ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------
BÙI THỊ HẬU
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------
BÙI THỊ HẬU
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
sao chép của ai. Các tư liệu được trình bày có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ
đúng nguyên tắc.
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hậu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
: Ban chấp hành Trung ương
CTQG
: Chính trị quốc gia
HĐND
: Hội đồng nhân dân
NQ
: Nghị quyết
Nxb
: Nhà xuất bản
UBND
ĐH
: Đại học
DN
: Dạy nghề
TTDN
: Trung tâm dạy nghề
CNH- HĐH
: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
LĐ-TBXH
: Lao động – Thương binh và Xã hội
TTGDTX-DN
: Trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................... 1
Chương 1 THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHUYÊN
NGHIỆP THANH HOÁ TRƯỚC NĂM 1996....................................................................... 10
3.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân ......................................................................................... 93
3.1.3. So sánh giáo dục chuyên nghiệp Thanh Hóa với các tỉnh Bắc Trung Bộ...................... 99
3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................................................. 101
3.3. Những vấn đề đặt ra ............................................................................................................ 102
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO. ....................................................................................................... 115
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, không riêng gì ở Việt Nam, giáo dục - đào tạo đã đang là bài toán
khó, ngay ở những nước tiên tiến nhất trên thế giới. Trong xã hội hiện đại, thành bại
là do vốn văn hoá, khoa học, công nghệ của con người quyết định, nên giáo dục
đương nhiên là mặt trận xung yếu nhất của mọi quốc gia.
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã coi “Dốt” là một trong ba thứ giặc cực kỳ nguy hiểm cần phải tiêu trừ
ngay. Bởi vì: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “dốt thì dại, dại thì hèn” [55,
tr.8]. Theo Hồ Chí Minh: “Nay chúng ta giành quyền độc lập. Một trong những việc
phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”. Vì: “Nước nhà cần phải
kiến thiết, kiến thiết cần phải có nhân tài”.[55, tr.36, tr.451]. Người nhấn mạnh:
“Bây giờ xây dựng kinh tế, không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục,
không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá.”[55, tr.184]. Trong việc
đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu.
Như vậy, ngay từ sớm Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy vai trò của
giáo dục đào tạo đối với cách mạng và sự phát triển của xã hội. Một nền giáo dục
tốt sẽ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển trên cả bình diện chiều sâu lẫn chiều
rộng.
Năm 1986, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt
Về mặt bằng học vấn, Nhà nước đã có luật Phổ cập giáo dục tiểu học và đang
chú ý đầu tư trung học. Nhưng về Giáo dục chuyên nghiệp, lĩnh vực trang bị trình
độ chuyên môn, kỹ thuật lành nghề cho số đông trực tiếp làm ra của cải vật chất và
tinh thần cho xã hội, trực tiếp thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH, thì vẫn chưa được
quan tâm đúng mức, chưa cân đối với sự quan tâm về mặt bằng học vấn và chưa
gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Trong sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói chung thì công tác đào tạo ở các
trường chuyên nghiệp chính là yếu tố gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của thị trường lao động. Chính vì vậy, công tác giáo dục chuyên
nghiệp luôn luôn được Đảng đặt lên vị trí hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục – đào
tạo. Tuy nhiên, hiện nay giáo dục chuyên nghiệp của nước ta đang có nhiều bất cập
cần được Đảng quan tâm, chỉ đạo hơn nữa.
2
Trong thực tế, từ khi Đảng đề ra đường lối đổi mới cho đến nay, trong sự
phát triển chung của sự nghiệp giáo dục – đào tạo thì giáo dục chuyên nghiệp cũng
có nhiều chuyển biến lớn và giành được nhiều kết quả quan trọng. Những thành tựu
đạt được đó chính là nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự đóng góp tích cực
của nhiều địa phương trong cả nước.
