(Luận văn thạc sĩ) QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TẠI HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ LY LY

QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TẠI HUYỆN HIỆP ĐỨC,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ LY LY

QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TẠI HUYỆN HIỆP ĐỨC,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG DƯƠNG VIỆT ANH

HÀ NỘI, năm 2019

3.1. Mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức đến năm 2020
và những năm tiếp theo ................................................................................... 59
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo
dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức.................................................................... 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

NSNN

Ngân sách Nhà nước

2

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

3


BHXH

Bảo hiểm xã hội

9

BHYT

Bảo hiểm y tế

10

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

11

HĐND

Hội đồng nhân dân

12

UBND

Ủy ban nhân dân

13


48


DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu
hình
2.1

Tên hình
Bản đồ hành chính huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

Trang
36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển bền vững đều phải đẩy
mạnh công tác giáo dục và đào tạo. Sứ mệnh của giáo dục và đào tạo ở nước ta phải
là nâng cao trình độ dân trí, đào tạo và phát triển nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng
nhân tài, đóng góp một cách quyết định vào sự kiến thiết phát triển quốc gia, xây
dựng con người mới Việt Nam XHCN và nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc.
Trong sự phát triển chung của xã hội thì tri thức con người được xem như là
yếu tố quan trọng có tính chất quyết định. Bác Hồ đã từng nói “Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu”, cần phải diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài để tạo ra
sức mạnh cho cả dân tộc và điều này chỉ có thể thực hiện thông qua sự nghiệp giáo
dục. Giáo dục chính là nền tảng văn hoá, là cơ sở hình thành nhân cách, phẩm chất
và ý thức của mỗi cá nhân trong xã hội. Nhân tố quyết định thắng lợi trong sự

Tuy nhiên, công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo trên địa
bàn huyện vẫn còn gặp những vấn đề bất cập. Trên cơ sở đó, tôi chọn đề tài: “Quản
lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh
Quảng Nam” nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý Chi Ngân sách nhà nước
(NSNN) cho giáo dục - đào tạo hiện nay. Đề tài nghiên cứu này đưa ra những kiến
nghị, mô hình quản lý mới để phát triển chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào
tạo huyện nhà tương xứng với tiềm năng trong thời gian đến.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý nguồn chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo hiện nay là chủ đề
được nhiều cơ quan quản lý Nhà nước và giới nghiên cứu về lĩnh vực này đã và
đang tiếp tục nhân được quan tâm. Tiêu biểu có khá nhiều công trình nghiên cứu
lĩnh vực này, có thể nêu ra như:
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục
- đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên - Thái Nguyên (Đồng Văn Tâm - 2009): Luận
văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề có liên quan về công tác quản lý chi Ngân
sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên - Thái Nguyên.
Tuy nhiên, tác giả chưa nêu bậc được nội dung chính và vai trò trong quản lý chi
ngân sân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo của các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà
nước; luận văn chưa đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản

2


lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên - Thái
Nguyên.
Chi tiêu công và phát triển bền vững (tác giả Bùi Đại Dũng, năm 2012): bài
viết này phân tích thực trạng chi tiêu công và khủng hoảng nợ công trên thế giới,
chỉ ra mối quan hệ nguyên nhân, kết quả khủng hoảng nợ công và bội chi ngân sách
nhà nước. Tác giả đã có sự đối chiếu so sánh để phân tích thực trạng nợ công cũng
như thực tiễn tình hình chi tiêu công ở nước ta nhằm nêu một số cảnh báo và đưa ra

sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và
quyết toán ngân sách nhà nước, đề tài tập trung phân tích thực trạng về công tác
Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức và đề
xuất các giải pháp để quản lý nhà nước trong giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện
Hiệp Đức thời gian đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước trên địa bàn
huyện Hiệp Đức, giai đoạn 2015 - 2018.
- Phân tích những nguyên nhân yếu kém, vấn đề bất cập và khó khăn trong
cách thức quản lý Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo ở huyện Hiệp Đức.
- Đề xuất các giải pháp nào hiệu quả nhất để nâng cao hiệu lực trong công
tác Quản lý chi ngân sách nhà nước trong giáo dục - đào tạo nhằm thúc đẩy sự phát
triển giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn hướng đến trả lời một số câu hỏi như sau:
(1) Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo gồm có những nội dung nào?
(2) Quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp
Đức, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 - 2018 đạt được những kết quả gì?
(3) Quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp
Đức, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 - 2018 có những hạn chế nào?
(4) Giải pháp để hoàn thiện Quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến là gì?
4. Đối tượng nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý Chi ngân sách nhà nước cho giáo
dục - đào tạo cấp huyện (tại huyện Hiệp Đức).
4.2. Phạm vi nghiên cứu

