Đánh giá việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo luật luật hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 60

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................1
I. Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản...............................1
1. khái niệm..................................................................................................................1
2. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản..............................................................................2
3. Các trường hợp được áp dụng...............................................................................3
4. Điều kiện áp dụng....................................................................................................4
II. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản.................................................................................................................................7
1. Căn cứ xác định.......................................................................................................7
2. Thẩm quyền xác định............................................................................................12
III. Thực trạng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về
vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản............................................................
1. Thực trạng xã hội...................................................................................................13
2. Những điểm tích cực và hạn chế còn tồn tại của quy định về xác định cha
mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản........................14
3. Giải pháp hoàn thiện những bất cập của pháp luật về xác định cha, mẹ, con
trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản...............................................17
KẾT BÀI....................................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................19

0


MỞ ĐẦU
Theo nghiên cứu bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội tiến hành
năm 2014, tại Việt Nam tỉ lệ vô sinh chiếm khoảng 8% các cặp vợ chồng trong độ
tuổi sinh sản. Như vậy ở nước ta có đến hàng triệu cặp vợ chồng có nhu cầu sinh
con nhưng vẫn chưa thể thực hiện được mơ ước của mình. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, thực sự đã mang lại hạnh

còn gọi là phối giống nhân tạo, gieo tinh nhân tạo, là một phương pháp hỗ trợ sinh
sản, thông qua một số biện pháp kỹ thuật, lấy tinh trùng từ người nam để pha chế,
bảo quản và bơm vào đường sinh dục (tử cung) của người nữ.
2.2. Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
Thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp điều trị hiếm muộn cho những
cặp vợ chồng không thể thụ thai một cách tự nhiên.
Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống
nghiệm để tạo thành phôi. (Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP). Hay
nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và
tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ. Đây là một
phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp
dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang
ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do gì đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng
bằng phương pháp tự nhiên …Đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô
sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao. Ngày nay, với
công nghệ tiên tiến, tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghiệm đã
được nâng lên đáng kể so với trước đây.
2


3. Các trường hợp được áp dụng
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ghi nhận: “Cặp vợ chồng vô
sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa” .Như vậy, pháp luật cho phép áp dụng biện
pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong hai trường hợp:
3.1. Đối với căp vợ chồng vô sinh
Khái niệm “vô sinh” được hiểu là “tình trạng vợ chồng sau một năm chung
sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh
thai mà người vợ vẫn không có thai”(Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐCP). Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ người đàn ông và cũng
có thể xuất phát từ người phụ nữ. Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ trước đến

hôn). Hiện nay tỷ lệ vô sinh là vô cùng lớn, chiếm khoản 10 đến 18% trong các cặp
vợ chồng. đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà cho chung cả xã hội. Nghị
định của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học không chỉ tạo điều
kiện mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý
chuyên môn và cho mọi người muốn đến điều trị vô sinh.
Sinh con cho người phụ nữ độc thân phần nào do cuộc sống hiện đại ngày
nay. Ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn kết hôn nhưng lại muốn có một đứa
con. Theo khảo sát ban đầu làn sóng sinh con theo phương pháp này bắt đầu từ giới
tri thức, người nổi tiếng, thành đạt. Tuy nhiên gần đây những người phụ nữ bình
thường cũng bắt đầu tìm đến phương pháp này khi họ không muốn kết hôn
Thứ hai, việc tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ
thuật do Bộ Y tế ban hành:
4