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở đầu phía Bắc của dải đất miền Trung. Đất rộng,
người đông, từ xưa vốn đã nổi tiếng là đất hiếu học. Là một tỉnh mà cuộc sống đang
còn nhiều khó khăn nên đối với người dân nơi đây, học là cách duy nhất để thoát
nghèo. Trên cơ sở kế thừa truyền thống hiếu học của quê hương, được sự chỉ đạo
của các nghị quyết Đảng, hoà chung với quá trình đổi mới của cả nước với mong
muốn xây dựng quê hương giàu đẹp, Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá luôn quan tâm phát
triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đặc biệt là công tác giáo dục chuyên nghiệp. Với
tất cả sự nỗ lực, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, giáo dục chuyên
nghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, là cái nôi sản sinh ra nhiều nhân
nam dẫn đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên, ngay từ đầu Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề cao vai trò của giáo dục, và sự cần thiết của một nền giáo dục trong chế
độ xã hội chủ nghĩa bằng tác phẩm “Bàn về công tác giáo dục”, Nxb Sự thật, Hà
nội, 1972.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo nói chung, công tác
giáo dục chuyên nghiệp nói riêng với sự phát triển của đất nước nên các nhà lãnh
đạo Đảng và Nhà nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
“Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa” của Phạm Văn Đồng, Nxb Sự
thật, Hà Nội (1978); “Phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1991)...Các tác giả là những người giữ cương vị lãnh
đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước nên các công trình này đã hệ thống những quan
điểm, tư tưởng của Đảng về giáo dục – đào tạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam với các Nghị quyết chuyên đề bàn về thực trạng và
phương hướng đổi mới giáo dục – đào tạo như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 4 (khóa VII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII), Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IX). Những tài liệu này là một hệ thống
những quan điểm, tư tưởng khoa học, bao gồm cả khái niệm, mục đích, nội dung,
cách dạy, cách học, cách quản lý, cách lãnh đạo ngành giáo dục. Đây là cơ sở lý
luận cho đường lối chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nước ta, cho nền
4
khoa học giáo dục Việt Nam, cho chiến lược xây dựng con người mới của đất nước
Việt Nam XHCN, là kim chỉ nam cho Đảng bộ các địa phương lãnh đạo thực hiện
hoạt động giáo dục – đào tạo cụ thể.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu của các cơ quan như Ban Khoa giáo
Trung ương, Bộ Giáo dục – Đào tạo; các công trình của các đồng chí đã từng là
lãnh đạo ngành giáo dục – đào tạo như: tác phẩm “ Phát triển giáo dục, phát triển
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội
chủ nghĩa nói chung, về vấn đề giáo dục - đào tạo nói riêng.
- Các phương pháp chủ yếu: phương pháp lịch sử và phương pháp logic
- Các phương pháp khác: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp... để làm rõ những vấn đề cần thiết trong quá trình nghiên cứu.
5.2. Nguồn tài liệu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ lịch sử, tác giả sử dụng nguồn tư liệu chủ
yếu sau:
- Về kinh điển: tác giả chọn lựa các bài nói, bài viết của Các Mác, Ăng ghen,
Lênin và Hồ Chí Minh bàn về giáo dục.
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nước; của
Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Thanh Hoá về giáo dục - đào tạo nói chung và công
tác giáo dục chuyên nghiệp nói riêng.
- Một số bài phát biểu, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Bộ GD - ĐT; Tỉnh ủy, Sở GD - ĐT tỉnh Thanh Hoá.
- Các văn bản, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục chuyên
nghiệp.
- Các báo cáo của Sở GD - ĐT tỉnh Thanh Hoá, Phòng Giáo dục các huyện,
thị xã, thành phố trong tỉnh.
- Các công trình, bài viết của các chuyên gia nghiên cứu, các luận văn, luận
án về lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở Châu Á, Việt Nam trong những năm gần đây.
