Thiết lập bộ chỉ số xác định mức độ ổn định của hệ thống tài chính Việt Nam - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

----------

VŨ HẢI YẾN

THIẾT LẬP BỘ CHỈ SỐ XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH
CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

----------

VŨ HẢI YẾN


LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................. v
DANH MỤC BẢNG ...............................................................................................vii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................. ix
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT LẬP BỘ CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG
ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ................................................................ 14
1.1. Khái quát chung về hệ thống tài chính ....................................................... 14
1.1.1. Khái niệm hệ thống tài chính ...................................................................... 14
1.1.2. Phương thức luân chuyển vốn trong hệ thống tài chính .............................. 15
1.1.3. Cấu trúc hệ thống tài chính ......................................................................... 16
1.2. Những vấn đề cơ bản về ổn định tài chính ................................................. 17
1.2.1. Khái niệm ổn định tài chính ........................................................................ 17
1.2.2. Đặc điểm ổn định tài chính ......................................................................... 22
1.2.3. Nguyên nhân gây mất ổn định hệ thống tài chính ....................................... 27
1.3. Thiết lập bộ chỉ số đo lường mức độ ổn định hệ thống tài chính .............. 34
1.3.1. Sự cần thiết xây dựng bộ chỉ số đo lường ổn định hệ thống tài chính ......... 34
1.3.2. Quy trình thiết lập bộ chỉ số đo lường mức độ ổn định hệ thống tài chính.. 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 51
CHƯƠNG 2: THIẾT LẬP BỘ CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG TÀI
CHÍNH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM .............. 52
2.1. Cơ sở lựa chọn quốc gia nghiên cứu ........................................................... 52
2.2. Kinh nghiệm quốc tế về đo lường ổn định hệ thống tài chính .................. 53
2.2.1. Kinh nghiệm của Anh ................................................................................. 53
2.2.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc ..................................................................... 69
2.2.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc ........................................................................ 75
2.2.4. Kinh nghiệm của Indonesia ......................................................................... 89
2.3. Bài học cho Việt Nam................................................................................. 102



định hệ thống tài chính Việt Nam được đề xuất ............................................. 179


iv

4.3.1. Thiết lập khuôn khổ chính sách ổn định tài chính ..................................... 179
4.3.2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin ............................................... 185
4.3.3. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các Bộ, các đơn vị trong NHNN ......... 187
4.3.4. Nâng cao nhận thức về kinh tế - tài chính cho công chúng ....................... 189
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 ...................................................................................... 191
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 192
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nguyên nghĩa Tiếng Việt

