầu về lỗi phải được chứng minh theo trình tự thủ tục. Đây là yêu

12


cầu đầu tiên của nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì việc điều tra, truy tố và xét xử một người phải
được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [41]. Bộ luật TTHS

dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Tòa án thực hiện quyền tư pháp thông qua
hoạt động xét xử để giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Tòa án chính là cơ quan
duy nhất trong bộ máy nhà nước có quyền ra bản án kết tội khi có các căn cứ theo
quy định pháp luật. Tính duy nhất của Tòa án thể hiện ở chỗ ngoài Tòa án ra, không
có bất cứ cơ quan nào khác có thể ra quyết định đó, kể cả Quốc hội, chính phủ..vv
Như vậy chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội
bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
Bản án là một văn bản pháp lý ghi nhận phán quyết của Tòa án đánh dấu sự
kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử, và phản ánh những kết quả của
phiên tòa, ý kiến phân tích, kết quả tranh tụng và đánh giá của hội đồng xét xử. Bản
án quyết định bị cáo là người có tội hoặc không có tội.
1.1.2.2. Trách nhiệm chứng minh lỗi của người bị buộc tội thuộc về các cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải
chứng minh mình là vô tội
Trách nhiệm chứng minh tội phạm được quy định tại Điều 15 BLTTHS 2015
theo đó “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là
mình vô tội”..vv
Có thể thấy, quy định trên không chỉ thuộc nội dung nguyên tắc xác định sự
thật của vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc SĐVT. Bởi vì, cùng với việc
khẳng định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự, thủ tục do BLTTHS năm 2015 quy định và có bản án kết tội của tòa
án đã có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị buộc tội không có
nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Trách nhiệm chứng minh này thuộc
về bên buộc tội. Như vậy, để có thể ra một trong các quyết định khởi tố, điều tra,
truy tố…đòi hỏi các cơ quan THTT phải có trách nhiệm chứng minh và xác định rõ
ràng các căn cứ là có tội được quy định trong BLHS. Trường hợp nếu xác minh
không đủ các căn cứ để ra một trong các quyết định trên thì cơ quan tố tụng phải ra
quyết định trả tự do hoặc tuyên bố người bị buộc tội không phạm tội.


oan còn hơn bỏ lọt”, BLTTHS năm 2015 mở ra một hướng mới cho những trường
hợp còn tồn tại những hoài nghi.

15


Người đã thực hiện một hành vi phạm tội trên thực tế vẫn có thể được tuyên
bố là người không phạm tội nếu các cơ quan THTT không thể chứng minh bằng các
chứng cứ xác thực theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định người đó đã
thực hiện hành vi phạm tội. Người được tòa án tuyên bố không phạm tội có thể vẫn
là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng do không thể chứng minh người đó
đã phạm tội nên tòa án buộc phải tuyên bố người đó không có tội
1.1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội
1.1.3.1. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội trong chứng minh.
Nguyên tắc suy đoán vô tội có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong
quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng. Nguyên tắc
SĐVT giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo
trình tự thủ nhất đinh và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi
phạm tội. Bởi mọi sai lầm trong chứng minh nhiều đều ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích đến người bị buộc tội, một số trường hợp có thể phải trả giá bằng sinh mệnh của
con người. Việc định kiến đối với người bị buộc tội là người có tội là hết sức nguy
hiểm. Nó đồng nhất người bị buộc tội là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng
các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người
mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội. Lúc đó, có
bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp
được toàn bộ.
1.1.3.2. Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong việc bảo vệ quyền con
người
Dưới góc độ Quyền con người, nguyên tắc SĐVT có ý nghĩa quan trọng.
Một là thể chế hóa được các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước

Bảo đảm mọi người được sự tôn trọng, công bằng, khách quan và tính nhân đạo của
pháp luật TTHS và hình sự Việt Nam.
1.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc suy đoán vô tội và một số nguyên tắc
khác trong tố tụng hình sự.
1.2.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa.
Nguyên tắc SĐVT có quan hệ mật thiết với nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa. Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng và thiết yếu đối với
người bị buộc tội. Đây là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự trao cho họ để có thể

17


tự bảo vệ, tự biện hộ những lời cáo buộc tự phía các cơ quan điều tra, Viện kiện
sát…Nguyên tắc SĐVT sẽ không có ý nghĩa khi không có nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa. Bên cạnh đó, sự tham gia của người bào chữa (đặc biệt là của Luật
sư bào chữa) vào các giai đoạn của TTHS là điều kiện cần thiết để bảo đảm sự bình
đẳng trên thực tế giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong các giai đoạn của quá
trình TTHS nói chung và tại phiên tòa nói riêng. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử
các vụ án hình sự ở nước ta những năm gần đây cho thấy nhìn chung việc đảm bảo
quyền bảo chữa của người bị buộc tội đã được chú trọng hơn (như cho phép người
bào chữa có mặt ngay từ khi tạm giữ người bị tình nghi). Tuy nhiên, trên thực tế
người bào chữa gặp rất nhiều trở ngại từ phía CQĐT ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ
án. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mớm cung, ép cung,
dùng nhục hình dẫn đến làm oan người vô tội đã và đang gây nhiều bất bình và bức
xúc trong dư luận xã hội. Mặt khác, theo quy định của BLTTHS thì người bào chữa
không có quyền thu thập chứng cứ mà chỉ có quyền thu thập đồ vật, tài liệu… và
các đồ vật, tài liệu này có được coi là chứng cứ hay không lại phụ thuộc vào sự
đánh giá của các chủ thể tiến hành tố tụng. Do đó, sự ra đời của nguyên tắc SĐVT
đã góp phần thống nhất và bổ sung cho ngyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, khẳng
định người bị buộc tội có quyền được chứng minh mình vô tội.

của Tòa án với tư cách là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp (xét xử). Tòa án
hay cụ thể là HĐXX chỉ có nhiệm điều hành phiên tòa và bảo đảm các bên buộc tội,
gỡ tội được thực hiện đầy đủ các quyền của mình từ đó đưa ra quyết định, Bản án
dựa trên các chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên Tòa.
Vì vậy, có thể nói nguyên tắc tranh tụng chính là cơ sở pháp lý không chỉ tạo
sự bình đẳng về thế và lực giữa bên buộc và bên bị buộc tội mà còn đề cao vai trò
trọng tài của Tòa án. Nếu không có nguyên tắc này thì sẽ không có sự bình đẳng
giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trên thực tế, và khi đó nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ
không thể phát huy được hiệu quả của mình.
1.2.3. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc xác định sự thật vụ án
Nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tăc xác định sự thật có quan hệ bổ
sung cho nhau. Xác đính sự thât của vụ án là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng
hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 15, theo đó: “Trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng…”.Quy định nguyên tắc

19


xác định sự thật nhằm mục đích không để lọt tội phạm, trừng phạt thích đáng những
người có hành vi phạm tội đồng thời không làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có nhiều quan điểm trái chiều về mối quan hệ giữa
hai nguyên tắc này, cụ thể: Nếu có nguyên tắc SĐVT thì không phải quy định
nguyên tắc xác định sự thật vụ án. Bởi hai nguyên tắc này mang hai nội dung, ý
nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, theo tác giả vẫn giữ nguyên quan điểm về mối quan hệ
bổ sung cho nhau của hai nguyên tắc này bởi mô hình tố tụng hình sự của Nước ta
là mô hình thẩm vấn và đề cao tranh tụng trong xét xử. Ngoài việc ghi nhận quyền
được im lặng, quyền bào chữa, quyền được coi là không có tội khi các cơ quan
THTT không thể kết tội,…, thì pháp luật nước ta còn quy định về trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án.
1.2.4. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc bảo đảm pháp chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status