- Các bài báo, tạp chí số ra hàng ngày, hàng tháng được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng…
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện đổi mới
Thanh Hoá là một tỉnh (xưa là bộ, là thừa tuyên, là trấn) của đất nước Việt
Nam, đã hiện diện trên bản đồ Việt Nam từ thời Hùng Vương và luôn có vị trí đặc
biệt trong quá trình tiến hoá của lịch sử. Các triều đại luôn thừa nhận đây là một dải
đất phên dậu để bảo vệ Tổ quốc. Vùng đất này đã chia sẻ với cả dân tộc những
chiến công chiến đấu và xây dựng suốt ngàn năm lịch sử.
Thanh Hoá là tỉnh địa đầu miền Trung - cửa ngõ của Trung Bộ nơi tiếp giáp
với đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn phì nhiêu, với dải đất dài và hẹp về phía Nam.
Là một tỉnh lớn và đông dân, Thanh Hoá có diện tích đất liền 11.168km2,
bằng 3,3 diện tích cả nước, có 70% đất đai là núi đồi và rừng. Phía Bắc giáp 3 tỉnh
Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình với đường ranh giới dài 175 km. Phía Tây giáp tỉnh
Hủa Phăn của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài
192km. Phía Đông, mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với
đường bờ biển dài hơn 102 km.
Thanh Hoá có hai miền là trung du - miền núi và đồng bằng – ven biển; trung
du - miền núi gắn với hệ núi cao phía Tây bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam gồm
11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc,
Thường Xuân, Như Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Như Thanh; với tổng diện tích
tự nhiên trên 800.000 ha (chiếm 2/3 diện tích cả tỉnh); dân số gần 1 triệu người, mật
độ dân số hơn 90 người/km2.
Đồng bằng – ven biển Thanh Hoá thuộc kiểu đồng bằng bồi tụ gồm 13
huyện, 2 thị xã và 1 thành phố là: huyện Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông
Cống, Thiệu Hoá, Yên Định, Đông Sơn, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá,
10
Quảng Xương, Tĩnh Gia, thị xã Sầm Sơn và thị xã Bỉm Sơn và thành phố Thanh
Hoá.
Các tài nguyên của tỉnh rất phong phú đã, đang được quy hoạch khảo sát và
khai thác sử dụng bao gồm:
của Bắc Bộ (có một mùa đông ngắn, khô và lạnh, mùa xuân mưa phùn âm u và
thiếu nắng do sương mù), vừa mang đặc điểm của khí hậu Trung bộ (khô nóng, có
gió Tây Nam).
Nhìn chung tiềm năng tự nhiên của tỉnh Thanh Hoá là rất lớn, có đủ điều
kiện để phát triển thành một tỉnh kiểu mẫu về các lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong
khoảng 10 năm trở lại đây nền kinh tế của tỉnh phát triển tương đối ổn định, có tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 6%. Cơ cấu kinh tế phát triển ngày
càng phù hợp với các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh như: mía đường, xi măng,
phân bón, vật liệu xây dựng,… tăng mạnh, Thanh Hoá có thể tham gia vào các tam
giác phát triển kinh tế phía Bắc.
1.1.2. Điều kiện dân cư
Về cư dân, Thanh Hoá có khoảng 3,6 triệu người, là tỉnh đông dân thứ 2
trong 61 tỉnh thành (sau thành phố Hồ Chí Minh). Huyện có số dân đông nhất tỉnh
là Quảng Xương với gần 300.000 người, ít dân nhất là huyện Mường Lát khoảng
29.000 người. Quy mô trung bình của mỗi đơn vị hành chính trong tỉnh là 13 vạn
người. Thanh Hoá là một cộng đồng gồm nhiều các dân tộc anh em: Kinh, Thái,
Mường, Hmông, Dao, Khơ mú, Tày, Nùng, … trong đó người Kinh chiếm đa số cư
dân với hơn 85% dân số. Người Thái có khoảng 20 vạn người gồm Thái trắng và
Thái đen, người Mường có 29 vạn người, người Hmông khoảng 5000 người, sống ở
vùng cao biên giới Thanh Hoá, người Tày có khoảng 7642 người sống ở Như
Xuân… Dân số đông là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh.