Nguyên nghĩa Tiếng Anh

ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

Asian Development Bank


Requirement

Tỷ lệ đệm vốn phản chu kỳ

Countercyclical Capital
Buffer

DTI

Tỷ lệ nợ/ thu nhập

Debt to Income

ECB

Ngân hàng trung ương châu Âu

European Central Bank

FISI

Chỉ số ổn định tổ chức tài chính
Indonesia

Financial Institutions
Stability Index

FMSI

Chỉ số ổn định thị trường tài chính

FSS

Tổ chức dịch vụ giám sát tài chính

Financial Supervisory
Services

FSSI

Chỉ số ổn định hệ thống tài chính

Financial System Stability


vi

Indonesia
GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

Index
Gross Domestic Products

HHs

Hộ gia đình

Households



NFCs

Doanh nghiệp

Nonfinancial Corporations

NPL

Nợ xấu

NHNN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTW

Ngân hàng Trung Ương

OFCs

Tổ chức tài chính khác

Other Financial
Corporations



vii

DANH MỤC BẢNG
Tên bảng

Trang

Bảng 1.1. Khu vực chính sách và sự đóng góp vào mục tiêu ổn định tài chính .... 23
Bảng 1.2. So sánh cách tiếp cận của chính sách an toàn vĩ mô và chính sách an
toàn vi mô. ............................................................................................................ 24
Bảng 1.3. Rủi ro theo thời gian và rủi ro chéo giữa các khu vực .......................... 33
Bảng 1.4. Phân nhóm các rủi ro cho ổn định hệ thống tài chính ........................... 38
Bảng 1.5. Các chỉ số lành mạnh tài chính cơ bản của IMF ................................... 41
Bảng 1.6. So sánh sự khác biệt giữa các bộ chỉ số đo lường ổn định tài chính của
các tổ chức IMF, ECB và ADB............................................................................. 49
Bảng 2.1. Tỷ lệ đệm vốn ngược chu kỳ mà các tổ chức tài chính Anh ................. 64
Bảng 2.2. Quy mô các công cụ ngân hàng ngầm tại Trung Quốc năm 2016 ......... 72
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu đo lường lành mạnh hệ thống ngân hàng Trung Quốc ...... 75
Bảng 2.4. Cấu trúc tổ chức tài chính Hàn Quốc .................................................... 75
Bảng 2.5. Chỉ số FSIs về đầy đủ vốn (%) ............................................................. 79
Bảng 2.6. Chỉ số FSIs về chất lượng tài sản (%) ................................................... 79
Bảng 2.7. Tỷ lệ cho vay bất động sản (%) ............................................................ 80
Bảng 2.8. Chỉ số FSIs về thu nhập và khả năng sinh lời (%) ................................ 80
Bảng 2.9. Chỉ số FSIs về thanh khoản (%) ........................................................... 81
Bảng 2.10. Lỗi loại I và loại II theo phương pháp bình quân (%) ......................... 84
Bảng 2.11. Cấu trúc hệ thống tài chính Indonesia năm 2015 ................................ 90
Bảng 2.12. Các tổ chức tham gia Diễn đàn ổn định hệ thống tài chính Indonesia 92
Bảng 2.13. Chỉ số cho giám sát an toàn vĩ mô tại Indonesia. ................................ 95
Bảng 2.14. Các chỉ tiêu sử dụng để tính toán chỉ số ổn định tài chính FSSI ......... 97

Hình 1.7. Đánh giá năng lực khu vực ngân hàng trước những nguy cơ ................ 44
Hình 2.1. Tỷ trọng cung ứng vốn cho các doanh nghiệp của thị trường tài chính
Anh giai đoạn 2007-2018 ...................................................................................... 53
Hình 2.2. Quy mô tổng tài sản hệ thống ngân hàng Anh/GDP (%) giai đoạn 20122017 ...................................................................................................................... 54
Hình 2.3. Tỷ lệ vốn hóa thị trường cổ phiếu/ GDP (%) tại Anh giai đoạn 20082018 ...................................................................................................................... 55
Hình 2.4. Cơ cấu tổ chức giám sát ổn định tài chính tại Anh ................................ 56
Hình 2.5. Lịch sử vay mượn của hộ gia đình tại Anh............................................ 58
Hình 2.6. Tốc độ tăng trưởng tín dụng tiêu dùng tại Anh ..................................... 59
Hình 2.7. Các công cụ và chỉ số đo lường ổn định hệ thống tài chính Anh........... 60
Hình 2.8. Tỷ lệ đệm vốn phản chu kỳ và chênh lệch tỷ lệ tín dụng/GDP tại Anh
giai đoạn 1966-2016 ............................................................................................. 63
Hình 2.9. Tốc độ tăng trưởng tài sản của hệ thống ngân hàng .............................. 69
Hình 2.10. Giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Trung Quốc (% GDP)........... 70
Hình 2.11. Quy mô ngân hàng ngầm của Trung Quốc .......................................... 74
Hình 2.12. Xu hướng phát triển thị trường tài chính Hàn Quốc ............................ 76
Hình 2.13. Chỉ số ổn định tài chính theo lĩnh vực và giai đoạn rủi ro. .................. 82
Hình 2.14. Chỉ số ổn định tài chính tổng hợp từ 6 lĩnh vực .................................. 83
Hình 2.15. Chỉ số ổn định tài chính FSI giai đoạn 2008 – 11/2018 ...................... 85


x

Hình 2.16. Bản đồ ổn định tài chính của Hàn Quốc .............................................. 86
Hình 2.17. Bản đồ ghi nhận thay đổi trong thị trường tín dụng và thị trường tài sản
năm 2018 .............................................................................................................. 87
Hình 2.18. Bản đồ ghi nhận thay đổi trong các chỉ số lành mạnh hệ thống ngân
hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng năm 2018 ........................................ 87
Hình 2.19. Bản đồ liên kết qua lại giữa các tổ chức tài chính năm 2018............... 88
Hình 2.20. Sơ đồ khung ổn định tài chính của Indonesia. ..................................... 93
Hình 2.21. Ba trụ cột của ổn định tài chính........................................................... 96