Sinh con theo phương pháp khoa học là một quy trình tốn kém về thời gian
và tiền bạc. Các thao tác của quá trình này yêu cầu sự nghiêm ngặt để bảo đảm chất
lượng của phương pháp. Tất cả các thao tác trong hoạt động này đòi hỏi tính chính
xác cao bởi vì nếu xảy ra sơ xót thì sẽ để lại những sai lầm nghiêm trọng. Yêu cầu
cao như vậy với mỗi thao tác nhưng cho đến này Bộ Y tế vẫn chưa ban hành được
quy trình kỹ thuật hỗ trợ sinh sản áp dụng cho các cơ sở được công nhận đủ điều
kiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vì vậy nhiều cơ sở vẫn còn lung túng trong việc thực
hiện.
Thứ ba, việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: cho noãn, nhận noãn, cho
tinh trùng, nhận tinh trùng, cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc
tự nguyện:
Các bên tham gia phải tự nguyện ở đây là sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô
sinh và người cho noãn, tinh trùng. Các bên tham gia phải ký thỏa thuận giữa người
cho noãn, có chữ ký đầy đủ của vợ, chồng (nếu có) người cho và vợ chồng người
nhận hoặc bản cam kết cho tinh trừng giữa người cho với cơ sở y tế lưu trữ tinh

Hiện nay đại đa số các quốc gia trên thế giới cấm sinh sản vô tính ở người Ngày
01/03/2001, Nghị định thư về cấm sinh sản vô tính ở người đã có hiệu lực chính
thức sau khi được cơ quan lập pháp của 5 nước thông qua là Tây ban Nha, Hy Lạp,
Slovakia, Sloenia đây là thỏa thuận đầu tiên về cấm sinh sản vô tính ở người được
áp dụng. Ngày 04/12/2001, Anh ban hành đạo luật nhân bản người, đạo luật này
không cấm tuyệt đối nhân bản người mà chỉ không cho phép đưa phôi nhân bản
vào tử cung phụ nữ. Như thế, các nhà khoa học vẫn có thể sử dụng phương pháp
này trong nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam Nghị định về sinh con theo phương

6


pháp khoa học thì sinh sản vô tính được quy định là một trong những hành vi bị
nghiêm cấm.
Thứ sáu, tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người:
Việc này nhằm hạn chế tối đã những đứa trẻ có cùng huyết thống nhưng
được sinh ra từ những gia đình khác nhau mà trên mặt pháp lý lại không phải là anh
chị em ruột. Quy định này vẫn đảm bảo tính bảo mật riêng tư của người cho nhưng
lại phải đòi hỏi địa chỉ rõ rang của người nhận. Vì vậy đòi hỏi cơ quan y tế thực
hiện quy trình này này phải có trách nhiệm, cẩn thận trong bảo quản và vận chuyển
để bảo đảm chỉ sử dụng cho một người duy nhất mà thôi.
Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 12/2003/NĐ-CP
không chỉ ghi nhận thêm quyền mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà còn bổ sung
thêm nguyên tắc bảo đảm an toàn bí mật đời tư, bí mật cá nhân và gia đình của tất
cả các bên khi tham gia vào quan hệ mang thai hộ. Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ra
đời cho thấy được sự tiến bộ quan trọng và cần thiết của pháp luật Việt Nam.
II. Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về xác định cha, mẹ, con trong
trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Căn cứ xác định
1.1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô

trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên
sự mong muốn của người đã khuất. Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải
con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của đứa
trẻ, ví dụ như quyền thừa kế di sản của người cha để lại. Ngoài ra, pháp luật hiện
nay cũng chưa có quy định cụ thể về việc đang trong quá trình thực hiện kỹ thuật
8


hỗ trợ sinh sản mà người chồng bị tuyên bố mất tích thì người vợ có được tiếp tục
thực hiện và nếu thực hiện thì xác định cha, mẹ, con như thế nào.
Mặt khác, chỉ khi có sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh thì mới được áp
dụng việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trên tình thần tự nguyện, người
vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp
kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác.
Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường
hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng.
1.2 Xác định cha mẹ con trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp
khoa học được áp dụng theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP về sinh con bằng ký
thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ về mục đích nhân đạo.
Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 10/2015 NĐ-CP quy định: “Phụ nữ độc thân là
người phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự tự nguyện và
sự kiện sinh đẻ của chính họ
Khoản 2, điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong
trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì
người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”
Như vậy việc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ
nữ độc thân sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng tương tự như

Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta cũng có thể xác định được mối quan hệ cha
– con cho đứa trẻ được sinh ra bằng phương pháp khoa học khi người mẹ độc thân
10


sau khi mang thai lại kết hôn. Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia
đình: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì
hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, trong trường hợp người mẹ độc
thân mang thai đứa con bằng phương pháp sinh con khoa học nhưng sau đó kết hôn
và sinh con trong thời kì hôn nhân thì đứa con được xác định là con chung của vợ
chồng, nghĩa là khi đó mối quan hệ cha – con được mặc nhiên thừa nhận cho dù
đứa con không có cùng huyết thống với người chồng
Theo khoản 1 điều 88 Luật Hôn nhân gia đình: “Con sinh ra trước ngày
đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng”, nghĩa
là trong trường hợp người mẹ độc thân mang thai và sinh con sau đó mới kết hôn
thì đứa con cũng được xác đinh là con chung nếu người chồng thừa nhận (nếu
không được người chồng thừa nhận thì đứa trẻ được xác định là con riêng của
người vợ). Như vậy, khi người phụ nữ độc thân sinh con bằng phương pháp khoa
học thì ngoài mối quan hệ mẹ - con, chúng ta cũng có thể xác định mối quan hệ cha
con cho đứa trẻ
1.3. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo
Theo Điều 94, Luật HN và GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong trường hợp
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể
từ thời điểm con được sinh ra”. Như vậy, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ
mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra.
Đứa trẻ được coi là con chung của vợ chồng từ thời điểm đứa trẻ được sinh
ra. Người mang thai hộ vẫn được công nhận là mẹ của đứa trẻ cho đến khi nó ra
đời. Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ không được coi là cha mẹ của đứa trẻ cho


Theo Điều 101 Luật HN và GĐ năm 2014 quy định về thẩm quyền xác định
cha, mẹ, con:
- Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của
pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có
tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp
quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan
đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong
quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự.
III. Thực trạng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về
vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1 Thực trạng xã hội
Tại Việt Nam cơ cấu dân số trẻ đang chuyển sang giai đoạn già hóa, dự báo
nước ta sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt dân số đáng kể khi hiện có gần 1 triệu cặp
vợ chồng bị vô sinh hiếm muộn con số từ 7 nghìn đến 1 triệu tương đương 7,7%
cặp vợ chồng vô sinh trên cả nước được Thứ trưởng Bộ Y tế Giám đốc Bệnh viện
Phụ sản Trung ương Nguyễn Viết Tiến công bố vào tháng 12 năm 2014.
Về số lượng vô sinh hiếm muộn cũng đang có dấu hiệu gia tăng trong những
năm gần đây. Theo số liệu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương nếu như khoảng 10
năm trước đây trung bình mỗi tuần có hai đến ba cặp vợ chồng đến điều trị các vấn
đề về vô sinh hoặc hiếm muộn tại các bệnh viện thì đến thời điểm hiện tại con số
này đã lên đến 40 - 60 cặp vợ chồng tương đương 10 đến 15 cặp vợ chồng trên
ngày. Cũng theo nghiên cứu bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội
13


tiến hành năm 2014 trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49

họ khi họ không thể sinh con bằng con đường tự nhiên. Đối tượng được áp dụng
trong trường hợp này là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân muốn sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Có thể nhận thấy một điều đặc biệt mới của việc sinh con theo phương pháp
khoa học là pháp luật cho phép người phụ nữ độc thân cũng được áp dụng biện
pháp hỗ trợ sinh sản và thừa nhận mối quan hệ mẹ con hợp pháp. Đây là một quyền
lợi rất chính đáng của người phụ nữ khi họ không mong muốn hoặc không có cơ
hội kết hôn mà vẫn có thể thực hiện được thiên chức của mình. Nếu như trước đây
khi chưa có cơ sở pháp lý cho vấn đề này thì người phụ nữ độc thân vẫn có thể thực
hiện được thiên chức của mình nhưng điều đó có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc của
một gia định khác đặc biệt là có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người phụ nữ
khác thì hiện nay nếu đã sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản họ sẽ được thực hiện
thiên chức của mình mà không có ảnh hưởng đến quyền lợi của bất kì ai. Ngoài ra
quy định này còn có mặt tích cực đó là giữ gìn thuần phong mỹ tục khi không cho
phép mang thai hộ vì mục đích thương mại sinh sản vô tính - những phương pháp
đi ngược lại với truyền thống cũng như đạo đức của dân tộc ta
2.2. Hạn chế
Thứ nhất, có nhiều người cha mẹ không muốn nhận con sau khi áp dụng kì
thuật hỗ trợ sinh sản khi: giữa đứa trẻ sinh ra lại không mang gen của cha hoặc mẹ
hoặc cả hai bên. Trong trường hợp này việc xác định cha mẹ cho con rất khó. Bên
cạnh đó người phụ nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế có sự nhầm lẫn trong quá trình
thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Pháp luật vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể nào để
cho phép họ được quyền yêu cầu kiểm tra lại