Là một tỉnh có diện tích rộng và dân số đông, Thanh Hoá có một thành phố,
hai thị xã, 27 huyện, 30 thị trấn huyện lỵ, 9 thị trấn nông trường, 587 xã, 22 phường
và được chia thành 3 vùng cơ bản: đồng bằng ven biển, trung du và miền núi.
1.1.3. Kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Kinh tế.
Với đặc điểm địa hình và khí hậu như trên, nên Thanh Hoá chủ yếu sống
bằng nông nghiệp trồng lúa nước ngoài ra, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương
– 2010 là tập trung đẩy mạnh CNH nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển
các ngành chế biến nông – lâm - thuỷ sản, công nghiệp vật liệu xây dựng, công
13
nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp điện tử tin học, phát triển du lịch dịch vụ. Khôi
phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống của địa
phương. Như vậy, nhu cầu về đào tạo lao động qua đào tạo sẽ tăng từ 19% lên 27%
vào năm 2005 và 38% vào năm 2010; đồng thời nhu cầu được đào tạo nghề cũng
tăng từ 87.700 năm 2000 lên 200.000 vào năm 2005 và 250.000 người vào năm
2010; từ đó đòi hỏi giáo dục chuyên nghiệp Thanh Hoá phải có kế hoạch đào tạo
nguồn nhân lực phù hợp để đáp ứng sự nghiệp CNH và HĐH của tỉnh.
1.1.3.2. Về xã hội
Thanh Hoá là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của nhiều triều đại
phong kiến, đồng thời cũng là nơi sinh ra nhiều danh nhân với những đóng góp lớn
lao cho đất nước. Trong bài nói chuyện với đại biểu thân sỹ, trí thức ngày
20/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá “Thanh Hoá có tiếng là văn vật”,
“tỉnh Thanh Hoá vừa rạng rỡ đất văn vừa oai phong đất võ” [5, tr.7]. Suốt thời
phong kiến, từ khoa thi đầu tiên thời Lý (1075) đến khoa thi cuối cùng thời Nguyễn
(1919), Thanh Hoá có trên 200 vị đỗ tiến sỹ trong tổng số 2989 tiến sỹ của cả nước.
Chính điều này đã tạo nên những truyền thống văn hoá phong phú, đa dạng và đặc
sắc của Thanh Hoá. Những vị anh hùng dân tộc, những người con ưu tú của quê
hương như: Lê Hoàn, Lê Lợi, những điệu hò sông Mã, những điệu dân ca của các
dân tộc Kinh, Mường, Thái… những lễ hội, những tác phẩm bất hủ của các danh
nhân văn hoá như: “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu, “Song tinh bất dạ” của
Nguyễn Hữu Hào, “Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ… trở thành những nét tiêu
biểu và là niềm tự hào của văn hoá xứ Thanh.
1.1.4. Truyền thống hiếu học của nhân dân Thanh Hoá
Có thể nói, Thanh Hoá là một trong những tỉnh có truyền thống hiếu học,
đường dạy cho tất cả những ai đi qua (vì vậy mới gọi là Sư Lộ). Đầu thế kỷ XVIII,
thầy giáo Trần Ân Chiêm là người thầy lỗi lạc, đã mở trường Yên Định. Học trò của
ông sau này rất nhiều người đỗ đạt như: Bảng nhãn Hà Tông Huân, Thám hoa Đỗ
Huy Kỷ…
Đặc biệt, đầu thế kỷ XIX, thầy giáo Nhữ Bá Sỹ được xem là người thầy xuất
sắc nhất không chỉ ở Thanh Hoá mà còn của cả nước, có lẽ ông là người đầu tiên
mở trường và đưa ra những quy định, nội dung, thể thức dạy học đầu tiên.
Với tinh thần “tôn sư trọng đạo”, nhân dân Thanh Hóa đã bằng nhiều hình
thức ghi nhận công lao của họ như: lập đền thờ, khắc tên vào bia đá ở địa phương
15
để thờ phụng và lưu truyền hậu thế. Ngày nay, tại một số địa phương như: Thọ
Xuân, Đông Sơn, Hoằng Hoá…vẫn còn dấu tích của việc dựng Bia, lập Văn chỉ
nhằm lưu giữ lại thành tích học tập và kết quả khoa bảng của sỹ tử xưa. Đây là một
nét truyền thống tốt đẹp của xứ Thanh, nó thể hiện sự kính trọng của người dân đối
với những người có học.
