CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ
Tổng quan về các công trình nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu thực tế ứng dụng CNTT tại Việt
Nam, Ngành Dầu khí và một số doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước đã cho thấy nhiều đề tài, dự án triển khai ứng dụng
CNTT cụ thể như sau :
Các chương trình dự án ứng dụng CNTT
+ Đề án 112 hay còn gọi là Đề án Tin học hóa hành chính nhà
nước của Chính phủ Việt Nam nhằm mục đích xây dựng
chính phủ điện tử ở Việt Nam. Đây là một chương trình hiện
đại hóa hành chính của chính quyền Việt Nam giai đoạn 2001
- 2010 về cải cách thủ tục hành chính nhà nước (Quốc hội
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013).
+Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều
chương trình dự án quy mô đầu tư lớn về ứng dụng CNTT trong
những năm qua:
Dự án ứng dụng CNTT Văn phòng, Email và Internet đã phổ cập
đến CBCNV làm công tác nghiên cứu; quản lý và điều hành
trong Tập đoàn và tại các đơn vị ;
Tập đoàn và tất cả các đơn vị, Tổng công ty đã xây dựng
Website riêng thực hiện truyền thông, giới thiệu dịch vụ và
quảng bá hình ảnh của Tập đoàn và các đơn vị.
Dự án các hệ thống ứng dụng quản lý sản xuất kinh doanh
(Hệ thống Kế toán - Tài chính, hệ thống báo cáo hợp nhất, Hệ
thống quản lý nhân sự, Hệ thống quản lý khách hàng,…).
quản lý các luồng thông tin theo các luồng công việc
(Workflow). Việc ứng dụng sharepoint đã giúp tiết kiệm thời
gian, tiền bạc và nhân lực trong hoạt động của doanh nghiệp.
+ Tập thể tác giả Ban Công Nghệ Thông Tin và Hệ Thống -
Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí (2016), Nghiên
cứu xây dựng ứng dụng hỗ trợ người dùng trực tuyến. Trong
nghiên cứu khoa học cấp Tổng công ty này nhóm tác giả đưa
ra các nội dung phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý
các dịch vụ hỗ trợ CNTT trong Tổng công ty, từ đó, đưa ra
một giải pháp xây dựng một hệ thống hỗ trợ người dùng trực
tuyến thống nhất từ văn phòng Tổng công ty tới các chi nhánh
và đơn vị con; Bao gồm cải tiến mô hình tổ chức bộ phận hỗ
trợ kỹ thuật, nghiên cứu xây dựng dựng 06 quy trình quản lý
vận hành dịch vụ CNTT và triển khai cấu hình, chạy thử
nghiệm với 02 quy trình quản lý vận hành trên ứng dụng
Service Desk Plus 9.1 (SDP). Kết quả thử nghiệm cho thấy
với mô hình hỗ trợ kỹ thuật mới này, với ứng dụng SDP, các
quy trình đã xây dựng thì đã giải quyết được các yêu cầu cải
tiến đặt ra trong đề tài và đáp ứng được nhu cầu của Ban
Công nghệ thông tin và Hệ thống và Tổng công ty.
+ TS.Trần Châu Giang (2013), Phân tích rủi ro trong đánh giá
hệ thống dầu khí; Trong nghiên cứu này Tác giả đã đưa ra
được một hệ thống thông tin giúp trợ giúp việc ra quyết định
tìm kiếm thăm dò dầu khí dựa trên các quy tắc xác suất trong
phân tích rủi ro đó là đánh giá một hệ thống dầu khí cần phân
tích các yếu tố cơ bản cấu thành nên hệ thống này đó là: đá
thức và thông tin về hệ thống các cơ quan chỉ đạo, quản lý về
CNTT; Ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước; Công
nghiệp CNTT; An toàn thông tin và Viễn thông Internet.
