ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
NGUYỄN THANH TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
HỒ ANH THÁI
(Qua một số tiểu thuyết tiêu biểu)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
NGUYỄN THANH TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
HỒ ANH THÁI
(Qua một số tiểu thuyết tiêu biểu)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60.22.32
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Lý Hoà Thu
Tác giả
Nguyễn Thanh Tâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề:........................................................................................................2
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi đề tài .......................................................................3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................4
5. Kết cấu đề tài ..........................................................................................................5
NỘI DUNG .................................................................................................................6
CHƢƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT ........................................6
1.1. Nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái .......................... 8
1.1.1. Khái quát chung về nhân vật và nhân vật trong tiểu thuyết .....................8
1.1.2. Quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái ...............................................10
1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .................................................................................... 12
1.2.1. Xây dựng nhân vật qua tên gọi, ngoại hình ............................................12
1.2.2. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật ............................................18
1.2.3. Miêu tả nội tâm - dòng ý thức: ...............................................................22
1.2.4. Sử dụng yếu tố kỳ ảo – tâm linh: ............................................................25
1.2.5. Miêu tả tính cách thông qua tương phản, xung đột: ..............................30
CHƢƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU .........33
2.1. Cốt truyện ......................................................................................................................... 33
2.1.1. Khái lược về cốt truyện ...........................................................................33
2.1.2.Cách tổ chức cốt truyện của Hồ Anh Thái........................................................ 38
2.2. Kết cấu .............................................................................................................................. 49
2.2.1. Khái lược về kết cấu ...............................................................................49
2.2.2. Kết cấu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái ...................................................54
1.2. Hồ Anh Thái là một trong những tên tuổi đáng chú ý của văn xuôi trong
hơn hai mƣơi năm đổi mới và văn xuôi đƣơng đại. Với cƣơng vị là Tổng thƣ ký
hội nhà văn Hà Nội, là nhà ngoại giao, TS văn hóa Phƣơng Đông, ông đã từng
nhận nhiều giải thƣởng về của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam, giải thƣởng văn học của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt
Nam. Với hơn 30 năm miệt mài sáng tạo, Hồ Anh Thái đã khẳng định vị thế của
mình trên văn đàn Việt Nam với cả hai mảng tiểu thuyết và truyện ngắn. Tuy
nhiên, nhà văn dƣờng nhƣ gây ấn tƣợng hơn bởi thể loại mang sức nặng của câu
chữ và sự kiện. Nhiều tiểu thuyết của Thái gây tiếng vang lớn và đƣợc dịch ra
nhiều thứ tiếng. Có thể nói Hồ Anh Thái đã có những đóng góp to lớn cho nghệ
thuật tự sự của tiểu thuyết đƣơng đại với một lối viết và giọng điệu mới mẻ. Với
những quan niệm độc đáo về tiểu thuyết, Hồ Anh Thái đã góp phần không nhỏ
trong việc xây dựng nghệ thuật tự sự cho tiểu thuyết đƣơng đại. Ông coi viết văn
là một nghề, là một “nghiệp”. Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông đều là những nấc
thang đi lên, là cả một quá trình vận động thẩm mỹ về ý thức viết tiểu thuyết.
Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thoát khỏi mọi ràng buộc mang tính quy phạm, nhà
văn thỏa sức sáng tạo với những đề tài mang đậm tính chất thế sự đời tƣ, những
trăn trở của con ngƣời trƣớc cuộc sống bộn bề cũng nhƣ thỏa sức tung hứng
1
trong “trò chơi” của nghệ thuật tự sự. Hồ Anh Thái quan niệm: “Với tôi, tiểu
thuyết là một giấc mơ dài”. Sự bộc bạch này đã phần nào lý giải cho khuynh
hƣớng sáng tạo cũng nhƣ bút pháp phúng dụ, huyền thoại và tƣợng trƣng mà nhà
văn đã sử dụng khi viết tiểu thuyết.