Ngày nay, kế thừa những di sản vô giá đó, tại các địa phương trong tỉnh
Thanh luôn luôn có những “trò hay thầy giỏi”. Đất Thanh được coi là “đất học” của
cả nước. Hiện tại, có hơn 300 Phó giáo sư, Tiến sỹ, hơn 200 Thạc sỹ và hàng ngàn
Kỹ sư, Bác sỹ, Cử nhân, hàng chục vạn cán bộ văn hoá, khoa học kỹ thuật hoạt
động trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Hơn 300 Giáo sư, Tiến sỹ, Phó
giáo sư là những người con của xứ Thanh đang đem tài năng, tâm huyết của mình
phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH trên khắp mọi miền đất nước.
Như vậy, nhìn một cách khái quát về truyền thống hiếu học của Thanh Hoá ta
thấy rằng: đây là cả một quá trình hun đúc lâu dài, bền bỉ, thể hiện tính cần cù chịu
khó học hỏi của người dân địa phương. Chúng ta càng tự hào hơn khi mang danh
con cháu xứ Thanh và càng quyết tâm hơn khi tiếp tục là những thế hệ tiếp nối cha
ông xây dựng nền giáo dục đào tạo của quê hương xứ Thanh cũng như của đất nước
chuyên đề với thầy giáo Cao Xuân Huy, và cũng chỉ tồn tại trong năm 1949. Năm
1950, Bộ Ngoại giao cũng mở và tuyển sinh ở Thanh Hóa trường trung cấp ngoại giao
(chỉ chưa đến 20 người). Cũng năm này, trường Sư phạm sơ cấp Liên khu IV (đào tạo
giáo viên cấp I) được thành lập ở tỉnh, tuyển sinh và khai giảng từ năm học 1950 –
1951. Các trường lớp này là trường của Trung ương và khu vực đặt tại Thanh Hóa.
Nghĩa là đến 1950, thực tế Thanh Hóa chưa xuất hiện hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
của mình, ngoại trừ một số lớp sư phạm cấp tốc, một số lớp sư phạm thực hành, kỹ
nghệ thực nghiệm đã tổ chức và thi kiểm tra tốt nghiệp từ năm 1946 đến 1949.
Trường lớp chuyên nghiệp đầu tiên của tỉnh là Sư phạm cấp tốc miền núi Ngọc
Lặc (36 học viên). Hòa bình lập lại, từ 1958 trở đi tỉnh Thanh Hoá mới hình thành và
phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp mà đầu tiên là các trường sư phạm cấp I và
Sư phạm trung cấp. Hệ thống Giáo dục chuyên nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất chính
là vào những năm tháng cả nước cũng như toàn tỉnh phải chiến đấu ác liệt với chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược (1965 - 1975). Phát triển nhanh chóng về số
lượng đến mức Nghị quyết 278 ĐT/UBTH của Ủy ban hành chính tỉnh tháng 5 – 1970
17
phải nêu là một nhược điểm: “Việc phát triển về số lượng quá nhanh vượt quá các điều
kiện khác để đảm bảo về chất lượng”. (Tổng số trường lên đến 93, kể cả một số
trường văn hóa tập trung) [86, tr.50]
Năm học 1977 – 1978, ngành Giáo dục – Đào tạo Thanh Hóa bước vào năm
học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV; Thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV; Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ
lần thứ IX. Trường Cao đẳng sư phạm được chính thức công nhận (QĐ 164 TTg của
Thủ tướng Chính phủ).
Ngày 11-1-1977, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết
14 về Cải cách giáo dục. Toàn ngành Giáo dục bắt đầu thực hiện Cải cách giáo dục lần
thứ 3. Nội dung mục tiêu cơ bản: