THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 61

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VŨ NGỌC HÀ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VŨ NGỌC HÀ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TÀO THỊ QUYÊN

HÀ NỘI - 2019



môi trường ở một số nước trên thế giới
2.5. Một số giá trị tham khảo cho Việt Nam
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM

1
7
7
18
23
27
27
53
63
70
78

81

3.1. Khái quát về môi trường và tình hình vi phạm hành chính về bảo vệ
môi trường ở Việt Nam
3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam

101

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

CCHC

:

Cải cách hành chính

ÔNMT

:

Ô nhiễm môi trường

THPL

:

Thực hiện pháp luật

TNHH

:

Trách nhiệm hữu hạn

TNMT

:

Tài nguyên môi trường



DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 3.1: Thống kê số liệu vi phạm pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại

90

Bảng 3.2: Tỷ lệ các bệnh người mắc cao nhất trong phạm vi toàn quốc

99

Bảng 3.3: Thống kê số liệu vi phạm pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại

105

Bảng 3.4: Thống kê việc xử lý vi phạm hành chính về quản lý chất thải

106

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Tỷ trọng tiêu thụ năng lượng theo ngành

95

Biểu đồ 3.2: Số lượng xe mô tô, gắn máy tại Hà Nội năm 2001 - 2013


gia trên thế giới quan tâm đặt thành quốc sách. Do đó, BVMT không là nhiệm vụ
của riêng cá nhân hay quốc gia nào mà trách nhiệm của toàn nhân loại. Tuy nhiên
trong những thập kỷ gần đây môi trường thế giới đang có những thay đổi theo chiều
hướng xấu đi do sự thay đổi của khí hậu toàn cầu: sự suy giảm tầng ôzôn đang làm
cho trái đất ngày càng nóng lên sự suy giảm của nhiều giống, loài động vật, thực
vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật quý hiếm,vấn đề cháy rừng, vấn đề chất
thải, ô nhiễm…
Hiệu quả quản lý nhà nước về BVMT phụ thuộc vào nhiều hoạt động thanh
tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Thanh tra, kiểm tra
thường xuyên sẽ giúp các chủ thể quản lý nắm được tình hình thực hiện pháp
luật (THPL) về BVMT của các đối tượng quản lý, qua đó có thể đề ra các biện
pháp tác động thích hợp đến từng đối tượng như khuyến khích, động viên các tổ
chức, cá nhân nghiêm chỉnh THPL về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC)
trong lĩnh vực BVMT nhằm phát hiện, uốn nắn kịp thời các đối tượng có biểu
hiện sai phạm, góp phần định hướng hành vi xử sự tích cực của họ trong công
tác BVMT. Xử lý nghiêm minh các VPPL về môi trường mà trước hết là xử phạt
vi phạm hành chính (XPVPHC) đối với hành vi này, sẽ góp phần ngăn chặn kịp
thời các hành vi ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, răn đe các đối tượng có
biểu hiện thiếu tôn trọng pháp luật. Ngoài ra các hoạt động nêu trên còn giúp các
cơ quan quản lý môi trường phát hiện ra những điểm bất hợp lý trong chính các
quy định của pháp luật để từ đó có hướng điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù
hợp với yêu cầu của cuộc sống.
Thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT là hoạt động của các
cơ quan, tổ chức và cá nhân làm cho các quy định pháp luật về XLVPHC trong lĩnh


2
vực BVMT trở thành hiện thực trong cuộc sống, nhằm xử lý nghiêm minh và kịp
thời đối với các hành vi vi phạm hành chính (VPHC) về BVMT, góp phần BVMT
an toàn và trong lành cho cộng đồng xã hội.

