Đảng bộ huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1996 đến năm 2008 - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUÝ

ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THẤT TỈNH HÀ TÂY
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUÝ

ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THẤT TỈNH HÀ TÂY
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TÚ

HÀ NỘI - 2013

tư liệu, tạo mọi điều kiện cho việc nghiên cứu thực hiện đề tài.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nỗ lực để thu được kết quả nghiên cứu bước
đầu song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất
mong nhận được sự góp ý, chỉ đạo của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô
giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này.
Tác giả trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Quý


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THẤT GIAI ĐOẠN
1996 – 2000 ....................................................................................................... 9
1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục và đào tạo huyện
Thạch Thất trước năm 1996 .......................................................................... 9
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ............................................. 9
1.1.2. Truyền thống văn hoá – lịch sử ..................................................... 13
1.1.3. Tình hình giáo dục và đào tạo huyện Thạch Thất trước năm 1996 ...... 15
1.2. Quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ huyện
Thạch Thất giai đoạn 1996 – 2000.............................................................. 20
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Thạch Thất ................................. 20
1.2.2. Đảng bộ huyện Thạch Thất chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo
giai đoạn 1996 – 2000 ............................................................................. 24
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 34
Chương 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THẤT LÃNH ĐẠO ĐẨY
MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2001 ĐẾN

3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ................................................................ 75
3.2.1. Nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện .................................................. 75
3.2.2. Quán triệt, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo để đề ra chủ
trương, biện pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương ........... 77


3.2.3. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục nhằm phát huy sức mạnh
tổng hợp của các cấp, các ngành, của các tổ chức chính trị - xã hội cho
phát triển giáo dục và đào tạo ................................................................. 79
3.2.4 Thực hiện đồng bộ các giải pháp để không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục ..................................................................... 81
Tiếu kết chương 3 .......................................................................................... 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 87
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 94


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ đầy đủ

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nxb.


thời đại mới.
Ngay từ khi ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào
tạo và sớm xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là động lực đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương khoá VIII (1996), Đảng đã đưa ra định hướng Chiến lược phát
triển giáo dục và đào tạo trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH: Thực sự coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu.

1


Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng tiếp tục nhấn
mạnh tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, xác định rõ: “Phát triển giáo
dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [22, tr. 108109]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng tiếp tục nhấn
mạnh: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH” [27, tr. 94-95] .
Chủ trương trên tiếp tục được hoàn thiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng (1/2011): “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát
triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu” [28, tr.77], “Đổi mới căn
bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”.
Thạch Thất là vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, thuộc bậc
thềm phía tây Hà Nội hiện nay. Thực hiện quan điểm, chủ trương phát triển
giáo dục và đào tạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Tây, bước vào thời kỳ
CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ huyện Thạch Thất đã lãnh đạo đẩy mạnh sự
nghiệp giáo dục và đào tạo. Nhờ vậy, từ năm 1996 đến năm 2008, giáo dục và
đào tạo ở Thạch Thất đã có những bước phát triển đáng kể, đóng góp quan

đào tạo của Việt Nam.
Nhóm các tác phẩm và bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và
Nhà nước, tiêu biểu: cuốn sách Bàn về công tác giáo dục của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972; cuốn "Về vấn đề giáo dục - đào tạo"
của đồng chí Phạm Văn Đồng được Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản
năm 1999; bài viết "Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa đất nước" của đồng chí Đỗ Mười - đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục (tháng 1/1996); Võ Nguyên Giáp , Mấy vấn đề về khoa
học và giáo dục, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986; Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm

3


Văn Đồng, Về đường lối giáo dục xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
1979…
Những công trình nghiên cứu này cho thấy vai trò vô cùng quan trọng
và sự cần thiết phải đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo; đồng thời đưa ra
quan điểm, tư tưởng cơ bản có tính chất định hướng phát triển giáo dục và
đào tạo, phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nhóm những công trình, bài viết khoa học của tập thể và cá nhân đã
công bố có liên quan đến đề tài, tiêu biểu như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo
dục cho mọi người Việt Nam – Cách thức hiện nay và tương lai, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 1994; Phạm Minh Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa
của thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đinh Văn Ân, Hoàng
Thu Hoài, Giáo dục và đào tạo – chìa khoá của sự phát triển, Nxb. Tài chính,
Hà Nội, 2008; Phan Ngọc Liên, Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2010; Phạm Tất Dong, Giáo
dục Việt Nam 1945 – 2010, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010…
Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đã đăng tải trên các tạp chí như:

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ yêu cầu khách quan phát triển giáo dục và đào tạo của huyện
Thạch Thất trong những năm 1996 – 2008.
- Phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thạch
Thất về phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1996 đến năm 2008.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số
kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ huyện Thạch Thất lãnh đạo phát
triển giáo dục và đào tạo trong 12 năm (1996 - 2008).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo về phát triển giáo dục và đào tạo của
Đảng bộ huyện Thạch thất từ năm 1996 đến năm 2008.
6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ huyện Thạch Thất về phát triển giáo dục và đào tạo (gồm: giáo dục mầm
non, TH và THCS).
- Về không gian: Trên địa bàn 1 thị trấn và 22 xã của huyện Thạch Thất.
- Về thời gian: Nghiên cứu trong 12 năm (từ năm 1996 đến năm 2008),
tuy nhiên để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả còn mở rộng
tìm hiểu sự phát triển giáo dục ở huyện Thạch Thất trước năm 1996 và sau
năm 2008.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong luận văn là
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc nhằm khái quát quá trình lãnh đạo
phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ huyện Thạch Thất từ năm 1996

- Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những công
trình nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
7. Bố cục luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương 6 tiết, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, và phụ lục.