4




5


Từ đó, đề tài nghiên cứu kết luận và kiến nghị những giải pháp nhằm tăng cường,
nâng cao chất lượng giáo dục trong Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo của huyện nhà nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói chung.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nhận diện và làm rõ các vấn đề trong Quản lý chi ngân sách nhà nước cho
giáo dục - đào tạo, sự thay đổi trong công tác Quản lý chi ngân sách nhà nước cho
giáo dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, đề tài phân tích
các nội dung Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo nhằm luận giải
các nhân tố tác động đến hiệu quả Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo. Từ đó, giúp nhận thức sâu sắc hơn về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt
động quản lý chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo hiện nay.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo
dục - đào tạo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam về mặt tư duy quản lý, giám sát
thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo các cơ quan, trường
học hoạt động thông suốt, hiệu quả.
Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện Quản lý chi ngân sách nhà nước
cho giáo dục - đào tạo thông qua các báo cáo hằng nằm về Chi ngân sách nhà nước
cho giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện Hiệp Đức.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Tạo tiền đề lý luận và thực tiễn để đưa ra những kiến nghị đổi mới toàn diện
quản lý chi Ngân sách nhà nước đối với giáo dục - đào tạo theo hướng nhà nước tập
trung vào quản lý các nhiệm vụ chi nhằm nâng cao chất lượng, giám sát, tạo điều
kiện cho giáo dục - đào tạo phát triển.
Đề xuất cách thức quản lý nhà nước về Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục
- đào tạo, đề xuất hoàn thiện thể chế quản lý chi ngân sách theo hướng toàn diện,
thống nhất, đồng bộ với trọng tâm xác định rõ vai trò của nhà nước và vai trò của
giáo dục - đào tạo.

Nhà nước dự toán và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức
thực hiện ở một khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo thực thi chức năng và
nhiệm vụ của Nhà nước. [Luật Ngân sách Nhà nước, 2015].
Qua đó, NSNN cấp huyện có thể được hiểu là quỹ tiền tệ tập trung của chính
quyền cấp huyện được tạo lập bởi những nguồn thu và bảo đảm những khoản chi
tiêu ở phạm vi cấp huyện. NSNN phản ảnh về mối quan hệ giữa chính quyền cấp
huyện với những chủ thể khác thông qua sự vận động của nguồn tài chính, để bảo
đảm thực thi nhiệm vụ và chức năng của chính quyền cấp huyện.
1.1.1.2. Vai trò của Ngân sách nhà nước
NSNN cấp huyện là công cụ quản lý để định hướng điều tiết phát triển sản
xuất và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển ổn định.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược kinh tế - tài chính của cấp trên thì cấp
huyện cần phải sử dụng các công cụ có sẵn của mình để điều tiết, định hướng trên
cơ sở căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để hình thành cơ cấu kinh tế, kích
thích phát triển, đầu tư kinh phí, vốn, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận
lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Ngân sách nhà nước cấp huyện là công cụ định hướng phát triển sản xuất.
Bằng công cụ thuế và chi Ngân sách sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, định
hướng cho nhà đầu tư bỏ vốn vào những vùng, lĩnh vực cần thiết ở cấp huyện để
hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý góp phần phát triển sản xuất.

8


Ngân sách cấp huyện là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh
trong lĩnh vực thu nhập, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng
để điều tiết thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về tiền lương và thu
nhập giữa những người làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực hành
chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh, giữa những người sống ở thành thị, miền