Hình 4.8. Diễn biến chỉ số giá chứng khoán VN Index và giá trị giao dịch thị
trường giai đoạn 2005-2018 ................................................................................ 160
Hình 4.9. Lãi suất trái phiếu chính phủ Việt Nam và chỉ số CDS kỳ hạn 5 năm giai
đoạn 2007-2018 .................................................................................................. 161
Hình 4.10. Diễn biến các chỉ tiêu vĩ mô giai đoạn 2008-2018 ............................ 162
Hình 4.11. Tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2008-2018 163
Hình 4.12. Chỉ số giá bất động sản và tốc độ tăng trưởng tín dụng..................... 164
Hình 4.13. Chỉ số ổn định tài chính FSI theo phương pháp trọng số cân bằng ... 171
Hình 4.14. Chỉ số ổn định tài chính FSI theo phương pháp PCA ........................ 177
Hình 4.15. Khuôn khổ chính sách ổn định tài chính ........................................... 179
Hình 4.16. Các cấu phần trong khung chính sách ............................................... 180


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Hệ thống tài chính ổn định là hệ thống trong đó các trung gian tài chính, thị
trường và cơ sở hạ tầng của thị trường điều chuyển vốn một cách trơn tru giữa
người tiết kiệm và nhà đầu tư, và qua đó, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại, nếu hệ thống tài chính không ổn định hay có những bất ổn tài chính
xảy ra sẽ không chỉ gây cản trở hoạt động trung gian tài chính mà còn làm giảm
hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ, làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái kinh
tế, thoái vốn đầu tư và gây áp lực lên tỷ giá, gia tăng chi phí cho ngân sách trong
việc giải cứu các tổ chức tài chính. Bên cạnh đó, cùng với sự kết nối và hội nhập
ngày càng sâu sắc giữa các thị trường tài chính và nền kinh tế, những cú sốc hay
khủng hoảng tài chính tại một thị trường có thể ảnh hưởng và lan truyền đến các
bộ phận và quốc gia khác. Chính vì thế, việc ổn định và lành mạnh hóa hệ thống
tài chính là mục tiêu quan trọng, không chỉ đem lại lợi ích cho từng quốc gia mà
cho toàn bộ thị trường tài chính thế giới.

định tài chính cần có khuôn khổ chính sách với sự kết hợp của nhiều quy định thể
chế và công cụ. Trong đó, một trong những bước đầu tiên và quan trọng nhất là đo
lường ổn định tài chính. Là một mục tiêu đa chiều do mối quan hệ phức tạp giữa
các thành phần trong hệ thống tài chính và với các khu vực bên ngoài, ổn định tài
chính khó có thể được đo lường qua một chỉ tiêu riêng lẻ mà cần một bộ chỉ số với
nhiều chỉ tiêu để xác định mức độ ổn định, lành mạnh của các cấu phần trọng yếu.
Để giúp đỡ các quốc gia trong công tác đo lường ổn định hệ thống tài chính, Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) đã xây dựng và công bố bộ chỉ số lành mạnh tài chính
(Financial Soundness Indicators – FSIs), Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB)
và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) với bộ chỉ số an toàn vĩ mô
(Macroprudential Indicators – MPIs) giúp đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu
của từng hệ thống tài chính. Các bộ chỉ số được thiết kế như một công cụ tham
khảo hữu hiệu cho các quốc gia trong việc phát hiện rủi ro hệ thống tiềm tàng, tự
đánh giá mức độ ổn định tài chính, từ đó có những biện pháp để hạn chế tối đa tác
động tiêu cực từ những rủi ro này. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những đặc điểm
riêng biệt về tình hình kinh tế, chính trị, cấu trúc hệ thống tài chính, kỳ vọng thị


3

trường…, vì thế, tiêu chuẩn đánh giá hay mức độ rủi ro có thể chấp nhận được tại
mỗi nước là không giống nhau. Chính vì thế, việc áp dụng bộ chỉ số này với tiêu
chuẩn quốc tế tại các quốc gia mới nổi nói chung và hệ thống tài chính thiếu hoàn
thiện như Việt Nam nói riêng là điều không dễ dàng. Xuất phát từ thực tiễn trên,
nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề: “Thiết lập bộ chỉ số xác định mức độ ổn định
của hệ thống tài chính Việt Nam” làm đề tài luận án của mình với mong muốn
nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như kinh nghiệm quốc tế về ổn định tài chính nói
chung và các phương thức xác định mức độ ổn định tài chính nói riêng nhằm tăng
cường khả năng áp dụng các bộ chỉ số này trên thực tế. Trên cơ sở kết hợp với bối
cảnh của Việt Nam hiện nay, nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi ý cho việc thiết lập

