BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trần Thị Vân
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG LÂY NHIỄM
HPV CỦA PHỤ NỮ CÓ CHỒNG TẠI MỘT SỐ XÃ
Ở HẢI DƯƠNG VÀ PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62720301
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP PHÒNG LÂY NHIỄM
HPV CỦA PHỤ NỮ CÓ CHỒNG TẠI MỘT SỐ XÃ
Ở HẢI DƯƠNG VÀ PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62720301
Tôi xin trân trọng cảm ơn những người thầy, cô có nhiều kiến thức, kinh
nghiệm đã tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm cũng như hỗ trợ về ý tưởng, nội
dung nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài cũng như
hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ủy ban nhân dân xã, Trạm Y tế xã, các cán bộ y
tế xã, các cộng tác viên y tế thôn bản, các cán bộ Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,
chồng, phụ nữ đã có chồng thuộc xã An Lạc, phường Bến Tắm, thị xã Chí Linh,
tỉnh Hải Dương và xã Tu Vũ, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú
Thọ đã giúp đỡ và cho tôi được tiến hành nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học y tế công cộng,
Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam trong nhóm nghiên cứu đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và triển khai can thiệp tại thực địa.
Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam đã
tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới những người thân trong gia đình
của tôi, đã động viên và hỗ trợ rất lớn để tôi hoàn thành luận án.
Tác giả luận án
Trần Thị Vân
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan............................................................................................................ i
MỤC LỤC .............................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ...................................................................................... ix
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUA TÀI LIỆU ………………………………...……………4
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .................................................................................... 94
4.1. Bàn luận về kiến thức của phụ nữ có chồng tuổi 15-49 về phòng nhiễm HPV trước can
thiệp ......................................................................................................................................... 94
4.2. Thái độ phòng HPV của phụ nữ có chồng tuổi 15-49 trước can thiệp ....................... 100
4.3. Hành vi phòng nhiễm HPV của phụ nữ đã có gia đình tuổi 15-49 trước can thiệp ... 102
4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, hành vi phòng nhiễm HPV ........................... 104
4.5. Kết quả của hoạt động can thiệp .................................................................................. 107
4.6. Hạn chế của đề tài và cách khắc phục............................................................................ 116
4.7. Tính mới và đóng góp của luận án ................................................................ 117
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 119
1.
Kiến thức, thái độ và hành vi về phòng nhiễm HPV của phụ nữ tuổi 15-49 có chồng
trước can thiệp......................................................................................................................... 119
2.
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về phòng nhiễm HPV của
phụ nữ tuổi 15-49 có chồng trước can thiệp .......................................................................... 119
3.
Kết quả của hoạt động can thiệp .................................................................................. 120
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................. 121
Danh mục các công trình công bố kết quả............................................................ 122
Phụ lục 1: Bảng biến số .......................................................................................................... 137
Phụ lục 2: Bộ công cụ thu thập số liệu định lượng................................................................ 143
Phụ lục 3: Cách tính điểm kiến thức, thái độ, thực hành....................................................... 154
Phụ lục 4: Một số điểm được điều chỉnh sau quá trình thử nghiệm ..................................... 156
Phụ lục 23: Nhận thức về rào cản khi thực hiện hành vi tiêm vắc xin HPV trước và sau can
thiệp ....................................................................................................................................... 206
Phụ lục 24: Sự thay đổi kiến thức chung về phòng lây nhiễm HPV trước và sau can thiệp 206
Phụ lục 25: Lý do sử dụng BCS............................................................................................. 206
Phụ lục 26: Đánh giá tính giá trị và độ tin cậy của thang đo thái độ về dự phòng lây nhiễm
HPV ....................................................................................................................................... 207