Như vậy có thể khẳng định chưa có một công trình nghiên cứu
nào về ứng dụng CNTT trong quản lý doanh nghiệp mà cụ thể
là Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí – PVEP. Do
vậy việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn là cần thiết từ đó
đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong Quản lý tại Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu
khí - PVEP
Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước
Một số khái niệm:
Định nghĩa công nghệ
Xã hội loài người phát triển như ngày nay là do con người
luôn luôn sáng tạo, áp dụng những thành tựu công nghệ vào
đời sống xã hội. Công nghệ đã trở thành một trong những
nguồn lực quan trọng trong rất nhiều lĩnh vực và có ảnh
hưởng to lớn tới cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng.
Định nghĩa do Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): “Công nghệ là kiến thức có hệ
thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và
thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương
pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung
cấp dịch vụ”.
Công nghệ = Máy móc, công cụ + Tri thức + Kỹ năng +
Phương pháp
Trong đó:
+ Tri thức: Sách vở giáo trình, các tài liệu công nghệ
nguyên liệu đầu vào hay nói chung là các yếu tố đầu vào từ
môi trường nghiên cứu, phát triển sang môi trường sản xuất
có sự tương đồng. Công nghệ nội sinh cũng có những ưu
nhược điểm sau:
+ Các ưu điểm: Công nghệ tạo ra phù hợp với mục đích sử dụng
của bên nhận; Bên nhận dễ dàng làm chủ được công nghệ;
không phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, đặc biệt về kỹ thuật; Tận
dụng các nguồn lực, yếu tố đầu vào sẵn có ở địa phương. Ngoài
ra, công nghệ khi xuất khẩu còn mang lại nhiều lợi ích cho Bên
giao và nước giao như việc phát triển, mở rộng thêm tính năng
của công nghệ, không những tiết kiệm ngoại tệ mà còn thu được
ngoại tệ.
+ Các nhược điểm: Để có được một công nghệ cần nhiều thời
gian, tiền của và nhân lực, do đó nếu chỉ dựa hoàn toàn vào
công nghệ nội sinh thời gian công nghệ hóa sẽ kéo dài. Có
khả năng mất cơ hội, khả năng cạnh tranh trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh. Nếu trình độ nghiên cứu và triển khai không
cao, công nghệ tạo ra sẽ ít giá trị, công nghệ lạc hậu tạo ra sản
phẩm không thể cạnh tranh thị trường ngay ở trong nước.
Công nghệ ngoại sinh
Công nghệ ngoại sinh là một công nghệ thông qua việc mua
công nghệ do nước ngoài sản xuất. Đối với công nghệ ngoại
sinh thường có các bước :
Thực tế hiện nay việc nhập công nghệ kết hợp ba yếu tố là
mua thiết bị, liên doanh và mua bản quyền.
+ Các ưu điểm: Tiết kiệm thời gian, tiền của và nhân lực, tận
dụng được cơ hội, giảm được thời gian công nghệ hóa qua đó
sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động sản xuất
dây chuyền sản xuất mà còn giúp họ sản xuất thành công sản
phẩm sử dụng công nghệ được giao. Mức độ 3 hay được sử
dụng trong việc đầu tư phát triển phần mềm ứng dụng nội bộ,
sau khi phát triển và đưa vào sử dụng thì bên bán phải hỗ trợ,
tối ưu quy trình, tối ưu sản phẩm trong khoảng từ 1 đến 2
năm. Hay gặp trong trường hợp đào tạo chuyên sâu cho cán
bộ kỹ thuật chịu trách nhiệm quản trị hệ thống phức tạp sau
một thời gian triển khai.