8


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THẠCH THẤT
GIAI ĐOẠN 1996 – 2000
1.1. Đặc điểm tự nhiên - xã hội và tình hình giáo dục và đào tạo huyện
Thạch Thất trước năm 1996
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Huyện Thạch Thất thuộc vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ, nằm ở phía
Tây Bắc, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 25 km. Về vị trí địa lý: phía Bắc giáp
huyện Phúc Thọ; phía Đông giáp huyện Phúc Thọ và huyện Quốc Oai; phía
Nam giáp huyện Quốc Oai và huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình); phía Tây giáp
huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây. Thạch Thất có các tuyến đường giao thông
quan trọng chạy qua như: Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32, quốc lộ 21A, tỉnh lộ
419, 420,… Nằm ở khu vực phát triển trọng điểm trong Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và quốc gia với các công trình tiêu biểu
như: khu công nghệ cao Hoà Lạc, dự án Đại học Quốc gia Hà Nội,… do đó,
Thạch Thất có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội.
Là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với
vùng đồng bằng, nhìn chung, địa hình Thạch Thất thấp dần từ Tây sang Đông
và chia thành ba vùng rõ rệt: vùng bán sơn địa, đồi gò (có độ cao trung bình
từ 10 m đến hơn 15 m so với mực nước biển) và vùng đồng bằng (nằm bên bờ

số huyện của tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Trong kỳ họp
thứ 9, Quốc hội khoá VIII (ngày 12/8/1991), Quốc hội đã quyết định tách tỉnh
Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hoà Bình và Hà Tây, đồng thời chuyển huyện
Thạch Thất và một số huyện thuộc Hà Tây (cũ) từ thành phố Hà Nội về tỉnh
Hà Tây. Ngày 29/5/2008, kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII thông qua Nghị
quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh

10


liên quan toàn bộ tỉnh Hà Tây trong đó có huyện Thạch Thất được sáp nhập
về thủ đô Hà Nội. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008.
Hiện nay, Thạch Thất có 23 đơn vị hành chính, gồm một thị trấn: Liên
Quan và 22 xã: Bình Phú, Bình Yên, Canh Nậu, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Chàng
Sơn, Dị Nậu, Đại Đồng, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim
Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Hoà, Thạch Xá, Tiến
Xuân, Yên Bình và Yên Trung.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của
huyện luôn đạt 22%/năm. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực: đến
năm 2005, ước tỷ trọng nông nghiệp chiếm 21,5%; công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 59,3%; dịch vụ - thương mại - du lịch chiếm
19,2%. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành kinh tế cũng có sự tiến bộ
ngày càng phù hợp với tiềm năng kinh tế địa phương. Bên cạnh sản xuất nông
nghiệp, Thạch Thất còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống lâu đời
như: nghề mộc ở Chàng Sơn, Bình Xá, Phú Hoà, Thái Hoà, Canh Nậu, Dị
Nậu; nghề làm hương ở Đông Lực; nghề cày bừa ở Vĩnh Lộc; nghề làm dây
lọc bột ở Phùng Xá; nghề dép, dứa ở Bình Phú; dép cói, mây ở Tràng Thôn,...
Nhờ có nghề phụ nên thu nhập và đời sống vật chất của nhân dân cũng được
đảm bảo. Nhưng nhìn chung Thạch Thất vẫn là một huyện nghèo, còn nhiều
khó khăn. Năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 4,37% (theo chuẩn nghèo

vị đạt danh hiệu văn hoá; 81% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hoá.
23/23 xã, thị trấn có đài truyền thanh với chương trình phong phú, đa dạng,
phản ánh kịp thời các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh –
quốc phòng trên địa bàn huyện.
Công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh được tăng cường,
thực hiện hiệu quả các chương trình y tế quốc gia. Cơ sở vật chất, trang thiết
bị kỹ thuật và chất lượng khám và chữa bệnh ở các cơ sở y tế đều đảm bảo