tài chính của hệ thống tài chính, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế và phúc lợi xã hội. Một số các nghiên cứu khác như De Bandt and
Hartmann (2000), Group of Ten (2001), Hoelscher and Quintyn (2003) và
Summer (2003) lại có cách tiếp cận ổn định tài chính tương tự như ECB khi tập
trung vào rủi ro hệ thống. Trên góc độ các nhà nghiên cứu độc lập, Houben và
cộng sự (2004) định nghĩa ổn định tài chính là khả năng giúp hệ thống kinh tế
phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, đánh giá và quản trị rủi ro tài chính và hấp
thụ các cú sốc. Issing (2003) và Foot (2003) gợi ý rằng, ổn định tài chính liên
quan đến bong bóng thị trường tài chính hoặc sự biến động của các chỉ số thị
trường tài chính. Các bong bóng làm ảnh hưởng đến hiệu quả thị trường tài chính,
tuy nhiên, nó không là đặc điểm của đổ vỡ tài chính.
Về nguyên nhân gây bất ổn tài chính, những nghiên cứu của Houben và
cộng sự (2004), Nier (2009) IMF (2013) đều cố gắng chỉ ra những rủi ro, nguồn
gốc bất ổn cho hệ thống tài chính. Houben (2004) nhìn nhận rủi ro cho hệ thống
tài chính theo góc độ từ bên trong và bên ngoài. Trong đó, hệ thống tài chính được
chia thành 3 bộ phận chính: các tổ chức tài chính, thị trường tài chính và cơ sở hạ
tầng của hệ thống. Những rủi ro cho hệ thống tài chính có thể đến từ nội tại của hệ
thống, trong quá trình vận hành và liên kết giữa các bộ phận của hệ thống; và có
thể đến từ những cú sốc, những thay đổi bên ngoài hệ thống tài chính. Nier (2009)
lại phân biệt rủi ro trên góc độ vĩ mô và vi mô. Trong đó, rủi ro vĩ mô là rủi ro
mang tính tổng hợp, rủi ro kinh tế vĩ mô. Rủi ro vi mô phát sinh từ sự thất bại
hoặc đổ vỡ của một tổ chức và lan ra hệ thống theo hướng tiêu cực. IMF (2013)


5

tiếp cận rủi ro trên cơ sở mối liên hệ giữa các rủi ro và phân chia thành rủi ro
thuận chu kỳ (theo thời gian) và rủi ro chéo giữa các khu vực.
Về phương pháp đo lường ổn định tài chính, các nghiên cứu cho thấy việc
đo lường mức độ ổn định của hệ thống tài chính tại các quốc gia có sự thay đổi

