Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ thực tiễn áp dụng của tỉnh hà nam - Pdf 50

ĐOÀN VĂN HẠNHLUẬT KINH TẾ2015 - 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ
NAM

ĐOÀN VĂN HẠNH

HÀ NỘI - 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ
NAM

ĐOÀN VĂN HẠNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

và đặc biệt là xin tỏ lòng biết ơn đến thầy Tiến sĩ Dương Thanh An, người
luôn quan tâm, chỉ dẫn tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng, song do đây là vấn đề khá phức tạp nên luận
văn chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết về nội dung và
cách trình bày, tác giả rất mong được sự góp ý của các nhà khoa học, các
đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn./.
Hà Nội, tháng 09 năm 2017
Tác giả

Đoàn Văn Hạnh

4


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mở đầu
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI 7
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

7

1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

10

1.3. Yêu cầu đối với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo 18


:

Bộ luật hình sự

BVMT

:

Bảo vệ môi trường

CAND

:

Công an nhân dân

CSND

:

Cảnh sát nhân dân

UBND

:

Ủy ban nhân dân

VPPL

trở thành một nội dung quan trọng trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các
quốc gia. BVMT bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động BVMT ở các
quốc gia trên toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Nhận thức tầm quan trọng
của vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng rất nhiều cho công tác xây
dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về BVMT. Hoạt động
BVMT của nước ta tuy bắt đầu khá muộn so với nhiều nước nhưng đã đạt được những kết
quả to lớn trong lĩnh vực pháp luật về BVMT. Bằng pháp luật Nhà nước ta đã từng bước
điều chỉnh các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội hướng đến mục tiêu BVMT,
ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.
Trên thực tế có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành
nhằm mục tiêu BVMT trong đó phải kể đến Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi và bổ
sung năm 2017; Luật bảo vệ môi trường 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị
định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong từng
vấn đề riêng. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam
vẫn diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của con
người, ảnh hưởng đến công cuộc phát triển đất nước, trật tự kỉ cương xã hội và gây những
thiệt hại nhất định về kinh tế.

7


Hà Nam, mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, có bề dày lịch sử trên
120 năm, có diện tích 859,5 km2, dân số 804.650 người, là cửa ngõ phía Nam của thủ đô
Hà Nội, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, nằm trên huyết mạch giao thông Bắc Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy hết sức thuận lợi, cùng với cầu Yên
Lệnh nối đôi bờ sông Hồng, tạo cho Hà Nam lợi thế mới để mở rộng giao lưu hợp tác với
các tỉnh Đông bắc và ra cảng biển Hải Phòng. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 - 2020 là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo
hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nâng cao giá
trị gia tăng, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ,

Xuất phát từ nguy cơ môi trường của toàn cầu, từ vai trò của pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực BVMT cũng như từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam tôi đã chọn
đề tài: “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ thực
tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn
đóng góp một phần khiêm tốn nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót của pháp luật về
xử phạt VPPH trong lĩnh vực BVMT nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
VPPL về BVMT.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật xử
phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn
tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này của tỉnh Hà Nam nhằm tìm ra những ưu
điểm, hạn chế, bất cập, vướng mắc của chúng. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá
thực trạng luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT của tỉnh Hà Nam, hướng tới mục tiêu hoàn thiện
pháp luật hiện hành về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT và nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh phòng, chống VPPL trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
3. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên
cứu của luận văn, tiêu biểu là:
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp xử
phạt vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Trọng Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội
(2000) phân tích các hình thức xử phạt vi phạm hành chính được đề cập trong các văn bản

9


pháp luật, những ưu điểm và hạn chế của chúng khi áp dụng trong thực tiễn và kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện chế định thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính” của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội (2001) đi sâu phân tích

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của tỉnh Hà Nam; và các quan
điểm khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu: BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa
ngành và liên vùng rất cao. Vì vậy, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT vô cùng
phong phú, đa dạng và công tác xử lý cũng cực kỳ khó khăn và phức tạp, nhất là trong điều
kiện đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay.
Do đó, trong luận văn này, tôi chỉ tập trung chủ yếu vào các quy định của Luật BVMT
năm 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; các nghị định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và một số quy định khác có liên quan cũng
như thực tiễn thi hành các quy định này. Mặt khác, luận văn cũng không đề cập tới toàn bộ
nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính mà tập trung vào một số nội dung
cơ bản bao gồm: quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp
khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt.
Thời gian tiến hành khảo sát: 5 năm từ 2013 đến 6 tháng đầu năm 2017
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và Pháp luật; các tư tưởng, quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà
nước pháp quyền và về vấn đề BVMT, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quan
điểm khoa học có liên quan để giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm hành
chính, xử phạt vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực về BVMT nói riêng.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh... để nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật
và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

11


HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Vi phạm hành chính xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, đặc biệt
trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh hội nhập quốc tế như hiện
nay. Với số lượng xảy ra đáng kể, mang tính thường xuyên, vi phạm hành chính đã
và đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi
ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng và là nguyên nhân
làm nảy sinh tình trạng phạm tội nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Xây dựng định nghĩa vi phạm hành chính có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng. Định nghĩa này giúp chúng ta nhận thức được sự khác biệt giữa vi phạm
hành chính với các loại vi phạm pháp luật khác. Trên cơ sở đó, có thể xác định
chính xác các vi phạm hành chính cụ thể, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi nhằm xử lý nghiêm minh, triệt để, đúng pháp luật loại
vi phạm pháp luật này. Khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định
nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày
30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành chính là hành vi do
cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà
nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính”. Theo Khoản 1, Điều 2 Luật xử lý VPHC 2012 thì “VPHC là
hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính”. Một quan điểm khác cho rằng “ VPHC là hành vi do
chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”1
1

Đại học Luật Hà nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, 2015, tr.212


nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu...