Ngân sách nhà nước là giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến hệ thống pháp luật,
chính sách, chế độ quản lý, định mức chi tiêu và thẩm quyền của các cấp trong quá
trình điều hành ngân sách nhà nước (bao gồm quyết định dự toán, phân bổ ngân
sách, quyết toán ngân sách và các vấn đề liên quan đến việc triển khai, thực hiện
Ngân sách nhà nước.
Yêu cầu phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Một khi nền kinh tế phát triển thì nguồn thu NSNN sẽ tăng; còn khi có tình
trạng nền kinh tế bị suy giảm thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách đáng kể.
Do vậy, việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cần phải phù hợp với phân cấp
quản lý kinh tế nhằm mục đích đảm bảo cân đối Ngân sách nhà nước.
Phân cấp quản lý NSNN bảo đảm cho vai trò chủ đạo của Ngân sách trung
ương để thực thi hệ mục tiêu kinh tế vĩ mô, đáp ứng cho việc sử dụng ngân sách đầu
tư tập trung vào những công trình lớn chi phối nền kinh tế.
Phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước đảm bảo sự công bằng giữa các địa
phương, phù hợp với từng khu vực, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội
của từng vùng, miền.
Nội dung của phân cấp, quản lý ngân sách được thể hiện như sau
- Phân cấp những vấn đề liên quan tới chế độ, chính sách trong quản lý và
điều hành NSNN. Đây là việc phân cấp về phạm vi và quyền hạn của các cấp chính
quyền từ trung ương tới địa phương ở việc ban hành và tổ chức thực hiện, giám sát
kiểm tra những chính sách có liên quan tới quá trỉnh điều hành NSNN.
- Phân cấp về những vấn đề liên quan tới nghiệp vụ quản lý điều hành
NSNN. Chúng bao gồm: phân cấp trách nhiệm của những cơ quan, đơn vị về việc
ban hành biểu mẫu liên quan tới NSNN; phân cấp về trình tự và trách nhiệm của các
cấp đối với việc lập dự toán NSNN và quá trình tổ chức thực thi kế hoạch.
1.1.1.4. Chi Ngân sách nhà nước
Chi NSNN được hiểu là quản lý về hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, quản lý những

10

nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội... thể hiện cụ thể dưới dạng
định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Quá trình thực hiện chi tiêu là việc sử

11


dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng được hưởng thụ, hay
còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của Ngân sách nhà
nước. Được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu
tài chính khác. Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho các
mục tiêu đã sắp đặt.
Các khoản chi Ngân sách nhà nước rất đa dạng và phong phú nên có nhiều
cách phân loại chi Ngân sách nhà nước khác nhau:
- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi Ngân sách nhà nước bao gồm
chi thường xuyên và chi không thường xuyên
Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt
thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi
lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất
định.
Chi không thường xuyên: là những khoản chi ngân sách phát sinh không đều
đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai...trong đó, chi
đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không thường xuyên.
- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi Ngân sách nhà nước được chia
thành chi tích luỹ và chi tiêu dùng
Chi tích luỹ là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài. các
khoản chi này chủ yếu được sử dụng trong tương lai như: Chi đầu tư hạ tầng kinh
tế - kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học công nghệ, công trình công cộng, bảo vệ
môi trường,...
Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước
mắt và hầu như được sử dụng hết sau khi đã chi như: chi cho bộ máy Nhà nước, an

những hàng hoá, dịch vụ cho xã hội. Theo quan điểm này, hàng hoá, dịch vụ được
phân thành những hàng hoá, dịch vụ cá nhân (dùng cho những cá nhân) và hàng
hoá, dịch vụ công cộng (nhiều người cùng sử dụng một lúc, khó hoặc không thể loại
trừ được một người nào đó muốn sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó).
Từ đây, chi ngân sách có thể khái quát lại bao gồm:
- Chi đầu tư để cung cấp những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình cần
thiết cho xã hội như an ninh - quốc phòng, đảm bảo môi trường, phòng chống thiên
tai,...
- Chi đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng hữu hình cần thiết mà tư nhân
không thể làm được hoặc không muốn làm (giao thông, điện và chuyển tải điện, y

13


tế, giáo dục,...)
- Chi đầu tư để cung cấp một số hàng hoá, dịch vụ cá nhân thuộc các ngành
kinh tế then chốt, mũi nhọn, huyết mạch, có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế
quốc dân.
1.1.1.5. Vai trò của Chi Ngân sách nhà nước
Thứ nhất, đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động thông suốt
Chi NSNN trước hết là cung cấp tài chính nhằm bảo đảm cho bộ máy Nhà
nước tồn tại và duy trì hoạt động, qua đó thực thi được các chức năng, nhiệm vụ
quản lý xã hội của Nhà nước. Chi ngân sách dành tỷ trọng thoả đáng trả lương cho
đội ngũ công chức và duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước là cần thiết. Một số
quan điểm trước đây cho rằng: trong khuôn khổ hạn hẹp của NSNN, việc chi cho bộ
máy nhà nước càng ít càng tốt, từ đó mà trong bố trí ngân sách chi hành chính
thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và ít về số tuyệt đối. Kết quả là, tệ quan liêu,
phiền hà, sách nhiễu... trong bộ máy nhà nước thường là phổ biến và ở mức độ cao,
mà nguyên nhân cơ bản nhất là đội ngũ công chức được hưởng quá thấp các lợi ích
vật chất. Trước thực tế ấy, ở các nước kinh tế thị trường phát triển, NSNN bao giờ

giảm chi ngân sách cho đầu tư, cho tiêu dùng. Chính phủ cũng có thể sử dụng ngân
sách là công cụ hỗ trợ tài chính để khuyến khích đầu tư hoặc trợ giúp doanh nghiệp
như chính sách đầu tư một số công trình hạ tầng đường giao thông, điện, nước, có
liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp mới đầu tư, hỗ trợ tiền thuê đất, hỗ
trợ miễn giảm thuế...trợ giá, hỗ trợ bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp xuất
khẩu và sản xuất hàng nông sản thực phẩm liên quan đến nông dân...
Trong một số trường hợp, khi cần thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ có thể sử
dụng công cụ phát hành, vay nợ để tăng tỷ lệ bội chi ngân sách, đây cũng là một
giải pháp thúc đẩy tăng trưởng. Khi chi ngân sách được sử dụng như một công cụ
tác động đến tăng trưởng thì đồng nghĩa với việc gián tiếp tạo việc làm thông qua
tác động mở rộng quy mô và tăng đầu tư chiều sâu cho các doanh nghiệp, góp phần
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo cho thị trường lao động sôi động lên.
Khi ngân sách đạt được quy mô nhất định, thì ngoài nhu cầu thiết yếu phải
đảm bảo, những vấn đề xã hội cho người nghèo, người có thu nhập thấp, người thất
nghiệp phải được hưởng phúc lợi từ ngân sách trực tiếp thông qua các chính sách
trợ cấp xã hội. ở quốc gia phát triển, thu nhập bình quân đầu người lớn, tỷ lệ động
viên GDP vào ngân sách cũng thường lớn, chi đầu tư từ ngân sách lại thường chiếm
tỷ trọng nhỏ, từ đó cho phép trong cơ cấu trong ngân sách, tỷ lệ chi cho bộ máy nhà

15


nước và trợ cấp xã hội có cơ hội càng lớn, quỹ trợ cấp và phúc lợi xã hội cho người
nghèo, người đông con, người có hoàn cảnh đặc biệt có thể chiếm tỷ lệ cao trong
ngân sách.
Vấn đề chênh lệch giữa các vùng miền về phát triển kinh tế xã hội cũng được
giải quyết có hiệu quả thông qua các công cụ điều tiết, trong đó chi NSNN đóng vai
trò thu hút đầu tư, thu hút nguồn nhân lực: như chính sách tiền lương, phụ cấp ưu
đãi để thu hút nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng đến những vùng xa, khó
khăn, kém phát triển, mật độ dân số thấp.

kiện tiên quyết, tiền đề quan trọng nhất song tỷ trọng chi lại chiếm phần nhỏ trong
chi NSNN.
Chi NSNN sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân. Quan điểm của nhiều quốc
gia về vấn đề này không giống nhau. ở một số nước Nhà nước có vai trò hạn chế,
song ở một số nước Nhà nước can thiệp vào nhiều lĩnh vực kinh tế tư nhân. Cơ sở
để Nhà nước trực tiếp tham gia vào lĩnh vực sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân xuất
phát từ Nhà nước coi ngành, lĩnh vực đó có quan trọng đến mức phải nắm không;
một số ngành tư nhân không muốn làm vì không có hiệu quả thì Nhà nước buộc
phải làm, hoặc một số lĩnh vực Nhà nước muốn làm vì thấy rằng lĩnh vực đó có thể
mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, xu hướng trong nền kinh tế thị trường thì Nhà nước ít
tham gia với tư cách là người cung cấp NSNN để hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia sản
xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân.
Thông qua công cụ chi ngân sách, Nhà nước trợ cấp hoặc gây ảnh hưởng đối
với thị. trường tài chính như thị trường chứng khoán, bảo hiểm, tín dụng, thông qua
các cơ quan điều hành để đảm bảo hoạt động của các lĩnh vực này và đảm bảo
quyền lợi hạn chế rui ro cho mọi công dân.
Chi NSNN đóng vai trò tích cực trong phân phối lại thu nhập thông qua các
chương trình hỗ trợ công cộng và bảo hiểm xã hội. Đặc điểm này cũng thể hiện vai
trò Chính phủ trong việc hỗ trợ công cộng, nhằng trợ giúp những người nghèo,
người về hưu, tàn tật, thất nghiệp, ốm đau như trợ cấp hàng tháng bằng tiền mặt cho
các gia đình đông con, những người có mức thu nhập dưới mức nghèo...Trợ cấp
hiện vật như mua trang thiết bị, thuốc chữa bệnh. Hoặc Chính phủ thông qua
chương trình trợ cấp bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho người già, người mất khả
năng lao động...
Tóm lại, chi NSNN để thực hiện vai trò Nhà nước là người đảm bảo hệ
thống Luật pháp, sản xuất một phần hàng hoá dịch vụ cá nhân, cung ứng hàng hoá

17




18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status