15


Thứ hai, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ được áp dụng khi
cặp vợ chồng đã kết hôn hợp pháp. Vì thế việc áp dụng căn cứ thời kì hôn nhân của
các cặp vợ chồng vô sinh là hợp lý khi áp dụng vào thực tế hầu hết các trường hợp

lợi của người phụ nữ mang thai hộ.
Thứ năm, nguyên tắc bí mật khi thực hiện cho nhận noãn, tinh trùng, phôi đã
bộc lộ hạn chế trong trường hợp đứa trẻ trưởng thành và kết hôn với người cận
huyết với mình về mặt sinh học hoặc trong trường hợp đứa trẻ mắc bệnh hiểm
nghèo đòi hỏi phải có sự giúp đỡ từ người mang gen điều này gây ảnh hưởng đến
quyền lợi ích của đứa trẻ cũng như xã hội.
3. Giải pháp hoàn thiện những bất cập của pháp luật về xác định cha, mẹ, con
trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Thứ nhất, cần phải bổ sung thêm quy định về việc nếu bên mang thai hộ
phát sinh các triệu chứng xấu sau sinh, tuỳ theo từng mức độ thì bên nhờ mang thai
hộ có nghĩa vụ hỗ trợ, chăm sóc sức khoẻ hoặc có nghĩa vụ cấp dưỡng một phần
cho con chưa thành niên của bên mang thai hộ.
Thứ hai, bên cạnh việc quy định các chế tài về xử lý vi phạm có tính chất
răn đe tuỳ vào từng mức độ vi phạm thì pháp luật cần có thêm quy định như:
Khuyến khích mọi người xung quanh nơi người mang thai hộ phát hiện và tố giác
hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại đến cơ quan chức năng. Đồng thời
tuyên truyền pháp luật đến mọi người dân, khuyến khích báo chí lên án mạnh mẽ
hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại đồng thời phải có những biện pháp
xử phạt vi phạm đối với những người bao che cứng rắn hơn nhằm răn đe và ngăn
chặn những hành vi trái pháp luật không được tiếp diễn.
Thứ ba, cần có sự liên hệ thông tin giữa các cơ quan chức năng, cụ thể hơn
là giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người phụ nữ độc thân thực hiện kỹ
17


thuật hỗ trợ thụ tinh trong ống nghiệm và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lưu giữ tinh
trùng, phôi của người hiến tặng để trong trường hợp cần thiết có thể bảo vệ được
quyền lợi của đứa trẻ sinh ra do người mẹ độc thân áp dụng phương pháp sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Pháp luật cần có những quy định riêng biệt đối với
những người sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khi họ kết hôn để tránh kết hôn cận

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Luật Hôn nhân và gia định năm 2014;
2. Nghị định 10/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật
thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;
3. Vũ Ngọc Huy, luận văn thạc sĩ luật học: “Xác định cha, mẹ, con trong trường
hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam”;
4. Nguyễn Thị Phương Linh, Khóa luận tốt nghiệp “Xác định cha, mẹ, con trong
trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản- 1 số vấn đề lí luận và thực
tiễn”;
5. Theo bài viết “Báo động tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam đang thuộc hàng cao nhất” của
Báo tiền phong đăng tải vào lúc 7:00 ngày 05/04/2019.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status