MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
4
CHƯƠNG 1
ĐỘ NHẠY CẢM CẠNH TRANH TẠI GENERAL MOTORS
I. TỔNG QUAN VỀ GENERAL MOTORS
1. Thăng trầm General Motors:
Năm 1908: GM được thành lập bởi William Durant, một nhà sản xuất xe ngựa
kéo ở Flint, tiểu bang Michigan của nước Mỹ. Ban đầu công ty chỉ có duy nhất
thương hiệu Buick, nhưng vào năm tiếp theo đã mua thêm Oldsmobile, Công ty ô tô
Oakland (sau này là Pontiac), Cadillac, và Rapid Motor Vehicle Co. (sau này là
GMC).
Năm 1919: GM Acceptance Corp. (GMAC) được thành lập để cung cấp dịch
vụ tài chính cho khách mua ô tô GM.
Năm 1948: GM ra mắt động cơ V8 đầu tiên trên thế giới, lắp cho các xe
Cadillac và Oldsmobile.
Năm 1953: Chevrolet ra mắt Corvette, mẫu xe thể thao sản xuất thực tế đầu
tiên, với giá bán 3.498 USD.
Năm 1966: GM ra mắt Pontiac Firebird và Chevrolet Camaro, hai mẫu xe “cơ
bắp” sau này trở thành biểu tượng của giới trẻ Mỹ những năm cuối thập niên 60.
Năm 1990: GM mua 50% cổ phần nhà sản xuất ô tô Thụy Điển Saab, đồng
thời ra mắt các mẫu xe Saturn đầu tiên. Đây cũng là thương hiệu mới đầu tiên của
GM trong suốt nhiều thập kỷ
Năm 2000: GM tuyên bố bỏ thương hiệu Oldsmobile.
2. Tình hình kinh doanh General Motors
General Motors là hãng xe lớn nhất thế giới và dẫn đầu về doanh số thế giới từ
năm 1931. Năm 2001, GM đã có doanh số 8.5 triệu xe và chiếm 15.1% thị phần
toàn cầu. Được thành lập năm 1908, GM có các hoạt động sản xuất tại hơn 30 quốc
gia, và các loại xe của nó được bán tại xấp xỉ 200 quốc gia. Năm 2000, công ty tạo
ra thu nhập 4.4 tỷ $ trên doanh thu 184.6 tỷ $ (xem Bảng 1 về Báo cáo thu nhập hợp
3.2 Tài chính Quý 1 – Năm 2001
Báo cáo thu nhập hợp nhất
GENERAL MOTORS CORPORATION AND SUBSIDIARIES Q1.2001 Q1. 2000
Total net sales and revenues $42,615 $46,858
Cost of sales and other expenses 34,510 37,141
Selling, general, and administrative expenses 5,390 4,857
Interest expense 2,211 2,228
Total costs and expenses 42,111 44,226
income before income taxes and minority interests 504 2,632
Income tax expense 208 783
Equity income/(loss) and minority interests (59) (66)
Net income 237 1,783
Dividends on preference stocks (28) (29)
Earnings attributable to common stocks $209 $1,754
Basic earnings (losses) per share attributable to
common stocks
Earnings per share attributable to $1-2/3 par value $0.54 $2.88
Earnings per share attributable to Class $(0.10) $(0.08)
7
Doanh thu quý 1 năm 2001 đã giảm xuống khi chi phí giảm với một tỷ lệ thấp
hơn. Các kết quả có sự khác biệt lớn trong thu nhập mỗi cổ phần EPS với các kết
quả của cùng kỳ năm ngoái. Các kết quả Quý 1 năm 2001, các kết quả nên giảm so
với các kết quả của các năm trước do sự giảm xuống đáng kể trong doanh thu so với
các năm trước. Sự giảm xuống này sẽ được thảo luận thêm trong phần phân tích của
chúng tôi trong bài này.
Hình 1.2 EPS – thu nhập mỗi cổ phần của GM
Từ tháng 12 năm 2000, doanh số bán lẻ tại Mỹ giảm trong 3 tháng liên tiếp.
Khuynh hướng này tiếp tục trong tháng 1 với tổn thất doanh thu so với các kết quả
của quý 1 năm ngoái – 4.1 %, tháng 2 với 8.1 và tháng 3 với-6.8 (Hình 1). Việc
giảm doanh số này so với năm trước đóng góp vào sự sụt giảm của ngành.Có thể có
2. Chiến lược phòng ngừa rủi ro của công ty
2.1. Mục Tiêu
Mục tiêu chính của chính sách quản trị rủi ro tỷ giá của GM là giảm thiểu các
biến động của dòng tiền và thu nhập, đồng thời tối thiểu hóa thời gian quản trị và
các chi phí dành cho quản trị FX, cân bằng quản trị FX phù hợp với hoạt động kinh
doanh ô tô của nó.