Phụ lục 27: Tiếp xúc với các loại hình can thiệp và mối liên quan với kiến thức phòng lây
nhiễm HPV của đối tượng (kết quả phân tích logistic đơn biến)(n=320) .......................... 210
Phụ lục 28: KQ phân tích DID sau khi bỏ các biến độc lập về đặc điểm ĐTNC .. 211
Phụ lục 29: Giấy xác nhận đồng ý cho sử dụng số liệu ………………………....213
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCS
BPSD
BV
CDC
ĐL
ĐLC
ĐTNC
ĐTV
GDSK
HV
HPV
IARC
KT
NA
Nghiên cứu
Nghiên cứu sinh
Nâng cao sức khỏe
Phòng lây nhiễm
Phụ nữ
Quan hệ tình dục
Sức khỏe sinh sản
Sau can thiệp
Trung bình
Thái độ
Trước can thiệp
Ung thư cổ tử cung
Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thông tin về địa bàn can thiệp và chứng ............................................ 35
Bảng 2.1. Phương pháp chọn mẫu .................................................................... 43
Bảng 2.2. Các biến số chính trong nghiên cứu định lượng .................................. 44
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ tuổi 15-49 tham gia điều tra trước và
sau can thiệp .................................................................................................. 57
Bảng 3.2. Đối tượng đã từng nghe tới HPV ....................................................... 58
Bảng 3.3. Kiến thức về đối tượng và đường lây nhiễm HPV ............................... 59
Bảng 3.4. Kiến thức về các yếu tố tăng nguy cơ lây nhiễm HPV và các biện pháp
hạn chế .......................................................................................................... 60
Bảng 3.5. Kiến thức về triệu chứng, hậu quả và khả năng điều trị ....................... 61
Bảng 3.6. Kiến thức về vắc xin phòng nhiễm HPV ............................................ 62
sàng lọc UTCTC ............................................................................................ 81
Bảng 3.28. Mối liên quan giữa kênh thông tin nhận được về HPV và hành vi khám
sàng lọc UTCTC ............................................................................................ 82
Bảng 3.29. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi khám sàng lọc UTCTC ........ 83
Bảng 3.30. Mối liên quan giữa thái độ và hành vi khám sàng lọc UTCTC ........... 83
Bảng 3.31. Phân tích đa biến về mối liên quan đến hành vi khám sàng lọc ........... 84
Bảng 3.32. Đối tượng đã từng nghe tới HPV ..................................................... 84
Bảng 3.33. Sự thay đổi kiến thức TCT và SCT ở hai địa bàn nghiên cứu ............. 85
Bảng 3.34. Sự thay đổi thái độ chung về phòng lây nhiễm HPV trước và SCT ..... 87
Bảng 3.35. Sự thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HPV trước và SCT .................. 88
Bảng 3.36. Sự thay đổi dự định thực hiện hành vi phòng lây nhiễm HPV trước và
sau can thiệp .................................................................................................. 89
Bảng 3.37. Kết quả phân tích DID đánh giá hiệu quả của can thiệp đến kiến thức
phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng ...................................... 90
Bảng 3.38. Kết quả phân tích DID đánh giá hiệu quả của can thiệp đến thái độ
phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng ...................................... 91
Bảng 3.39. Kết quả phân tích DID đánh giá hiệu quả của can thiệp đến hành vi
phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng ...................................... 92
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình niềm tin sức khoẻ [86] .................................................... 28
Hình 1.2. Mô hình PRECEDE-PROCEED rút gọn [90] ............................... 31
Hình 1.3. Khung lý thuyết …………………………………………………..33
Hình 2.1. Thiết kế nghiên cứu đánh giá trước và sau can thiệp ....................... 40
Hình 2. 2. Minh họa ý nghĩa của phân tích DID.......................................................50
Hình 2.3. Minh họa các hệ số hồi quy trong mô hình phân tích DID.......................52
xảy ra ở các nước đang phát triển[173]. Ung thư cổ tử cung thường xảy ra ở những
phụ nữ trên 35 tuổi, là độ tuổi lao động đang phải gánh vác công việc kiếm sống
cho gia đình cũng như chăm sóc sóc con, cháu. Vì vậy, mắc bệnh và tử vong do
UTCTC sẽ ảnh hưởng rất lớn đến gia đình và xã hội [3]. Hiểu biết về HPV và cách
phòng nhiễm HPV là đóng góp phần quan trọng trong phòng UTCTC, căn bệnh
đang có xu hướng tăng nhanh ở nước ta. Phòng UTCTC cũng là một trong các ưu
tiên quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn sau 2015 nhằm cải thiện sức
khỏe, giảm gánh nặng về bệnh tật và tử vong cho phụ nữ trong thập kỷ tới [3]. Quan
2
hệ tình dục an toàn, tiêm vắc xin HPV đồng thời khám sàng lọc UTCTC và xét
nghiệm HPV để xác định các trường hợp có tổn thương cổ tử cung từ đó áp dụng
cách tiếp cận điều trị phù hợp là các khuyến cáo của Bộ Y tế nhằm phòng nhiễm
HPV và giảm tỷ lệ UTCTC ở nước ta [3].