12


phục vụ tốt cho nhân dân. Đến năm 2010, 22/23 xã, thị trấn đã đạt chuẩn quốc
gia về y té; 193/200 thôn có cán bộ y tế thôn, bản.
Công tác dân số được quan tâm chỉ đạo, Trung tâm Dân số - Kế hoạch
hoá và gia đình được kiện toàn và hoạt động có hiệu quả. Nhờ sự phối hợp
của các ban, ngành, đoàn thể, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 đã giảm rõ rệt.
1.1.2. Truyền thống văn hoá – lịch sử
Do thuộc vùng bậc thềm phía Tây châu thổ sông Hồng, Thạch Thất có
bề dày các tầng văn hoá qua các thời kỳ. Mặc dù chưa được khai quật và
nghiên cứu quy mô, nhưng các di chỉ khảo cổ trong huyện đã phản ánh điều
này, trong đó tiêu biểu là 5 mảnh tước có niên đại gần 5.000 năm được người
Việt cổ mài sơ qua làm công cụ lao động, được phát hiện tại núi Sọ Vàng (xã
Cần Kiệm) và nhiều cổ vật khác như công cụ bằng đá, trống đồng,…
Vị trí địa lý thuận lợi, đất đai màu mỡ là nền tảng để Thạch Thất sớm
hình thành nền nông nghiệp lúa nước và du nhập nhiều nghề thủ công truyền
thống nổi tiếng. Hiện nay, 9 làng nghề trong huyện đã được tỉnh công nhận.
Sự gắn kết giữa nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã làm cho làng quê
Thạch Thất luôn nhộn nhịp, sôi động. Người dân nơi đây vốn cần cù, sáng tạo
trong lao động sản xuất, luôn anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm, vươn lên xây dựng quê hương giàu đẹp.

nêu trên có thể thấy: Sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế mạnh
truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi trong
việc phát triển giáo dục và đào tạo của huyện. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng
kinh tế còn thấp, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế so sánh của địa
phương; kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm; đời sống một bộ
phận nhân dân còn khó khăn,... đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp “trồng
người”. Hiện nay, nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện là rất cao. Vì
vậy, đây cũng là một khó khăn không nhỏ đòi hỏi Đảng bộ huyện Thạch Thất

14


phải có chủ trương, biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và
đào tạo của huyện phát triển.
1.1.3. Tình hình giáo dục và đào tạo huyện Thạch Thất trước năm 1996
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra đường lối đổi
mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới giáo dục: “nhằm mục tiêu hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào
tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu
cầu phân công lao động của xã hội” [26, tr.89].
Cùng cả nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, giáo dục và đào
tạo luôn được Đảng bộ huyện Thạch Thất quan tâm lãnh đạo, ngày càng phát
triển cả về số lượng và chất lượng, ở tất cả các ngành học. Về cơ sở vật chất,
tính đến năm 1990, 50% xã, thị trấn xây dựng được trường học hai tầng kiên
cố, đủ phòng học cho học sinh học 2 ca, vì vậy, tình trạng học ca 3 không
còn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, Đảng bộ đã chỉ đạo các xã hết sức cố
gắng, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị giảng dạy và
bàn ghế cho học sinh.

24/9/1991). Sau khi đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
lần thứ XVIII, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (1991 –
1995), trong đó giáo dục và đào tạo được Đảng bộ Thạch Thất chỉ đạo theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII: Phấn đấu đạt các trường tiên
tiến cấp huyện, cấp tỉnh. Về số lượng, phấn đấu số lượng bằng chỉ tiêu của
huyện đề ra có số học sinh giỏi các bộ môn cấp huyện, cấp tỉnh. Phấn đấu có
số hồ sơ phổ cập khá và đạt loại giỏi về chuyên môn. Nếp dạy, nếp học khá
trở lên. Đi sâu vào cải tiến phương pháp dạy và học. Về quản lý, nâng cao cải
tiến một bước công tác quản lý, thực sự chú ý công tác thanh, kiểm tra để phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi học sinh, mỗi trường. Kiên trì
và tăng cường làm công tác xã hội hoá giáo dục trên cơ sở hoạt động của giáo

16


dục đã có ở địa phương. Cải tiến, tăng cường cơ sở vật chất cho các trường,
cải thiện đời sống giáo viên về tinh thần, vật chất. Về đoàn thể, chú ý học sinh
bỏ học và rèn luyện học sinh có ý chí vươn lên. Đổi mới hình thức hoạt động
tập thể để thu hút học sinh tới trường.
Trong 5 năm (1991 – 1995), mạng lưới trường lớp và quy mô giáo dục
các cấp, các bậc và các ngành học đều được giữ vững, mở rộng và phát triển.
Để phù hợp với cải cách giáo dục, giáo dục phổ thông được điều chỉnh:
trường cấp I được đổi tên là trường TH từ lớp 1 đến lớp 5; trường cấp II được
gọi là trường THCS, có các lớp từ lớp 6 đến lớp 9. Đồng thời để khắc phục
những hạn chế trước đây, ngành giáo dục huyện đã có kế hoạch từng bước
tách khuôn viên trường TH và trường THCS. Năm học 1994 – 1995, toàn
huyện có 44 trường học các cấp, với 35.498 học sinh (tăng 2 trường và 11.157
học sinh).
Nhằm tăng cường cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu học tập, Đảng bộ
đã chỉ đạo đầu tư hàng chục tỷ đồng sửa chữa và xây mới các trường học,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status