Bảng 1.1: Mục tiêu của chiến lược phòng ngừa của các công ty phi tài chính ở MỸ
(%)
By size of sales Accounting
earnings
Cash flows Balance sheet
accounts
Firm value
More than $ 6.5
billion
23 65 0 12
$6.5billion -$3.3
billion
37 58 0 5
$3.3 billion -$1.7
billion
50 38 0 12
$1.7billion -$0.7
billion
66 34 0 0
10
Less than $0.7
billion
38 43 5 14
Total 44 47 1 8
thông thường thì sẽ dẫn đến một mức giá đòi hỏi thấp hơn. Vì mức độ cạnh tranh
giữa các công ty nên việc này dẫn đến tổng lợi nhuận tăng thêm đối với các hãng xe
Nhật đạt được ở thị trường Mỹ và sẽ ảnh hưởng đến thị phần của GM. Cụ thể, khi
đồng yên bắt đầu tăng giá vào cuối năm 1998, Nhật đã bắt đầu can thiệp vào thị
trường tiền tệ mạnh mẽ vào năm 1999. Trong suốt năm đó Nhật đã mua hơn 75 tỷ$
để làm suy yếu đồng Yên. Bắt đầu vào năm 2000, sự can thiệp mạnh mẽ trên thị
trường tiền tệ kết hợp với những ý kiến thường xuyên của các quan chức Nhật Bản,
đó là sự can thiệp bổ sung, đã thành công trong việc ngăn chặn sự tăng giá của đồng
Yên. Tuy vậy, Nhật bản đã không dừng lại ở đó mà tiếp tục can thiệp và ép buộc
đồng Yên thấp hơn. Cuối năm 2001, Nhật Bản đã thành công trong việc đẩy đồng
yên xuống khoảng 135 yên cho 1 đôla.Mức mà đồng Yên đã giảm xuống yếu nhất
trong giai đoạn hiện tại.Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến thành quả hoạt động
của GM.
Báo cáo thu nhập của Honda và Toyota năm 2001 cho thấy rằng lợi nhuận của
Toyota tăng khoảng 20 tỷ yên cho mỗi đồng yên giảm giá so với Đôla. Đối với
Honda, hãng mà mức độ sản xuất cao hơn tương đối so với doanh số bán hàng tại
Mỹ, sự gia tăng là khoảng 12 tỷ yên. Sử dụng bộ dữ liệu dài hạn hơn, Morgan
Stanley ước lượng rằng sự thay đổi trong lợi nhuận là khoảng 125$ mỗi đơn vị cho
mỗi phần trăm điểm thay đổi trong giá trị của đồng Yên so với Đôla. Nếu như chỉ là
lợi nhuận được gia tăng thì các nhà sản xuất ô tô Mỹ sẽ ít quan tâm hơn. Nhưng với
doanh số ở Nhật suy giảm, các công ty ô tô Nhật Bản đã tận dụng sự suy yếu của
đồng Yên để gia tăng thị phần ở Mỹ. Trong 2 năm qua thị phần của thị trường ô tô
Mỹ đã thu hút nhập khẩu từ Nhật tăng đột ngột khoảng 1.2%. Dĩ nhiên, người Nhật
cũng đã giành được thị phần thông qua gia tăng sản lượng địa phương cái mà cũng
được hưởng lợi từ sự yếu hơn của đồng Yên. Morgan Stanley ước lượng có 0.75%
mối tương quan giữa thị phần nhập khẩu của Nhật và xu hướng trong dài hạn của
đồng Yên so với Đôla.
Để hiểu rõ hơn về những tác động của đồng Yên với GM trong giai đoạn này
ta có thể xem xét TGHĐ $/Y trong thời gian gần đây. Exhibit 4 cho ta thấy rằng
TGHĐ $/Y trong 2 thập kỷ gần đây có rất nhiều sự biến động và xu hướng rõ rệt ở
Doanh số hàng năm của Nhật tại
thị trường Mỹ (đơn vị)
4,100,000 4,100,000
Độ co giãn chéo đối với GM 33.33% 33.33%
2000 Average Incentive per Unit in 1969 1969
13
the United States – GM
Tỷ lệ chiết khấu vĩnh viễn 20% 20%
Bảng 1.2 Các giả định
Các giả định trên đây được rút ra từ tình huống. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày
cách tính một số thông số chúng tôi gián tiếp rút ra từ bài nghiên cứu:
- Độ co giãn của cầu theo giá : “ giá tăng 5% có thể kỳ vọng doanh số giảm
khoảng 10%”
E=
∆Q
∆P
=
10
5
=2
- Độ co giãn chéo đối với GM : “Feldstein giả định rằng bất kỳ thị phần nào
đánh mất vào tay các hãng xe Nhật sẽ được chia sẻ công bằng trong số và hoàn toàn
bởi ba công ty lớn ở Detroit (General Motors, Ford, và Chrysler)”.