Nhiều nghiên cứu và các bằng chứng thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã
chứng minh được mức độ an toàn, tính hiệu quả của vắc xin HPV trong phòng
nhiễm HPV[57]. Tuy nhiên, việc triển khai tiêm vắc xin HPV dự phòng UTCTC ở
các nước đang phát triển và ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn do giá thành cao,
hiểu biết về HPV và vắc xin phòng HPV của cộng đồng còn hạn chế[54]. Vì thế để
dự phòng UTCTC do nhiễm HPV ở các nước đang phát triển như Việt Nam, rất cần
các chương trình can thiệp sớm phòng nhiễm HPV cho cộng đồng, đặc biệt là phụ
nữ tuổi sinh sản. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kết quả
can thiệp phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ có chồng tại một số xã ở Hải Dương
và Phú Thọ" nhằm cung cấp các bằng chứng khoa học về hiệu quả của can thiệp
phòng nhiễm HPV trong cộng đồng hướng tới dự phòng UTCTC và một số bệnh
khác do HPV gây ra.
nghi cao với một loại biểu mô nhất định. Các loại HPV có thể gây ra các vấn đề sức
khỏe nghiêm trọng khác nhau ví dụ như mụn cóc hoặc ung thư. Tùy thuộc vào nguy
cơ gây ung thư người ta chia các loại HPV làm 3 nhóm là nhóm chưa xác định
được nguy cơ gây bệnh (HPV 3, 7, 10, 13, 27,...), nhóm có nguy cơ thấp (HPV 6,
11, ...) và nhóm có nguy cơ cao (HPV 16, 18, ...) [27], [56], [121], [124].
Tuy có sự khác biệt về tần suất nhiễm các loại HPV giữa các vùng địa lý
nhưng loại 16,18 thường là nguy cơ gây ung thư cổ tử cung ở hầu hết các nơi trên
thế giới [12], [17], [28], [58], [145].
1.1.2. Các đường lây truyền và hậu quả do nhiễm HPV
HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục. Hoạt động tình dục đồng giới
hay khác giới đều có thể lây truyền HPV trực tiếp qua đường sinh dục, miệng và
hậu môn [21], [55], [61].
HPV cũng có thể lây truyền trực tiếp từ da qua da, qua niêm mạc miệng và
niêm mạc bộ phận sinh dục do vết thương hở ở bộ phận sinh dục, qua các hành vi
tình dục trong đó có sờ, chạm vào bộ phận sinh dục bằng tay hoặc bằng miệng của
người bệnh sang người lành [2], [60]. HPV còn có thể lây truyền qua các vật dụng
như quần áo hay bề mặt tiếp xúc, tuy nhiên cơ chế lây truyền chưa rõ. Một số tác
5
giả cho rằng HPV có thể lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ trước và sau sinh,
tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp [93], [150].
Hầu hết những trường hợp nhiễm HPV là tạm thời, không có biểu hiện lâm
sàng và thường tự khỏi sau khoảng vài tháng đến 2 năm [27], [60]. Tuy nhiên
những trường hợp này có thể tái nhiễm hoặc bị nhiễm một loại HPV khác. Khoảng
10% số trường hợp nhiễm HPV còn lại gây bệnh có biểu hiện lâm sàng [60]. Các
tổn thương bệnh nặng nhất là cổ tử cung, gây UTCTC xâm lấn nếu không được phát
hiện và điều trị kịp thời [27], [151], [153].
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ mắc một số
Châu Phi là 24%, tiếp đến là vùng châu Mỹ la tinh và Caribe (16,1%); ở khu vực
Đông Nam Á là 14%. Tuy nhiên sau phân tích điều chỉnh theo quốc gia thì kết quả
về nhiễm HPV ở phụ nữ ở các nước trên thế giới khác nhau rất nhiều, thấp nhất là
1,6% và cao nhất là 41,9% [171].