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài "Thực hiện pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" để
nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ Luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT, đánh
giá thực trạng THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam thời gian qua,
luận án xác định các quan điểm, đề xuất các giải pháp đảm bảo THPL về XLVPHC
trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, Luận án hướng đến giải quyết các
nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và một số nước trên thế
giới có liên quan đến đề tài luận án, đánh giá những giá trị của các công trình đó và
xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
Hai là, xây dựng khái niệm THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT; làm
rõ nội dung, hình thức, các yếu tố ảnh hưởngTHPL về XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT; nghiên cứu kinh nghiệm THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở một
số nước trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam..
Thứ ba, phân tích những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập trong
THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam, đồng thời chỉ rõ nguyên
nhân của những hạn chế và bất cập đó.
Thứ tư, luận chứng cơ sở khoa học để đề xuất các quan điểm và giải pháp
bảo đảm THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam
hiện nay.


- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp phân tích được sử dụng ở
tất cả các chương của Luận án để làm rõ vấn đề lý luận về THPL về XLVPHC


5
trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay như phân tích khái niệm, nội dung,
nguyên tắc, các yếu tố ảnh hưởng đến việc THPL về XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT. Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu, thông tin thu
thập từ việc phân tích các tài liệu, phiếu đièu tra, khảo sát…nhằm tạo ra một hệ
thống lý thuyết về vấn đề nghiên cứu của Luận án.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Hai phương pháp này được sử dụng
trong toàn bộ Luận án để tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và kiểm định tính
đúng đắn của các giả thiết đó.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở
Chương 3 để đánh giá mức độ hoàn thành cũng như thành công của Luận án; những
hạn chế trong thực tiễn khi áp dụng các quy định của pháp luật về THPL về
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này tác giả sử dụng chủ yếu ở Chương 2
để đối chiếu, so sánh mô hình THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt
Nam và một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những bài học, kinh nghiệm cho việc
lựa chọn những yếu tố hợp lý, phù hợp nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh đối với XLVPHC trong lĩnh vực BVMT hiện nay ở Việt Nam.
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để thu thập
thông tin, ý kiến tham gia của người dân, một số cán bộ công chức, viên chức được
giao thẩm quyền trong lĩnh vực BVMT và một số doanh nghiệp vừa và nhỏ đang
được cấp phép khai thác và sử dụng các dịch vụ từ môi trường.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên có tính hệ thống, toàn
diện về THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay. Điểm mới
và cũng là đóng góp khoa học quan trọng của luận án chính là vận dụng lý luận về

bổ sung những chính sách, pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT. Luận án
cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ
sở đào tạo về pháp luật BVMT, XLVPHC và những đề tài nghiên cứu có liên quan
đến THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 12 tiết.


7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện
pháp luật
Các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ "thực hiện pháp luật", "áp
dụng pháp luật", "thi hành pháp luật" để nghiên cứu những vấn đề chung về nhà
nước và pháp luật. Liên quan đến nội dung này, một số tác phẩm liên quan đã có
những đóng góp rất lớn để hiểu thế nào là "thực hiện pháp luật" nhằm giúp cho
những đối tượng có nhu cầu tìm hiểu sẽ nắm bắt một cách hoàn chỉnh về định nghĩa
cũng như áp dụng về "thực hiện pháp luật". Một số tác phẩm được kể đến liên quan
đến đề tài THPL về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT như:
- "Thực hiện pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Văn
Mạnh [76], tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về THPL như khái niệm, hình
thức, chủ thể, nội dung, các yếu tố bảo đảm cho THPL, những vấn đề đặt ra trong
THPL. Những nội dung này có ý nghĩa về lý luận cơ bản về THPL có giá trị tham
khảo khi nghiên cứu cơ sở lý luận của THPL nói chung và THPL về XLVPHC

đề lý luận cơ bản về THPL, cụ thể như Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và
pháp luật [73]; Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học lý luận chung về nhà nước
và pháp luật [74]; Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [75]; Giáo
trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [78]; Quy trình thực hiện pháp luật:
Lý luận, thực trạng và giải pháp [79]; Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Thị Hồi... Các công trình này đã đưa ra
những khái niệm, hình thức, nguyên tắc THPL. Đây là những lý luận cơ bản cho
các hoạt động nghiên cứu riêng về THPL và đây là những công trình nghiên cứu có
uy tín trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Ngoài ra còn có một số tác phẩm khác như
"Những vấn đề cơ bản về pháp luật" của Đào Trí Úc; "Những vấn đề lý luận cơ bản
về Nhà nước và pháp luật" của Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật do Đào Trí
Úc làm chủ biên; “Thực hiện pháp luật môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” của Nguyễn Thị Hoài Phương.


9
Các công trình nghiên cứu trên đều chứng minh rằng, THPL là một quá trình
hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở
thành những hoạt động có tính khả thi cao của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu các hình thức THPL chỉ là nghiên cứu thực hiện một QPPL nào đó,
áp dụng một QPPL nào đó, chưa đi sâu nghiên cứu việc THPL gắn với việc thực
hiện quyền lực nhà nước.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Nước ta từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì đồng nghĩa với việc
môi trường ngày càng xuống cấp và bị ô nhiễm nghiêm trọng. Xuất phát từ tình
hình thực tế đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường và BVMT,
có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:
- Sách "Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản" do Lê Văn Nãi làm
chủ biên. Trong cuốn sác này đã đề cập đến khái niệm môi trường, sinh thái, hệ

Linh, Việt Trinh làm chủ biên. Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu toàn bộ
các quy định của Luật BVMT năm 2014 và các quy định về đánh giá môi trường
chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT, quy định chế độ báo
cáo, thống kê...quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước; những quy
định về xử phạt các hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường.
- Sách "Giám sát xã hội về bảo vệ môi trường ở Việt Nam" của Bùi Cách
Tuyến. Tác giả đã trình bày các nội dung về một số vấn đề lý luận về giám sát xã
hội nhằm nâng cao hiệu quả BVMT. Nêu ra thực trạng giám sát xã hội đối với hoạt
động BVMT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đưa ra một số giải pháp nhằm
phát huy tốt hơn vai trò của giám sát xã hội nhằm nâng cao hiệu quả BVMT.
- Sách "Một số vấn đề về cơ chế bảo đảm thực thi điều cấm của pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường" của Phạm Văn Lợi. Tác giả đã trình bày về cơ
chế bảo đảm thực thi điều cấm của pháp luật trong lĩnh vực BVMT. Làm rõ thực
trạng nổi cộm hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cơ
chế bảo đảm thực thi các điều cấm của pháp luật trong lĩnh vực BVMT.
+ Sách "Trách nhiệm pháp lý trong pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt
Nam" do Nguyễn Thị Tố Uyên làm chủ biên. Cuốn sách nghiên cứu tương đối toàn
diện vấn đề trách nhiệm pháp lý trong việc hoàn thiện pháp luật BVMT ở Việt Nam
hiện nay. Trên cơ sở phân tích một số vấn đề về cơ sở lý luận của trách nhiệm pháp


11
lý; thực trạng vấn đề trách nhiệm pháp lý trong pháp luật BVMT ở Việt Nam hiện
nay, trong đó chỉ rõ những bất cập về trách nhiệm pháp lý trong pháp luật BVMT,
đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý
trong lĩnh vực này ở Việt Nam.
+ Sách "Tiến tới kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường Việt Nam" do Phạm Minh Hạc và Nguyễn Hữu Tưng chủ biên. Cuốn sách
gồm 5 chương, tập trung trình bày một số khái niệm cơ bản và văn bản quan trọng
về BVMT, mô hình cơ quan BVMT của một số quốc gia trong khu vực và trên thế

đối với việc THPL BVMT ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác này.
+ Sách "Kinh tế môi trường" của Bùi Văn Quyết. Với mục đích làm thế nào
để khai thác, sử dụng một cách tốt nhất tài nguyên môi trường (TNMT) trong các
hoạt động kinh tế - xã hội mà vẫn bảo đảm môi trường không bị ô nhiễm, suy thoái
và hủy hoại, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề kinh tế môi trường là một môn
khoa học được xây dựng nhằm giải quyết vấn đề trên.
Ngoài ra, các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước liên quan đến XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT cũng được nghiên cứu một cách tổng thể và chi tiết, đưa ra được
những kết quả và giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng cho công tác ngăn
ngừa, xử lý môi trường và công tác BVMT, hạn chế tối đa những hậu quả nghiêm
trọng ảnh hưởng đến môi trường. Các đề tài cấp nhà nước được nghiên cứu đã đem
lại kết quả và đã áp dụng có hiệu quả trên thực tiễn như:
+ Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu phát triển công nghệ và giải
pháp quản lý môi trường, ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng
nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long” do Lê Thanh Hải làm chủ nhiệm. Đây là đề
tài toàn diện, đề xuất được một số giải pháp công nghệ và quản lý khả thi cùng mô
hình (trình diễn) để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường (ÔNMT) tại một số làng
nghề đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hướng tới phát triển bền vững
khu vực. Đưa ra được hiện trạng sản xuất và vấn đề ô nhiễm của các làng nghề
Đồng bằng sông Cửu Long và dự báo xu hướng môi trường của các làng nghề này
đến năm 2025; đề xuất được các giải pháp phù hợp để quản lý môi trường và phát
triển bền vững một số các làng nghề chính tại Đồng bằng sông Cửu Long và có
được mô hình thực tế áp dụng các giải pháp công nghệ xử lý và quản lý môi trường.


13
+ Đề tài cấp Bộ loại C “Xác định thành phần các hợp chất tạo mùi trên
một số loại hình công nghiệp đặc trưng và định hướng công nghệ xử lý” của
Nguyễn Thị Thanh Phượng. Đề tài đã trình bày tổng quan nguồn gốc phát sinh

là Võ Quý được một giải và hai Giáo sư Hoa Kỳ Dr. Gene E.Likens, Dr. F. Herbert
Bormann được chung một giải; Giải thưởng Quốc tế Cosmos lần thứ 16 (Cosmos
Prize, 2008) “Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn” của Phan Nguyên Hồng.
Công trình khoa học có ý nghĩa to lớn trong BVMT toàn cầu, góp phần nâng cao
đời sống, ý thức và hành vi BVMT của cộng đồng, giúp đỡ các địa phương phục
hồi, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
dân nghèo ven biển.
* Một số Luận án Tiến sĩ đã thành công trong việc nghiên cứu đề tài về
BVMT và vấn đề XLVPHC về BVMT như:
+ Luận án Tiến sĩ Luật học “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam” của Vũ Thu Hạnh. Trên cơ sở
tiếp cận, phân tích cơ sở lý luận, Luận án đã góp phần nhìn nhận khái niệm tranh
chấp trong lĩnh vực môi trường, làm rõ bản chất pháp lý của tranh chấp, các đặc
điểm cơ bản của tranh chấp và xác định các tiêu chí để nhận dạng các tranh chấp
môi trường trong đời sống xã hội. Luận án cũng góp phần làm sáng tỏ các cơ sở lý
luận và thực tiễn của sự hình thành và không ngừng hoàn thiện cơ chế giải quyết
tranh chấp; củng cố các quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực BVMT của người
dân; góp phần nâng cao sự hiểu biết của đội ngũ cán bộ thừa hành pháp luật cũng
như của dân chúng về pháp luật môi trường.
+ Luận án Tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Tố Uyên. Luận án
đã nêu khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực BVMT ở hai khía cạnh “tích
cực” và “tiêu cực”, làm rõ được khái niệm “pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong
lĩnh vực BVMT”, hình thức thể hiện, phạm vi tác động và đối tượng tác động của
pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực BVMT. Luận án cũng dã đánh giá
một cách tương đối toàn diện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực
BVMT hiện nay, cũng như hiện trạng vi phạm pháp luật BVMT và thực tiễn áp
dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực BVMT, đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực này ở Việt
Nam hiện nay.

hình sự, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề tội phạm
môi trường ở nước ta hiện nay.


16
+ Trương Thu Trang với bài “Pháp luật về bảo vệ môi trường: Kinh nghiệm
một số nước Châu Á và bài học đối với Việt Nam”. Bài viết tập trung làm rõ một số
quy định của đạo luật, pháp luật của một số nước về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý
vi phạm của một số tổ chức, cá nhân về hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường và
rút ra một số bài học đối với Việt Nam.
+ Phạm Quý Ngọ có bài “Đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường”. Bài viết đã làm rõ tình hình vi phạm pháp luật môi
trường diễn ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến sự
phát triển kinh tế của đất nước, những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường của lực lượng
công an nhân dân; đồng thời bài viết cũng đưa ra một số giải pháp cấp thiết trong
thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi
phạm pháp luật về môi trường.
+ Phạm Văn Lợi, Trần Mai Phương, “Nâng cao hiệu quả giải quyết bồi
thường thiệt hại do vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”. Bài viết đã nêu lên
tình trạng vi phạm pháp luật về BVMT ở nước ta đang có xu hướng gia tăng, diễn
biến phức tạp nhưng những quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế giải quyết
yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực này ở Việt Nam mới chỉ dừng ở mức
chung chung, mang tính nguyên tắc, áp dụng chưa hiệu quả trên thực tế. Bài viết
cũng đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường thiệt hại do
vi phạm pháp luật về BVMT trong giai đoạn hiện nay.
+ Bùi Cách Tuyến, “Tập trung triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
năm 2014, đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực môi trường”. Bài viết đã nêu lên một số kết quả nổi bật trong lĩnh vực
BVMT của Tổng cục Môi trường, chủ động khắc phục khó khăn và hoàn thành tốt

nước ta.
+ Nguyễn Thị Tố Uyên, "Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về trách
nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam". Bài viết đã khái
quát được pháp luật về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT hiện nay,
phân tích những bất cập của các quy định này, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT của nước ta.


18
+ Trần Lê Hồng, "Nhận thức chung về tội phạm môi trường và một số vấn đề
liên quan". Bài viết đã nêu một số vấn đề đang tồn tại liên quan đến tội phạm môi
trường, đặc biệt là nhận thức về chủ thể tội phạm môi trường.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Có thể đề cập một số công trình nghiên cứu liên quan đến THPL về
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên thế giới như sau:
- Sách chuyên khảo: Enviromental crime in Australia (Tội phạm môi trường
ở Úc) của tác giả Samantha Bricknell. Cuốn sách viết về hệ thống phương pháp
BVMT, phát hiện, điều tra tội phạm về môi trường ở Australia [65]. Trong đó, đã
giới thiệu các chính sách ưu tiên BVMT và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham
gia BVMT, xã hội hóa công tác BVMT; đồng thời khái quát các quy định trong
pháp luật của Australia về BVMT cũng như phương pháp các cơ quan chức năng
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm về môi trường nói chung.
- Butterworths’ Sudent Companions, Litigation and Alternative Dispute
Resolution - Environmental Law and Policy in Australia (23.41), pp from 821 to
827 (Tranh tụng và giải quyết tranh chấp thay thế - Luật và chính sách môi trường ở
Úc). Tác giả nêu lên việc Australia gặp rất nhiều khó khăn khi xác định sự gia tăng
số lượng các vụ tranh chấp môi trường trong những thập kỷ gần đây. Khó khăn đầu
tiên là sự biến đổi bản chất của tranh chấp môi trường. Thêm nữa, các phương tiện
giải quyết tranh chấp môi trường đã có nhiều thay đổi nên rất khó để so sánh. Ngoài

môi trường nghiêm trọng do chất thải của hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc các
hoạt động khác của con người gây ra, hay những tác động khác do chất thải phi tự
nhiên gây ra. Xây dựng các tiêu chí phân loại sự cố môi trường tương ứng với thẩm
quyền xử lý của các cấp trong hệ thống tổ chức ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm
cứu nạn để nhanh chóng xác định được cấp có thẩm quyền xử lý, cơ quan có thẩm
quyền chỉ huy, tham mưu, thực hiện ứng phó sự cố môi trường.
- Minister of the Environment, Government of Canada, Canada
Environmental Protection Act (Đạo luật bảo vệ môi trường Canada). Tác giả cuốn
sách đã nêu lên điểm nổi bật trong pháp luật về BVMT của Canada là phân biệt rõ
giữa trách nhiệm cá nhân và pháp nhân trong cùng một hành vi vi phạm. Đồng thời,
luật hình sự của Canada cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status