E chéo = 1/3 = 33.33%.
- 2000 Average Incentive per Unit in the United States – GM : Hình 6 trong
bài tình huống.
- Đồng Yên giảm giá ở đây chúng tôi giả định là 20% khi đo lường độ nhạy
cảm : “khi đồng Yên giảm giá khoảng 20% sẽ đạt cận trên của độ nhạy cảm”. Theo
chúng tôi đây là một con số có thể chấp nhận vì:
Năm USD/IPY
Giá xe hơi giảm 1.80%
Giá xe hơi giảm 1.80%
Độ co giãn doanh số 2
Doanh số hàng năm của hãng xe Nhật tại thị trường US ( đơn
vị) 4,100,000
Tăng trong doanh số hãng xe Nhật ( đơn vị) 147,600
Tăng trong doanh số hãng xe Nhật ( đơn vị) 147,600
Độ co giãn chéo đối với GM 33.33%
Tổn thất vào doanh số của GM (đơn vị) 49,200
Tổn thất vào doanh số của GM (đơn vị) 49,200
Lợi nhuận mỗi xe hơi ($) $5,907
Tổn thất trước thuế của Gm ( triệu $) $291
Tỷ lệ chiết khấu vĩnh viễn 20%
Hiện giá của tổn thất ( triệu $) $1,453.12
Như vậy, với một số giả định của chúng tôi thì nếu đồng Yên Nhật giảm 20%
giá trị thì:
- Tổn thất trước thuế của GM vào mỗi năm là 291 triệu USD (khoảng 4.06%
thu nhập trước thuế của GM năm 2000).
- Hiện giá của tổn thất là 1.45 tỷ Đôla (chiếm khoản 20.3% thu nhập trước
thuế của GM năm 2000).
2.3 Phân tích độ nhạy – Hiện giá của tổn thất
Bảng 1.4 dữ liệu cho phân tích độ nhạy
Chi phí tiết kiệm được chuyển đến
người tiêu dung 15% 20% 25% 30% 35% 40%
15
Chất Nhật mỗi xe 20% 25% 30% 35% 40%
của tỷ giá để xem tác động xấu như thế nào đến GM. Chúng ta chỉ xem xét giá trị
của hiện giá của tổn thất (giá trị của GM mà có thể bị tác động do độ nhạy cảm cạnh
tranh của GM đối với đồng Yên khi đồng Yên giảm giá 20%) để từ đó tính ra độ
nhạy cảm cạnh trạnh.
1
.
Để lấp lỗ hổng này cho phân tích tình huống. Mặc dù đề bài không yêu cầu,
nhưng chúng tôi vẫn quyết định bổ sung phần sau đây để xem xét cả vấn đề dự báo
% giảm giá đồng Yên này, từ đó chúng tôi xem xét biểu đồ phân phối xác suất hiện
giá của tổn thất cho năm 2001. Từ đó xem thử ít nhất là trong thời gian ngắn hạn tới
đây, đồng Yên biến động làm cho phân phối của PV tổn thất do độ nhạy cảm cạnh
tranh là là như thế nào?
2.4 Mô phỏng Monte Carlo
Sau khi phân tích đo lường độ nhạy cảm cạnh tranh của GM đối với đồng Yên
Nhật chúng ta có thể thấy hiện giá của tổn thất
(đại lượng đặc trưng cho mức độ nhạy cảm) chiếm một phần khá lớn trong thu nhập
của GM. Từ đó nhìn chung rút ra kết luận cần thiết phải quản trị độ nhạy cảm cạnh
tranh này. Tuy nhiên như phân tích ở phần trên trước khi đưa ra một số khuyến nghị
chính sách quản trị rủi ro dài hạn khả thi có thể giúp bảo vệ GM khỏi độ nhạy cảm
cạnh tranh đồng Yên của nó.Chúng tôi sẽ đi mô phỏng giá trị % giảm giá đồng Yên
và tính toán phân phối xác suất của hiện giá tổn thất.
Hơn nữa với phân tích độ nhạy ở trên chúng ta chỉ có thể thấy được sự thay
đổi trong giá trị của hiện giá của tổn thất chứ không cho chúng ta thấy được xác
1Ở đây chúng tôi lưu ý với các bạn là chúng ta đang đi đo lường độ nhạy cảm cạnh tranh nên cách tính của
nó phức tạp hơn nhiều so với độ nhạy cảm giao dịch hay chuyển đổi. Chúng ta phải đi tính giá trị hiện giá
của “giá trị có thể bị tác động” bởi tính cạnh tranh này do sự giảm giá của đồng Yên. Chứ không có các
“giá trị có thể bị tác động” rõ như trong độ nhạy cảm giao dịch hay chuyện đổi. Phần tính độ nhạy cảm
tổng hợp của các độ nhạy của GM với rủi ro đồng Yên sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ ràng hơn.
17
suất đi kèm với các giá trị này.Phương pháp mô phỏng sau đây sẽ khắc phục được
Bảng 1.6 Độ nhạy cảm tổng hợp
Trong đó:
19
+ Độ nhạy cảm do huy động vốn bằng JPY: 500 triệu USD.
+ Độ nhạy cảm thương mại (giao dịch): 900 triệu USD.
+ Độ nhạy cảm do đầu tư vào các công ty con tại Nhật.
Chi nhánh
Độ nhạy
cảm liên
kết
Phần
góp vốn
thuộc
sỡ hữu
của GM
(tỷ $)
(tỷ $)
Fuji (1.50) 20% (0.30)
Isuzu
(1.02)
49% (0.50)
Suzuki
(0.09)
20% (0.02)
TỔNG ĐỘ NHẠY CẢM LIÊN KẾT (0.82)
Bảng 1.7 Tổng độ nhạy cảm liên kết
3. Giải pháp cho vấn đề quản trị độ nhạy cảm cạnh tranh đối với đồng Yên
của GM
3.1 Sử Dụng Chiến Lược Tài Chính Để Quản Trị Rủi Ro Độ Nhạy Cảm Cạnh
Tranh
chia sẻ rủi ro, nếu tỷ giá trong 6 tháng tới là $1 = 115 yên thì GM thay vì phải trả
120000/115 = $1043.48 nếu trong trường hợp không có sự chia sẻ rủi ro thì công ty
chỉ phải trả cho đối tác một khoản là $1021.74. Bởi vì mức dộ nhạy cảm đối với tỷ
giá của công ty trong trường hợp này là $43.48 đã được đồng ý phân chia giữa GM
và đối tác, và khoản tiền đối tác của GM chấp nhận nhận được là 1021.74*115 =
117500 yên. Và tương tự cho kịch bản tỷ giá theo chiều hướng ngược lại. Phương
thức phòng ngừa này không hoàn toàn loại bỏ được rủi ro tỷ giá mà nó chỉ đơn giản
là chia tách nó. Và phạm vi áp dụng của nó cũng chỉ được sử dụng đối với các đối
tác là những bạn hàng hay nhà cung cấp lâu năm của công ty.
3.2. Sử Dụng Real Options Để Phòng Ngừa Rủi Ro Độ Nhạy Cảm Cạnh Tranh
Sử dụng các công cụ tài chính không thể loại bỏ rủi ro nếu số lượng của dòng
tiền bằng ngoại tệ cũng không rõ ràng và không có sự tương quan hoàn hảo với tỷ
giá hối đoái. Độ nhạy cảm cạnh tranh là độ nhạy cảm trong dài hạn và cách tốt nhất
để phòng ngừa độ nhạy cảm này là sử dụng các real option.
Hiểu về real option:Các quyền chọn thực có nhiều đặc tính của quyền chọn
thông thường nhưng chúng cũng có nhiều điểm khác biệt: có các đặc quyền có giá
trị rõ ràng, nhưng thông thường thì ngày đáo hạn và giá thực hiện là không mấy rõ
21
ràng. Các quyền chọn thực thường dựa trên các tài sản cơ sở rất mập mờ và không
được giao dịch trên thị trường có tính thanh khoản hay thậm chí không thể giao
dịch.
Sử dụng chiến lược đầu tư: Trong các trường hợp mà rủi ro của công ty có
thể được kiểm soát, công ty có thể tạo ra các đầu tư thực có thể làm giảm bớt mặt
tiêu cực của đuôi phân phối lợi nhuận. Bên cạnh đó, GM có thể xem xét việc gia
tăng đầu tư vào các công ty Fuji, Isuzu và Suzuki ở Nhật. Trong trường hợp này,
nếu đồng Yên tăng giá sẽ làm cho hoạt động đầu tư của công ty tỏ ra hiệu quả hơn
vì công ty sẽ nhận về nhiều đôla hơn và ngược lại.