Mức độ 4 - Trao thị trường: Được đánh giá là mức độ
chuyển giao công nghệ sâu nhất. Ngoài trách nhiệm chuyển
giao công nghệ cho bên nhận, bên giao còn phải bàn giao một
phần thị trường của mình, nơi họ đã xâm nhập thành công cho
bên nhận và hình thức này được thể hiện trong hình thức liên
doanh. Đối với mức độ này đang là một xu hướng trong
chuyển giao ứng dụng CNTT liên quan đến hệ thống dịch vụ
công trong cơ quan nhà nước. Các hệ thống này đòi hỏi sự am
hiểu công nghệ của các công ty công nghệ kết hợp với trình
độ chuyên môn, quản lý của các cán bộ chuyên môn. Hình
thức đầu tư hợp tác Công - Tư cũng được đạt mức độ “Trao
thị trường...
Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin chính là một loại công nghệ. Thuật ngữ
“công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài
viết xuất bản tại tạp chí Havard Business Review. Hai tác giả
của bài viết, Levitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới
chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông
tin”. Theo thời gian CNTT đã có nhiều định nghĩa đưa ra, hoàn
thiện hơn.
Là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh
vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt
động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các
hoạt động này (Điểm 5, Điều 4, Luật CNTT 2006).
An toàn thông tin
Bao gồm các hoạt động áp dụng công nghệ đối với hệ thống
thông tin nhằm bảo vệ, khôi phục các hệ thống, các dịch vụ và
thông tin đối với nguy cơ do tự nhiên hoặc con người gây ra.
Việc bảo vệ thông tin, tài sản và con người trong hệ thống
thông tin nhằm đảm bảo cho hệ thống vận hành chính xác an
toàn và tin cậy. An toàn thông tin bao gồm các nội dung về
bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu, an toàn máy tính và an
toàn mạng (Điểm 3, Điều 3, Nghị định 64/2007/NĐ-CP).
Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin
Là tập hợp thiết bị tính toán (Máy chủ, máy trạm), thiết bị
ngoại vi, thiết bị kết nối mạng, thiết bị phụ trợ, mạng nội bộ,
mạng diện rộng (Điểm 7, Điều 3, Nghị định 64/2007/NĐ-CP).
Văn bản điện tử
Là văn bản được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điểm
6, Điều 3, Nghị định 64/2007/NĐ-CP).
Một số khái niệm liên quan được định nghĩa tại Luật CNTT
(Điều 4)
+ Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung
cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ
sở hạ tầng thông tin.
+ Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền
hiện. Cuối năm 2000, Bộ Chính trị cũng chính thức ban hành
Chỉ thị 58 (58-CT/TW) về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng
CNTT. Từ thời điểm này, có thể nói kinh tế tri thức và CNTT
đã trở thành một phần trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của Việt Nam. Việc Việt Nam tiếp cận kinh tế tri thức và
phát triển CNTT hoàn toàn phù hợp với vị thế của mình và
phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Chỉ thị 58 của Bộ
chính trị về CNTT chỉ rõ “CNTT là một trong các động lực
quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công
nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, vǎn
hoá, xã hội của thế giới hiện đại”. “Ứng dụng và phát triển
CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật
chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc
đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh
tế…” Việc nhấn mạnh về ứng dụng CNTT trong Chỉ thị 58
chứng tỏ quan điểm vĩ mô về CNTT khá rõ ràng: CNTT vượt
qua khỏi giới hạn của một công nghệ và một ngành công
nghiệp và trở thành một bộ phận không tách rời của nền kinh
tế tri thức mà chúng ta hướng tới, mặc dù vị trí của CNTT vẫn
chưa được nhấn mạnh đầy đủ. Chỉ thị 58 cũng chỉ rõ phương
hướng để phát triển CNTT cho Việt Nam gồm bốn hướng
đồng thời: Ứng dụng CNTT, Hạ tầng CNTT, Giáo dục đào tạo
về CNTT và Công nghiệp CNTT.
Vai trò ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp
Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp
góp phần nâng cao năng lực quản lý tối ưu hóa các nguồn lực
của doanh nghiệp:
động…
+ CNTT hiện nay cũng càng ngày càng có vai trò trong việc
tham mưu trợ giúp ra quyết định cho các cấp quản lý doanh
nghiệp từ các hoạt động cơ bản như cung cấp, chia sẻ thông
tin, phân tích thông tin dưới góc độ đa chiều, đem lại tính
đúng đắn cao.