Độ tuổi nhiễm HPV cao nhất ở phụ nữ dưới 25 tuổi với tỷ lệ trung bình là
24%. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm ở vùng Trung và Nam Mỹ
tăng lên ở phụ nữ từ 45 tuổi trở lên, hay ở một số nước có thu nhập thấp ở châu Á
và châu Phi thì tỷ lệ mắc hầu như không có gì khác biệt theo nhóm tuổi [151] .
Phân tích kết quả xét nghiệm tế bào cổ tử cung phụ nữ nhiễm HPV cho thấy
các type HPV bị nhiễm phổ biến nhất là HPV16 (2,5%), HPV18 (0,9%), HPV31
(0,7%), HPV58 (0.6%) và HPV52 (0,6%). Tuy nhiên, mức độ phổ biến của từng
chủng loại có khác nhau theo từng quốc gia và lãnh thổ. Các nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ nhiễm HPV52 là phổ biến ở Nhật Bản, Đài Loan và các nước Đông Phi trong khi
đó HPV18 là chủng vi rút phổ biến nhất ở Nam Châu Âu; HPV53 là 1 trong 5 loại
HPV chủ yếu được phát hiện tại Đông Phi, Trung và Bắc Mỹ. Mặc dù có một số
khác nhau về mức độ phổ biến của một số chủng HPV, nhìn chung HPV16 và
HPV18 vẫn là 2 chủng phổ biến và nguy hiểm nhất ở mọi quốc gia và là nguyên
nhân của hơn 70% các ca bệnh UTCTC xâm lấn [61] [91].
1.2.2. Tình hình nhiễm HPV ở Việt Nam
Tỷ lệ nhiễm HPV tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng và có sự khác
nhau giữa các vùng miền. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở khu vực
phía Nam cao hơn phía Bắc. Năm 2004, nghiên cứu của Cơ quan nghiên cứu ung
thư quốc tế (IARC) cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng dân cư nữ từ 18-75
tuổi tại Hà Nội là 4,05% [1]. Năm 2010, tác giả Bùi Diệu và cộng sự thực hiện
nghiên cứu trên 1620 phụ nữ độ tuổi 18-65 thuộc hai quận của Hà Nội cho thấy tỉ lệ
nhiễm HPV là 6,4% [7]. Cũng trong năm 2010, tác giả Trần Thị Lợi nghiên cứu
trên phụ nữ 18-69 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ nhiễm là 10,8%
[17] và tác giả Vũ Thị Hoàng Lan thực hiện nghiên cứu trên 1500 phụ nữ độ tuổi
8
1.2.3. Các phương pháp dự phòng UTCTC do lây nhiễm HPV
Ung thư cổ tử cung là bệnh nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao nhưng nếu được phát
hiện sớm và điều trị kịp thời thì có thể phòng được phần lớn các trường hợp bệnh.
Nhiễm một hoặc nhiều loại HPV nguy cơ cao đã được khẳng định là nguyên nhân
tiên phát của UTCTC. Các phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung
đã được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và nhiều quốc gia trên thế giới triển khai
bao gồm dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3[3], [21].
Dự phòng cấp 1: bao gồm tuyên truyền giáo dục nhằm giảm lối sống tình dục
có nguy cơ cao, quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc xin phòng nhiễm HPV, tránh
hoặc làm giảm các yếu tố nguy cơ khác như lập gia đình sớm, có con sớm, hút
thuốc lá (kể cả chủ động và thụ động) [3], [21], [167].
Ngoài ra, Tổ chức y tế thế giới cũng khuyến cáo giáo dục nâng cao kiến thức về
HPV, nhận thức được nguy cơ và có thái độ tích cực trong phòng lây nhiễm để giảm
hành vi nguy cơ, thực hiện chiến lược thay đổi hành vi phù hợp với từng vùng, địa
phương, phát triển và giới thiệu một cách hiệu quả về vắc xin phòng HPV, ngoài ra
cần khuyến khích cộng đồng hạn chế hút thuốc lá, có chế độ dinh dưỡng hợp
lý[173].
Dự phòng cấp 2: Mặc dù các biện pháp dự phòng ban đầu có thể coi là giảm
đáng kể nguy cơ và tỷ lệ nhiễm HPV là một nguyên nhân chính gây UTCTC.
Nhưng phát hiện các tổn thương tân sản nội biểu mô cổ tử cung và xử trí phù hợp
cũng là một vấn đề quan trọng trong khám và điều trị bệnh. Các phương pháp hiện
được dùng trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung bao gồm xét
nghiệm tế bào cổ tử cung (khám sàng lọc), quan sát cổ tử cung với dung dịch acid
acetic hoặc dung dịch Lugol, xét nghiệm ADN HPV. Sau khi được phát hiện, tổn
thương tiền ung thư có thể được điều trị bằng các phương pháp cắt bỏ (khoét chóp
bằng dao, dao điện, laser, LEEP) hoặc phá hủy (áp lạnh, đốt điện, hóa hơi bằng
có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc tìm ra các can thiệp phòng lây nhiễm
loại vi rút này [78]. Từ đó đến nay, việc dự phòng giảm nguy cơ nhiễm HPV để góp
phần dự phòng UTCTC đã được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng và thực hiện.
Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC),
thì UTCTC là loại ung thư có khả năng phòng ngừa cao nhất tại các nước phát triển vì
các đối tượng có nguy cơ có tỷ lệ tiếp cận cao với các chương trình tầm soát và tiêm
vắc xin phòng nhiễm HPV đang được thực hiện rộng rãi. Tuy nhiên tại các nước đang
phát triển, việc triển khai vắc xin phòng ngừa HPV gặp nhiều khó khăn liên quan đến
hiểu biết của phụ nữ về HPV và nguy cơ gây ung thư của HPV. Chính vì thế, gần đây
ngày càng nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi trong phòng nhiễm HPV
đã được tiến hành trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau như sinh viên, phụ nữ, cán bộ
10
y tế [84], [85], [137], [159]. Kết quả cho thấy mặc dù kiến thức, thái độ, hành vi về
phòng nhiễm HPV có cải thiện nhưng tỷ lệ nhóm phụ nữ hiểu biết về lĩnh vực này luôn
thấp và có sự khác nhau giữa các khu vực, quốc gia trong toàn cầu cũng như giữa các
địa phương trong mỗi nước [45], [50], [68], [115], [134], [165].
1.3.1.1 Kiến thức về HPV và mối liên quan đến ung thư cổ tử cung
Theo nhận xét của nhiều tác giả, tỷ lệ phụ nữ biết về HPV và hậu quả đối với
sức khỏe nhìn chung đã dần được cải thiện theo thời gian. Nghiên cứu của Vail và
cộng sự về kiến thức của phụ nữ về HPV ở trường Đại học Sountheasten, Hoa kỳ năm
1992 cho kết quả chỉ có 13 % đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đã từng nghe đến HPV,
trong đó chỉ có 8% biết HPV là nguyên nhân chính gây UTCTC [165]. Đến năm 2000,
theo điều tra Quốc gia nhằm khảo sát kiến thức về HPV của cộng đồng phụ nữ từ 1865 ở Hoa Kỳ, tỷ lệ này đạt 28%, và có đến 41% phụ nữ biết HPV có thể gây UTCTC
[159]. Nghiên cứu của Tiro và cộng sự năm 2007 trên 3079 phụ nữ từ 18 đến 75
tuổi ở Mỹ cho kết quả là có 40% đã từng nghe về HPV và đã có khoảng một nửa số
phụ nữ này biết HPV là nguyên nhân chính gây UTCTC, 64% biết HPV lây qua
đường tình dục [155]. Đến năm 2013, Ramin nghiên cứu trên đối tượng là phụ nữ tuổi
Burkina Faso chỉ là 8% [45].
Tỷ lệ biết về HPV và UTCTC cao hơn ở các phụ nữ làm việc trong nghành Y
tế. Nghiên cứu của Ugwu và cộng sự trên 177 phụ nữ là nhân viên y tế trường Đại
học điều dưỡng tại thành phố Enugu State thuộc Nigeria năm 2009 cho kết quả là
85,9% trong số họ biết rằng HPV là tác nhân gây bệnh UTCTC và 78,0% biết rằng
HPV lây truyền qua đường tình dục. Nghiên cứu ở Trường Đại học Malaya,
Malaysia năm 2009 cho thấy 89,1% sinh viên y khoa có điểm kiến thức đạt trung
bình trở lên về HPV [137]. Tuy nhiên, lứa tuổi và năm học trong các trường Y cũng
liên quan đến kiến thức về HPV. Trong một nghiên cứu gần đây (năm 2015) ở sinh
viên điều dưỡng, Đại học Y ở Đài loan cho thấy chỉ có 26,4% sinh viên năm thứ
nhất ở lứa tuổi 15-16 có nghe nói đến HPV [157].