Sử dụng chiến lược marketing: Công ty có thể phản ứng với sự thay đổi của
TGHĐ thực sự hay đoán trước bằng cách nghĩ ra các chiến lược hoạt động bao
gồm các sáng kiến marketing khác nhau ( như việc lựa chọn thị trường hay chiến
Europe 3,346,013
Asia 1,969,957
Others 1,707,742
Bảng 2.2 Lợi nhuận ròng tính theo khu vực của Toyota công bố ngày 31/03/2007
Châu Âu là khu vực đầu tư chiếm tỷ trọng rất lớn của Toyota trên thị trường thế giới,
với doanh số đứng thứ 3 (chỉ sau Nhật và Bắc Mỹ).TME là trung tâm sản xuất của tập đoàn
Toyota tại châu Âu. TME chính thức đi vào hoạt động bán xe ô tô tại châu Âu vào năm
1963, đảm nhiệm vai trò bán sỉ và tiếp thị sản phẩm của Toyota và dòng Lexus , bộ phận và
linh kiện, và công việc sản xuất của Toyota ở châu Âu và quy trình vận hành kỹ thuật.
Toyota đã trực tiếp và gián tiếp thuê khoảng 80,000 lao động tại châu Âu và đã đầu tư
khoảng 7 tỷ Euro từ năm 1990. Trung tâm đầu não của TME được đặt ở Brussels, Bỉ, và
là trung tâm chỉ huy hoạt động của Toyota và Lexus tại châu Âu. Nó có vai trò quan trọng
như là tủy sống của hoạt động sản xuất của Toyota ở châu Âu bao gồm là khu vực đi đầu
trong lĩnh vực sản xuất và nghiên cứu, tiếp thị và bán hàng.
II. Phân tích cơ bản
1. Tình hình thị trường chung châu Âu và đồng Euro:
Từ 01/01/1999, tỷ giá hối đoái giữa đồng Euro và các đơn vị tiền tệ chính thức được
quy định không thể thay đổi. Đến ngày 01/01/2002, đồng Euro đã đi vào hoạt động chính
thức được 7 năm (đồng tiền chung châu Âu được đổi tên thành Euro từ ngày 16/12/1995).
Trong thời gian đó, đồng Euro đã được lưu thông song hành cùng các đồng tiền bản tệ của
các quốc gia khác, và đã có một vị thế đứng nhất định tại thị trường châu Âu khi đó.Điển
hình là việc các sổ tài khoản và sổ tiết kiệm được ghi chép đồng thời bằng đồng Euro và
đồng tiền cũ.Ngoài ra, cổ phiếu và các chứng chỉ tại thị trường châu Âu chỉ được phép mua
bán bằng Euro. Và việc phát hành đồng Euro đến tay người tiêu dùng bắt đầu chính thức
vào ngày 01/01/2002.Khi đưa đồng Euro vào lưu hành, thương mại và cộng tác kinh tế
giữa các thành viên trong vùng Euro sẽ vững mạnh thêm vì các rủi ro về tỷ giá hối đoái và
kèm theo đó là việc bảo hộ tiền tệ của các doanh nghiệp châu Âu sẽ không còn tồn tại nữa.
Việc này sẽ mang lại lợi thế cho người dân trong vùng Euro vì trong quá khứ thương mại là
một trong những nguồn chính của tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó người ta cũng tin rằng
giá cả của sản phẩm và dịch vụ sẽ không còn chênh lệch nhau nhiều nữa. Điều này dẫn đến
Hình 2.2 Tình hình kinh doanh của Toyota qua các năm.
Hình 2.3 Thị phần kinh doanh của Toyota qua các năm.
Có thể thấy tình hình kinh doanh của Toyota tại châu Âu ngày càng phát triển, doanh
số càng ngày càng tăng với tốc độ khá ổn định, thị phần của Toyota tại châu Âu ngày càng
được mở rộng.Toyota đã mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình ra thị trường toàn cầu
với mạng lưới sản xuất và phân phối khắp nơi trên thị trường thế giới. Thị trường châu Âu
là thị trường ngoại địa lớn thứ 2 của Toyota – chỉ sau thị trường Bắc Mỹ. Tuy nhiên với thị
trường rộng lớn như vậy mà Toyota chỉ có một nhà máy sản xuất tại nước Anh, còn lại tại
thị trường châu Âu chỉ có các công ty sản xuất và lắp ráp linh kiện, điều đó cho thấy rằng