+ Xử lý công việc mọi lúc, mọi nơi: giúp cho CBCNV doanh
nghiệp có thể xử lý công việc, cung cấp thông tin, giao dịch
mọi lúc mọi nơi qua môi trường mạng khi có yêu cầu của
quản lý
+ Việc sống trong thời đại số, môi trường văn phòng số, trình
độ CBCNV không ngừng nâng cao, nhờ được đào tạo, bồi
dưỡng nhiều hơn. CNTT cũng giúp cho CBCNV dễ dàng tìm
hiểu, nghiên cứu luồng tài liệu trên mạng và có môi trường tốt
hơn trong việc tự học. CNTT cũng giúp cho một khóa đào tạo,
bồi dưỡng được tổ chức cho nhiều người tham dự hơn thông
qua hình thức đào tạo trực tuyến.
Có thể nói trong thời đại thế giới số, thời đại khoa học công
nghệ thì những thuận lợi từ CNTT là sẽ rất nhiều và phát triển
liên tục vượt ngoài sức tưởng tượng của nhân loại. Và CNTT
sẽ là một vũ khí chiến lược giúp cho doanh nghiệp phát triển
trong môi trường đầy biến động và cạnh tranh.
Cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin
Ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp chính là
việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của
doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hoạt đông kinh doanh của
doanh nghiệp. Để hiểu rõ được ứng dụng công nghệ thông tin
trong doanh nghiệp trước trước tiên chúng ta cần phải hiểu
thông qua việc kết hợp quảng cáo, …
+ Dịch vụ: Sau khi sản phẩm, dịch vụ đã được bán những dịch
vụ hỗ trợ nào cho khách hàng được tổ chức ?
Các hoạt động hỗ trợ: Hoạt động hỗ trợ giúp các hoạt động
chủ yếu trong việc giúp đỡ các tổ chức đạt được lợi thế cạnh
tranh. Hoạt động hỗ trợ bao gồm:
+ Mua sắm: Bộ phận này phải bảo đảm nguồn nguyên liệu
cho doanh nghiệp và phải có được mức giá tốt nhất. Thách
thức đối với mua sắm là để có được chất lượng tốt nhất có thể
có trên thị trường, phù hợp với ngân sách của doanh nghiệp.
+ Phát triển công nghệ: sử dụng công nghệ để có được một lợi
thế cạnh tranh là rất quan trọng trong môi trường theo định
hướng của công nghệ hiện nay. Công nghệ có thể được sử
dụng trong nhiều công việc, bao gồm cả trong các hoạt động
cơ sở và hoạt động bổ trợ.
+ Quản lý nguồn nhân lực: Tổ chức sẽ phải tuyển dụng, đào
tạo và phát triển những con người cho doanh nghiệp.
+ Cơ sở hạ tầng: các doanh nghiệp đều cần đảm bảo về mặt
tài chính, cơ cấu pháp lý và cơ cấu quản lý làm việc hiệu quả.
Theo mô hình trên mỗi hoạt động có tính tương đối độc lập,
ví dụ hoạt động Marketing và bán hàng có thể tổ chức là một
bộ phận độc lập. Tuy nhiên bộ phận này có mối liên hệ trực
tiếp với bộ phận dịch vụ và có mối liên hệ với các bộ phận
khác. Mối quan hệ giữa các hoạt động cơ sở, hoạt động bổ
trợ, và giữa các hoạt động được gọi là giao diện. Như vậy có
ba loại giao diện, giao diện giữa hoạt động cơ sở và hoạt động
hỗ trợ, giao diện giữa các hoạt động cơ sở, giao diện với
khách hàng và nhà cung ứng. Với sự phát triển của CNTT