chỉ số này được xây dựng bởi các tổ chức quốc tế và ngân hàng trung ương một số
quốc gia với mục tiêu gợi ý cho các nước trong việc tự đánh giá, đo lường mức độ
lành mạnh và ổn định của hệ thống tài chính. Một số bộ chỉ số ổn định tài chính
tổng hợp cơ bản như bộ chỉ số lành mạnh tài chính của IMF, bộ chỉ số an toàn vĩ
mô của ECB và bộ chỉ số an toàn vĩ mô của ADB.
Với mục tiêu đề xuất xây dựng bộ chỉ số cho các quốc gia, Bhattacharyay
(2002) đã nghiên cứu đề xuất một khung các chỉ số an toàn vĩ mô (MPIs) nhằm
giám sát những đổ vỡ của thị trường tài chính. Nghiên cứu đã trình bày một cách
tóm tắt bộ chỉ số cốt lõi với 22 chỉ tiêu cơ bản (được trích từ trong 67 chỉ tiêu phổ
biến được thông qua của ADB) để áp dụng cho 6 quốc gia Châu Á – Thái Bình
Dương bao gồm Fiji, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và Đài Loan.
Các chỉ tiêu này bao gồm các nhóm liên quan đến tiền tệ và tín dụng, ngân hàng,
lãi suất, thị trường chứng khoán, thương mại quốc tế và dự trữ ngoại hối và kết
quả khảo sát kinh doanh. Navajas and Thegeya (2013) đã kiểm định tính hiệu quả
của bộ chỉ số FSIs như là báo hiệu của khủng hoảng dựa trên bộ số liệu của 80
quốc gia có báo cáo FSIs cho IMF trong giai đoạn từ 2005 đến 2012. Kiểm định
này được thực hiện với 6 chỉ số cơ bản trong FSIs bao gồm: hệ số an toàn vốn
CAR, ROE, tỷ lệ nợ xấu NPL, tỷ lệ (Nợ xấu – Dự phòng rủi ro)/ Vốn, tỷ lệ chi phí
phi lãi suất/ thu nhập thuần và tỷ lệ chênh lệch lãi/ thu nhập thuần. Kết quả cho
thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa 3 chỉ số CAR, ROE và tỷ lệ chi phí phi lãi/
thu nhập thuần với khả năng xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng và đưa ra gợi
ý là 3 chỉ số này nên được sử dụng như là dấu hiệu cảnh báo của khủng hoảng
ngân hàng. Indraratna (2013) cũng thực hiện phân tích các chỉ tiêu FSIs và MPIs,
tuy nhiên, tác giả thực hiện giới thiệu khía cạnh mới về chính sách an toàn vĩ mô,
đồng thời phân tích cấu trúc hệ thống tài chính của các nước Asean và việc sử
dụng các chỉ số FSIs tại các nước này.
Chỉ số ổn định tổng hợp duy nhất, trên cơ sở tìm hiểu các chỉ số ổn định tài
chính tổng hợp duy nhất đang được NHTW các quốc gia cũng như các nhà nghiên



pháp này được trình bày trong các nghiên cứu của Illing và Liu (2003) cho Canada,


8

Nelson và Perli (2005) cho Mỹ, Geršl và Heřmánek (2006) cho Séc, Van den End
(2006) cho Hà Lan…
2.2. Nghiên cứu trong nước
Vấn đề ổn định tài chính tại Việt Nam cũng đã được đề cập đến qua một số
các nghiên cứu của các tác giả đến từ các Viện nghiên cứu và Ngân hàng Nhà
nước. Cụ thể, nghiên cứu Phạm Anh Thái (2014) đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết
giữa ổn định tài chính, giám sát an toàn vĩ mô và rủi ro hệ thống cũng như những
thay đổi trong vấn đề ổn định tài chính và giám sát an toàn vĩ mô từ sau cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 tại các quốc gia trên thế giới như thay
đổi về tư duy chính sách (ổn định tài chính là mục tiêu quan trọng của ổn định
kinh tế vĩ mô) và thay đổi về thể chế giám sát an toàn vĩ mô (cần có một cơ quan
được giao nhiệm vụ giám sát an toàn vĩ mô, chuyên theo dõi, phát hiện, xử lý rủi
ro hệ thống của hệ thống tài chính). Ngoài ra, Phạm Anh Thái cũng đề cập đến các
vấn đề có thể gây nên bất ổn tài chính tại Việt Nam như: thâm hụt cán cân thương
mại và thâm hụt Ngân sách kéo dài, chính sách tài khóa và tiền tệ chưa đồng bộ,
giá tài sản tăng cao và sự lên xuống thất thường của tỷ lệ lạm phát. Phạm Tiên
Phong (2014) đã tìm hiểu mô hình thể chế của khuôn khổ chính sách an toàn vĩ
mô ở các nước, cùng với những phân tích về thực trạng hoạt động giám sát tài
chính ở Việt Nam, từ đó đề xuất gợi ý cho khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô
của Việt Nam. Trong đó, tác giả đề cập đến yếu tố then chốt cần phải thực hiện,
đó là: khuôn khổ pháp lý, các công cụ, xây dựng cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin,
và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Trần Lưu Trung và Nguyễn Trung Hậu
(2014) đã chứng minh sự cần thiết phải xây dựng các công cụ và các chỉ số an
toàn vĩ mô, giúp đánh giá được mức độ ổn định tài chính và từ đó sử dụng các
công cụ điều chỉnh phù hợp. Hai tác giả đồng thời cũng giới thiệu và so sánh các

nghiên cứu về chủ đề này chưa nhiều và vẫn còn tồn tại một số khoảng trống
nghiên cứu nhất định. Cụ thể:
Thứ nhất, về mặt lý luận, các nghiên cứu trước chưa làm rõ cơ sở thiết lập
bộ chỉ số cũng như các tiêu chí khi lựa chọn các chỉ số đo lường ổn định hệ thống
tài chính.
Thứ hai, các nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam
trong việc đo lường ổn định tài chính chưa nhiều, đặc biệt là kinh nghiệm từ các