Tỷ lệ biết về HPV và UTCTC thấp nhất ở phụ nữ nông thôn, trong các gia
đình nghèo. Nghiên cứu của Li tại Trung Quốc năm 2009 cho thấy chỉ có 9,3% phụ
nữ nông thôn có nghe nói về HPV [110]. Nghiên cứu của Abida và cộng sự tiến
hành vào năm 2013-2014, ở Tân Cương, Trung Quốc, cho kết quả chỉ có 13% phụ
nữ đã nghe nói về HPV và 27,0% nghe nói về UTCTC [38]. Kết quả tương tự cũng
được Shao –Kai Zhang khẳng định trong nghiên cứu trong phạm vi toàn quốc năm
12
2014 với chỉ 16,4% số phụ nữ biết về hậu quả gây UTCTC và mụn cóc đường sinh
dục[177].
Sự khác biệt về kiến thức cũng rất rõ giữa các nhóm phụ nữ da trắng và da
màu. Trong nghiên cứu của Sadry và cộng sự ở Canada cho thấy nhận thức về HPV
cũng như về vắc xin phòng UTCTC ở phụ nữ da trắng đều cao hơn phụ nữ da màu
(93% so với 69% và 94% so với 64%) (p
vắc xin HPV với bất cứ mức chi phí nào, số phụ nữ còn lại cần có thêm thông tin
hoặc giảm bớt kinh phí [76]. Năm 2007, nghiên cứu của Lee và cộng sự tại Hồng
Kông, Trung Quốc cho thấy mặc dù kiến thức của phụ nữ về HPV rất hạn chế
nhưng tất cả những người tham gia đều ủng hộ tiêm phòng HPV cho cả bản thân và
con gái của họ [109]. Một nghiên cứu khác cũng ở Trung quốc của Li và cộng sự
năm 2009, cho kết quả là 84,6% người tham gia đã sẵn sàng để được tiêm vắc xin
nếu vắc xin HPV có sẵn cho họ [110]. Trong nghiên cứu của Pierre Joseph, có 90%
phụ nữ chấp nhận tiêm phòng HPV [133]. Nghiên cứu của Ugwu và cộng sự ở
Nigeria cho thấy có tới 91% phụ nữ sẵn sàng cho con gái của họ là vị thành niên,
thanh thiếu niên, hoặc phụ nữ trẻ chưa quan hệ tình dục tiêm vắc xin HPV để phòng
UTCTC, 71,4% số người sẵn sàng xét nghiệm Pap smear cho chính mình và giới
thiệu nó cho các phụ nữ khác [161]. Năm 2009, nghiên cứu của Rashwan và cộng
sự với đối tượng là sinh viên tại Malaysia cho kết quả là 80,3% số sinh viên tham
gia nghiên cứu mong muốn được tiêm phòng HPV. Lý do để họ quan tâm đến tiêm
phòng là vì họ đã nhận thức được UTCTC là một trong những bệnh ung thư phổ
biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới [137].
Thái độ và sự chấp nhận tiêm phòng HPV phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Những
phụ nữ không chấp nhận vắc xin do chưa có kiến thức về HPV cũng như khả năng
có thể phòng bệnh được bằng vắc xin. Một số khác chưa hoàn toàn tin tưởng vào
vắc xin HPV, lo sợ về tác dụng phụ, về kinh phí phải chi trả còn cao, về văn hóa, về
tôn giáo v.v.
Nghiên cứu của Michail ở Hy lạp trên 1210 nữ sinh viên, tuổi 17-24, có tới
52,2% lo sợ vắc xin HPV có các tác dụng phụ [119]. Nghiên cứu của Christian và
cộng sự với đối tượng là nữ y tá ở Nigeria kết luận là 29,8% không sẵn sàng để
được tiêm chủng với lý do chính là không đủ kiến thức về các loại vắc xin
14
HPV[113]. Ở châu Á, nghiên cứu của Montgomery và cộng sự tại Karnataka,