1.3. Nhƣ vậy, những cách tân và thành tựu nghệ thuật của tiểu thuyết hơn hai
mƣơi năm đổi mới đã đƣợc giới phê bình văn học cũng nhƣ nhiều bạn đọc công
nhận, chú ý. Tuy nhiên, cho đến nay những công trình nghiên cứu tổng quát về
tiểu thuyết trong hơn hai mƣơi năm đổi mới cũng nhƣ những công trình nghiên
cứu về những cây bút cách tân nhất nhƣ Hồ Anh Thái vẫn còn quá ít và chƣa
Hƣơng (2007) “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái”; Nguyễn
Thị Vân (2005) Nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái… Song, những luận văn
này mới nghiên cứu một khía cạnh của tự sự hay chỉ là sự tìm hiểu ở một tác
phẩm tiểu thuyết, một tập truyện ngắn… mà chƣa có công trình nào nghiên cứu
một cách hệ thống về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Ngay
cả đến luận văn có sức khái quát lớn của Nguyễn Thị Hải Huyền (2007), mang
tên “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái (qua một số tác phẩm
tiêu biểu)” cũng có giới hạn trong việc tiếp cận các bình diện của nghệ thuật tự
sự, nhất là chƣa khảo sát đƣợc các tiểu thuyết mới đƣợc bạn đọc yêu thích nhƣ:
Mười lẻ một đêm, Đức Phật, nàng Savitri và Tôi.
Từ đó, luận văn mong rằng sẽ góp một cách nhìn toàn diện hơn về nghệ
thuật tự sự của Hồ Anh Thái cùng những đóng góp của ông cho tiểu thuyết
đƣơng đại qua việc khảo sát những tiểu thuyết đƣợc dƣ luận quan tâm.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quan điểm của nhà văn về hiện thực, con ngƣời và nghệ thuật
của Hồ Anh Thái. Từ đó, tìm hiểu sự quy chiếu của quan điểm đó tới nghệ thuật
tự sự trong sáng tác tiểu thuyết của nhà văn.
Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong sáng tác của một nhà văn là một hệ
thống chặt chẽ và phong phú các nguyên tắc, hình thức nghệ thuật. Đây cũng là
một phƣơng pháp nghiên cứu hiện đại, đƣợc đánh giá cao trong ngành lý luận
3
văn học. Do vậy, ngƣời viết mong muốn đi sâu tìm hiểu đƣợc cách bình diện
khác nhau của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
Qua đó tổng hợp những đóng góp về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ
Anh Thái cũng nhƣ vai trò của ông trong sự vận động của văn xuôi Việt Nam
đƣơng đại.
thuật loại hình tự sự trong dòng chảy Văn học Việt Nam đƣơng đại cũng nhƣ
Văn học Việt Nam nói chung.
4.2.
Phƣơng pháp so sánh văn học
Sử dụng Phƣơng pháp này giúp ngƣời viết có thể so sánh đối chiếu và nhận thấy
rõ hơn nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái với nhiều tác giả cùng
thời.
4.3. Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp
Phƣơng pháp này đƣợc ngƣời viết sử dụng trong việc xây dựng các luận điểm,
luận cứ. Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đƣợc nghiên cứu trên
nhiều phƣơng diện. Do đó, một mặt phải phân tích để đi sâu, làm rõ các luận
điểm, mặt khác phải khái quát hóa, hệ thống hóa để rút ra nhận xét tổng hợp về
phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn gồm có ba chƣơng sau:
Chƣơng 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chƣơng 2: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Chƣơng 3: Phƣơng thức trần thuật
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
Có thể thấy từ đầu thế kỉ XX đến nay ngƣời ta đã sáng tạo, đề xuất và giải quyết
rất nhiều vấn đề then chốt của lí luận văn học hiện đại mà những thế kỉ trƣớc
chƣa đƣợc làm sáng tỏ. Đó là vấn đề hoạt động văn học, cấu trúc tác phẩm, hệ
thống chủ thể, cách thức tồn tại, phƣơng diện tâm lí, hệ thống kí hiệu, bản chất
của chủ thể sản sinh và đối tƣợng tiếp nhận tác phẩm tự sự. Các bình diện mà nó
tìm hiểu bao gồm “nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối
quan hệ của chúng. Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt
văn tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.Genette). Trong nghĩa hạn định
này “Narratology” – tự sự học không quan tâm bản thân câu chuyện mà tập trung
sự chú ý vào diễn ngôn tự sự, tức là chỉ nghiên cứu văn bản tự sự ... Bản chất của
tự sự ngày nay đƣợc hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra đơn
phƣơng trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin đƣợc phát ra, và
tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phƣơng thức, con đƣờng.
Tự sự học chia làm ba giai đoạn: Tự sự học kinh điển (giai đoạn những năm
60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỷ XX). Vào những năm 90 về
sau, tự sự học bƣớc sang giai đoạn hậu kinh điển. Tự sự học hiện đại manh nha
hình thành từ cuối thế kỉ trƣớc. Cho đến nay, tự sự học hiện đại có thể chia làm
ba thời kì: Tự sự học trƣớc chủ nghĩa cấu trúc (tự sự học nghiên cứu các thành
phần và chức năng của tự sự), tự sự học cấu trúc chủ nghĩa (lấy ngôn ngữ học
làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, mục đích là nghiên
cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự mà không cần đối chiếu
giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan)và tự sự học hậu cấu trúc chủ
nghĩa (gắn liền với kí hiệu học, hình thức tự sự là phƣơng tiện biểu đạt ý nghĩa
của tác phẩm. Tƣ tƣởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M.Bakhtin. Các
tác giả nhƣ Iu.Lotman, B.Uspenski, cũng theo hƣớng này)
Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ
Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình. Nhóm một là những nhà tự sự
học chịu ảnh hƣởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga. Nhóm thứ hai lấy
7
G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay
viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của ngƣời trần thuật đƣợc coi là quan trọng
nhất. Họ chú ý lớp ngôn từ của ngƣời trần thuật với các yếu tố cơ bản nhƣ điểm
học không chỉ là hình thức đơn thuần mà nó còn bao hàm cả nội dung, tƣ tƣởng
và quan niệm của nhà văn về con ngƣời, về thế giới. Nói cách khác, nhân vật
chính là phƣơng tiện khái quát các tính cách, số phận con ngƣời và quan niệm
của nhà văn về chúng.
Xét trên phƣơng diện thể hiện đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng, cảm hứng,
nhân vật văn học đƣợc chia thành nhân vật chính – phụ, nhân vật trung tâm; xét
về mặt ý thức hệ có: nhân vật chính diện – phản diện, trên phƣơng diện kết cấu,
hệ thống hình tƣợng bao gồm phạm vi rộng lớn hơn: nhân vật chức năng, nhân
vật loại hình và nhân vật tính cách...
Nhƣ vậy, nhân vật văn học là hình thức văn học để phản ảnh hiện
thực, phản ánh quan niêm về con ngƣời của tác giả. Hình thức ấy đƣợc thế hiện
dƣới nhiều phƣơng tiện nghệ thuật nhằm thể hiện những khía cạnh đa chiều và
phong phú của cuộc sống.
Tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, “với khả năng phản ánh một cách toàn
vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi” và “khả năng
đi sâu khám phá những số phận cá nhân” [7, tr.191]. Điều đó cho thấy, tiểu
thuyết mang trong nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc sống và nhân vật
là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của một tiểu thuyết.
Điểm đặc biệt làm cho nhân vật trong tiểu thuyết khác với nhân vật sử thi,
nhân vật kịch, nhân vật truyện ngắn, chính là ở chỗ “nhân vật trong tiểu thuyết là
những nhân vật từng trải, trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hành
động” [24, tr.392]. Kể từ khi tác giả đã có một nguồn phong phú của dữ liệu từ
cuộc sống của mình, nhiều nhân vật đƣợc sáng tạo nên nhờ năng lực hƣ cấu,
tƣởng tƣợng của tác giả, đó có thể là sự hóa thân của tác giả hay từ một nguyên
mẫu trong cuộc sống. Trong khuôn khổ rộng lớn của tiểu thuyết, nhân vật đƣợc
nhà văn miêu tả một cách toàn diện, tỉ mỉ theo từng bƣớc thăng trầm của số
phận. Nhân vật trong tiểu thuyết không cô lập với hoàn cảnh, không cƣờng điệu
hóa sức mạnh của mình. Nó hành động, phát triển phù hợp với logic, “lãnh đủ”
9
hạn chật hẹp và cứng nhắc của cái nhìn con ngƣời và thể hiện nhân vật trong văn
học một thời, ngƣời cầm bút đã mở ra sự phong phú đa dạng dƣờng nhƣ vô tận
cho thế giới nhân vật. Bằng nhiều cách khám phá thể hiện độc đáo, các nhà văn
10
đã khắc họa đƣợc con ngƣời cá thể một cách sinh động, đa chiều, tiếp cận đƣợc
những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, góp phần làm cân bằng, hài hòa trở
lại cách nhìn nhận con ngƣời trƣớc đây trong văn học (thƣờng nghiêng về mặt
cộng đồng, tập thể). Với quan niệm bản chất con ngƣời phức tạp, đời sống bên
trong con ngƣời là mê cung khôn lƣờng và cuộc đời con ngƣời là chuỗi mắt xích
những điều nghịch lý, ngẫu nhiên… các nhà văn đã xây dựng các nhân vật văn
học trong không gian đời sống thƣờng nhật, con ngƣời có số phận không bình
thƣờng, nhân vật không hoàn hảo, trăn trở, hoài nghi, chiêm nghiệm; những
nhân vật không chỉ đƣợc quan tâm xem xét ở số phận mà còn đƣợc quan sát kỹ
trong mối quan hệ với các vấn đề hiện thực cuộc sống. Trong hƣớng đi sâu khai
thác ấy, văn học sau 1975 thƣờng tập trung vào một số kiểu nhân vật nhƣ: nhân
vật tự nhận thức, nhân vật cô đơn, nhân vật bi kịch, nhân vật tâm linh, nhân vật
kỳ ảo, nhân vật sám hối… những kiểu nhân vật này có nhiều trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái… đã góp phần to lớn trong việc biểu biểu hiện chiều
sâu cuộc sống và con ngƣời, mở ra những thế giới nhân vật đa chiều và hƣớng
nghiên cứu mới về phƣơng thức xây dựng nhân vật của văn học sau 1975 nói
chung, tiểu thuyết nói riêng. Nhìn một cách khách quan, thực tiễn phát triển văn
học, nhân vật văn học vì vậy đã và đang có những bƣớc chuyển đổi mạnh mẽ
nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới văn học.
Cũng nhƣ nhiều nhà văn đƣơng đại, Hồ Anh Thái miêu tả con ngƣời xã
hội với những góc nhìn thẳng thắn hơn, chạm sâu vào những khu vực mà văn
học trƣớc đây thƣờng né tránh. Con ngƣời trong văn Hồ Anh Thái đƣợc sống
thực đúng với bản năng tự nhiên, với cuộc đời thực nhƣng cũng có những đồi
tự sự hiện đại, khiến các nhân vật hiện lên sinh động, đa thanh, đa dạng và đa
tính cách.
1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
1.2.1. Xây dựng nhân vật qua tên gọi, ngoại hình
Xây dựng nhân vật qua tên gọi
Sinh thời ai cũng có một cái tên, dù hay, dù không, dù ngắn, dù dài, có thể
đó là cái tên do cha mẹ đặt cho với nhiều mong ƣớc tốt lành, có thể đó là biệt
12
danh, bút hiệu do ngƣời đó tự đặt cho mình, hay thậm chí, đó là biệt hiệu, tên gọi
thông thƣờng theo đặc điểm nhận dạng… Mỗi tên gọi là một cá thể riêng biệt,
dùng khi giao tiếp. Tuy nhiên, trong văn học, tên gọi của mỗi nhân vật còn mang
nhiều chức năng và ý nghĩa khác nữa. Tên nhân vật là một yếu tố tạo nên hình
tƣợng nhân vật, trong đó thể hiện những đặc điểm, tính cách của nhân vật. Khi
nhà văn đặt tên cho nhân vật tức là đã có ý thức, có quan niệm về con ngƣời,
nhất là đối với nhân vật "có vấn đề”. Có thể xem tên nhân vật là một hoán dụ,
một ƣớc lệ về chính nhân vật ấy. “Cách đặt tên nhân vật là một dấu hiệu phản
ánh rõ quyền lực của tác giả trong việc tái hiện, miêu tả con người; cũng tức là
gắn với một quan niệm về con người mà tác giả muốn thể hiện, muốn truyền đạt
tới người đọc” [19, tr.359]. Văn Giá cũng cho rằng: “với các nhân vật, tên nhân
vật đâu phải cứ muốn đặt thế nào cũng được. Chúng là kết quả của một sự lựa
chọn có chủ ý, là một trong những biểu hiện nhất quán nằm trong thi pháp riêng
của mỗi nhà văn” [16, tr.29]. Nói nhƣ vậy không có nghĩa tất cả tên gọi của các
nhân vật đều phải có ý nghĩa trực tiếp thể hiện quan niệm của nhà văn. Tuy
nhiên, đa phần tên gọi của nhân vật lại thể hiện rõ dụng ý nghệ thuật, quan điểm,
thái độ tƣ tƣởng của tác giả, hay cao hơn, đó đƣợc đánh giá nhƣ một nghệ thuật
xây dựng nhân vật của văn học tự sự nói chung. Chẳng hạn, ta bắt gặp hình ảnh
ông Typn trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Tên gọi Typn rõ ràng đƣợc gọi
theo đặc điểm của nhân vật, vừa kèm theo thái độ trào phúng, giễu cợt của tác
Dƣờng nhƣ anh muốn xóa nhoà cá tính của từng nhân vật để chỉ ra đặc tính
chung của một loại ngƣời. Từ đó nhà văn dẫn ngƣời đọc đi tới nhận thức về cuộc
sống. Đây là một thủ pháp đắc địa đƣợc anh sử dụng thành công. Bằng tên nhân
vật, anh đã làm nên hình tƣợng nghệ thuật về “ngƣời Việt xấu xí” (Lê Hồng
Lâm). Đó là những con ngƣời thiếu bản sắc, dễ hòa tan, sống hời hợt, nhợt nhạt,
thể hiện sự nhố nhăng lai tạp, nhiều thói xấu của đời sống hiện đại. Hồ Anh
Thái không ngần ngại gọi tên nhân vật bằng những ký hiệu lấy ra từ những đặc
điểm thuộc về nghề nghiệp, tuổi tác, chức vụ, chức danh hay ngoại hình và
không hề giấu diếm nụ cƣời hài hƣớc trƣớc thói xấu của con ngƣời hiện đại.
Cách gọi tên nhân vật kiểu này có tác động lớn bởi nó thực sự đã "động chạm"
đến nhiều con ngƣời trong xã hội, đến nhiều ngƣời đọc vì có thể thấy bóng dáng
mình trong đó.
15
Trong văn học Việt Nam hiện đại, thủ pháp định danh nhân vật nhƣ vậy
đƣợc nhiều nhà văn sử dụng đắc địa: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Huy
Thiệp... Xây dựng những nhân vật với tên gọi đƣợc mã hóa mang theo cảm hứng
giễu nhại, Hồ Anh Thái, đang nỗ lực vƣợt qua ranh giới của những con ngƣời cụ
thể để chỉ ra đặc tính chung của một loại ngƣời. Từ đó, nhà văn nhƣ muốn báo
hiệu một sự đổ vỡ, một nét nhòe trong lối sống của một bộ phận ngƣời hiện đại,
và hơn thế, muốn thể hiện lòng nhiệt thành và khát khao xây dựng cuộc đời.
Những chân dung ấy hƣớng ngƣời đọc từ tác phẩm nhìn thẳng vào chính mình,
nhận ra cái xấu đang cố len chân, lấn át cái đẹp, tự nhận thức và xây dựng cách
hành xử, lối sống với chuẩn mực văn hóa, đạo đức.
Xây dựng nhân vật qua ngoại hình
Khi xây dựng nhân vật, ngoại hình nhân vật là một phƣơng diện đƣợc các
nhà văn luôn quan tâm đến bởi ngoại hình nhân vật cũng góp phần bộc lộ đời
sống nội tâm của nhân vật, tính cách của nhân vật. Ngoại hình là “hình dáng,
Trong sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng ta thấy anh không coi việc miêu
tả ngoại hình nhân vật là một thủ pháp quan trọng. Hình dáng nhân vật thƣờng
đƣợc miêu tả bằng những nét phác thảo, tuy nhiên, nó lại thể hiện đƣợc cái hồn,
tính cách cũng nhƣ dự báo về số phận nhân vật.
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật, Hồ Anh Thái chú trọng khai thác vẻ xấu
xí, dị dạng, thậm chí còn phóng to, tô đậm những đặc điểm ấy, nhà văn muốn tạo
ra ấn tƣợng mạnh đối với ngừơi đọc về phẩm cách nhân vật mà bản chất chẳng
mấy tốt đẹp. Khác với Nam Cao, tạo nên sự tƣơng phản giữa ngoại hình và tính
cách, bản chất nhân vật thì các nhân vật trong tác phẩm của Hồ Anh Thái hình
nhƣ luôn có sự đồng nhất giữa phẩm chất bên trong và hình thức bên ngoài.
Trong Mười lẻ một đêm, ngƣời đọc bắt gặp trên bể bơi một bà “đồ sộ đang phăm
phăm khởi động. Bét ra chín chục cân” nên bà có ngay hai biệt danh bà Cá Voi
hay bà Chín Yến – một mối nguy hiểm của trẻ con khi bà nhảy xuống bể bơi”.
Cũng trong tiểu thuyết này, ta gặp một mađam – vợ ông “đại sứ” có hình dung
chẳng giống ai “đầu phi dê, hai hàm răng hạt na đen nhức”, đến chỗ cửa hàng
hiệu “bà phải mủm mỉm chúm chím, khi cƣời không để lộ răng. Chúm chím mãi
thành quen, bây giờ môi bà lúc nào cũng mấp máy nhƣ ăn mít hay dính nhựa”.
17
Hình ảnh của bà khiến ngƣời đọc nhận thấy một lối ăn diện Tây – Ta lẫn lộn của
các bậc “phu nhân”, Madam mới nổi thời hiện đại. Ta cũng bắt gặp nụ cƣời mỉa
mai tƣơng tự khi nhà văn miêu tả nhân vật Diệu trong Người và xe chạy dưới
ánh trăng. Nhà văn miêu tả Diệu nhƣ “một mụ gái già cuối mùa”, khiến cho
chồng thấy ghê tởm mụ cả vẻ bề ngoài lẫn tính cách bon chen, độc ác. Cách
miêu tả nhân vật với những nét ngoại hình có phần trào lộng đã khiến ngƣời đọc
không nén khỏi nụ cƣời châm biếm về những tính cách nhố nhăng, phàm tục hay
bỉ ổi của nhân vật. Những nét xấu nhiều lúc đƣợc Hồ Anh thái phóng đại, đặc tả
nhƣ thể hiện sự tha hóa, “vật hóa” của nhân vật nhằm thể hiện dụng ý nghệ thuật
của nhà văn.
Ở giai đoạn đầu sáng tác, với đối tƣợng phản ánh là những ngƣời trẻ tuổi
thời kỳ hậu chiến, Hồ Anh Thái sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, lãng mạn,
trẻ trung pha chút tinh nghịch. Những chàng trai, cô gái trong Người và xe chạy
dưới trăng đã chiếm đƣợc thiện cảm của ngƣời đọc với những tính cách, quan
niệm sống, cống hiến trong sáng mà hết sức sâu sắc về cuộc sống, tình yêu, hạnh
phúc ngay từ lời ăn, tiếng nói. Đó là những đối thoại chân thành của hai ngƣời
bạn chí thân có những ƣớc mơ tƣơi sáng vào tƣơng lai trong Người và xe chạy
dưới ánh trăng:
“- Cậu được hăm tư điểm, chắc chắn sẽ được đi du học – Toàn bồi hồi như sắp
phải xa Minh.
- Mình sẽ gửi cho cậu một cái xích lô máy để tiếp tục hành nghề. Minh nói thản
nhiên như đó là một cam kết từ trước giữa hai người.
- Không cần đâu – Toàn cười sung sướng vì Minh vẫn không quên bạn – Mình
vào đại học, tháng được mười tám đồng học bổng là đủ sống, không cần phải
chở bia nữa” [38,tr.236]
Bên cạnh đó, Hồ Anh Thái còn tạo ra thứ ngôn ngữ rất riêng không lẫn
vào đâu trong lời đối thoại của mỗi nhân vật. Ngôn ngữ của nhân vật cũng có sự
thay đổi biến chuyển theo hoàn cảnh sống và tính cách của nhân vật ấy: Chẳng
hạn, ngôn ngữ của Minh nói với Toàn khi chia tay là ngôn ngữ của một thƣ sinh
hồn nhiên, lời lẽ chân thành “Chúng mình nên có một cam kết: Dù có hiểu nhầm,
có xích mích, thì cũng không bao giờ xa lánh nhau, hơn thế, phải thường xuyên
19