10

nền kinh tế mới nổi trong khu vực. Đo lường ổn định tài chính thông qua bộ chỉ số
tồng hợp và xây dựng chỉ số tổng hợp duy nhất đang là xu hướng được nhiều quốc
gia trên thế giới thực hiện, trong đó có cả các quốc gia đang phát triển có điều
kiện tài chính tương đồng với Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu về điều kiện,
cách thức xây dựng, triển khai các bộ chỉ số và chỉ số tổng hợp duy nhất tại các
quốc gia này là còn hạn chế.
Thứ ba, các nghiên cứu về đo lường ổn định tài chính tại Việt Nam thông
qua bộ chỉ số hay chỉ số tổng hợp còn rất hạn chế. Nghiên cứu của Phạm Tiên
Phong và cộng sự (2015) đã gợi ý một khuôn khổ điều hành chính sách an toàn vĩ
mô và đưa ra một bộ chỉ số an toàn vĩ mô cho Việt Nam với 72 chỉ tiêu. Tuy
nhiên, nhóm tác giả chưa lý giải cơ sở lựa chọn các chỉ số này cũng như chứng
minh sự phù hợp của các chỉ số này với điều kiện của hệ thống tài chính Việt
Nam. Hơn nữa, với mục tiêu đo lường, đánh giá nhanh tình trạng ổn định và lành
mạnh của hệ thống tài chính, bộ chỉ số với 72 chỉ tiêu này là tương đối cồng kềnh
và khó có thể đưa ra kết quả trong thời gian ngắn.
Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án có thể thực hiện nghiên cứu,
qua đó, đưa ra các kiến nghị chính sách phù hợp cho các cơ quan quản lý.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án được thực hiện với mục tiêu chung là xây dựng một bộ chỉ số có

Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục thống kê, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Ủy
ban giám sát tài chính quốc gia, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân
hàng dự trữ St. Louis. Từ các dữ liệu thu thập được, nghiên cứu sinh sử dụng kết
hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Phương pháp định tính: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn dịch,
quy nạp, kết hợp với bảng biểu minh họa để đánh giá thực trạng các rủi ro cho hệ
thống tài chính cũng như mức độ ổn định của các khu vực hệ thống tài chính.
- Phương pháp định lượng:
+ Phương pháp trọng số cân bằng để thiết lập chỉ số ổn định hệ thống tài
chính cho Việt Nam. Trên cơ sở xác định ba khu vực rủi ro tiềm ẩn cho hệ thống
tài chính là khu vực ngân hàng, thị trường tài chính và khu vực kinh tế vĩ mô, tác
giả lựa chọn các chỉ số phù hợp có khả năng phản ánh mức độ ổn định của các khu


12

vực này. Các biến số sẽ được chuẩn hóa theo phương pháp Min-Max, sau đó được
tổng hợp lại thành một chỉ số duy nhất với trọng số bằng nhau.
+ Phương pháp phân tích thành tố chính (Principal Component AnalysisPCA) là một thuật toán thống kê để xây dựng chỉ số ổn định tổng hợp. Phương
pháp này được sử dụng giúp giảm chiều dữ liệu, chuyển đổi biến cũ trong mối
tương quan tuyến tính với nhiều biến khác thành biến mới ít tương quan, mà vẫn
giữ được hàm ý thông tin, nhằm khái quát khả năng đo lường ổn định tài chính
thông qua một chỉ số tổng hợp duy nhất. Trên cơ sở các chỉ số được lựa chọn
trong bộ chỉ số, tác giả sử dụng phương pháp Normed PCA để chuẩn hóa các biến
số này, sau đó thực hiện tổng hợp PCA để xây dựng một chỉ số. Đây là một
phương pháp rất phổ biến trong tổng hợp dữ liệu đa chiều cũng và được sử dụng
trong các nghiên cứu của Morris (2010) cho NHTW Jamaica, Karanovic và
Karanovic (2015) cho các quốc gia khu vực Balkans…
+ Để xác định phương pháp tổng hợp nào phù hợp, tác giả thực hiện kiểm
định lỗi loại I và loại II theo phương pháp của Illing và Liu (2003) áp dụng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status