14


Do tính chất này, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT không chỉ được quy
định tại một văn bản quy phạm pháp luật chung về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BVMT mà còn được quy định ở một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đây
là những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính xâm phạm
đến từng yếu tố, thành phần môi trường như: Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày
03/04/2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và
khoáng sản; Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08/07/2016 Nghi định sửa đổi một số
điều của Nghị định 163/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón, vật liệu nổ công
nghiệp; Nghị định số 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 04 năm 2017 Nghị định sửa đổi bổ
sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy
sản, lĩnh vực thú ý, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, quản lý rừng, phát triển rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản;...
Thứ hai, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều liên quan
đến các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT.
Khi quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, người ta thường sử
dụng “kết cấu dẫn chiếu”. Để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
phải xác định xem hành vi đó có vi phạm các quy định về khai thác, sử dụng nguồn
tài nguyên thiên nhiên và BVMT hay không. Những quy định này thường nằm rải
rác ở những văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau. Ví dụ, muốn khẳng định
hành vi vi phạm về thải khí, bụi theo Điều 15 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP thì cần
căn cứ trên cơ sở giới hạn tối đa được phép thải các chất độc hại và không khí. Giới
hạn này được quy định cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công
nghiệp đối với một số chất hữu cơ (QCVN 20:2009/BTNMT) hay trong Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế (QCVN 02:2008/BTNMT) do

lý” được thể hiện qua cụm từ như: “xem xét và giải quyết một vụ phạm lỗi nào đó
như xử lí các vụ vi phạm pháp luật”.2, theo đó ở góc độ chung nhất XLVPHC cũng
có thể hiểu nó luôn gắn với một vụ trái pháp luật hành chính cụ thể của đối tượng cụ
thể, đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền là nhà nước phải xem xét và giải quyết vụ vi
phạm pháp luật hành chính cụ thể đó.
Về phương diện lý luận pháp lý, XLVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền nhà
2

Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2002, tr.639.

16


nước áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cụ thể đối với chủ thể thực hiện hành vi vi
phạm hành chính trên thực tiễn nhằm bảo vệ và duy trì trật tự quản lý hành chính nhà
nước trên các lĩnh vực. Thực chất, XLVPHC là hoạt động thực thi pháp luật nhằm bảo
vệ pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước. Dưới góc độ
tiếp cận như vậy, có một số quan điểm về XLVPHC như sau:
Quan điểm thứ nhất, một số nhà khoa học đã đồng nhất XLVPHC với “trách
nhiệm hành chính theo nghĩa tiêu cực”, có nội hàm “đó là sự phản ứng tiêu cực đối
với người thực hiện VPHC, kết quả là chủ thể thực hiện VPHC phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu
của họ.3
Trong quan điểm trên, khi đồng nhất XLVPHC với trách nhiệm hành chính tiêu
cực của chủ thể VPHC là chưa thoả đáng. Nói đến trách nhiệm hành chính người ta chỉ
nói đó là phản ứng của nhà nước đối với người vi phạm hành chính và trách nhiệm
hành chính là một chế định của luật hành chính. Còn XLVPHC không phải là một chế
định của luật hành chính mà nó là hoạt động áp dụng pháp luật hành chính của chủ thể
có thẩm quyền quản lý nhà nước. Hơn nữa, quan niệm XLVPHC – gánh chịu hậu quả
bất lợi đối với người vi phạm không thể hiện đặc điểm áp dụng pháp luật đối với đối

hưởng đến chất lượng của việc XLVPHC, do đó có thể dẫn đến sự phiến diện,
thiếu đầy đủ trong việc nghiên cứu những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
của hoạt động XLVPHC.
Quan điểm thứ ba, XLVPHC là xử phạt vi phạm hành chính. Trong cách tiếp
cận, quan niệm “XLVPHC – phạt hành chính” đã phản ánh được mối quan hệ giữa
một bên là sự phản ứng cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua việc áp dụng các biện
pháp chế tài phạt hành chính và bên kia là đối tượng VPHC. Tuy nhiên, biện pháp
phạt chủ yếu hướng đến trừng phạt chưa đạt được mục đích khôi phục lại trật tự
quản lý hành chính nhà nước đã bị phá vỡ do VPHC. Nếu quan niệm XLVPHC là
xử phạt hành chính thì dẫn đến việc coi nhẹ các biện pháp khôi phục hành chính,
điều đó làm cho mục đích XLVPHC không được bảo đảm. Do đó, XLVPHC là khái
niệm rộng, bao trùm, trong đó biện pháp xử phạt hành chính và áp dụng các biện
pháp khôi phục hành chính là hai “nhánh” chế tài xử lý vi phạm hành chính có sự
khác biệt nhất định.
Quan điểm thứ tư, Luật xử lý VPHC của Việt Nam hiện hành không định
nghĩa trực tiếp XLVPHC nhưng trong phạm vi điều chỉnh của Luật đã gián tiếp đề
4

Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, Tập
1, Nxb Chính trị quốc gila, Hà nội, tr.145

18


cập đến XLVPHC, theo đó: “XLVPHC là việc áp dụng xử phạt hành chính và biện
pháp xử lý hành chính” 5. Trong đó, xử phạt vi phạm hành chính là việc người có
thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối
với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được
áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà

VPHC trên thực tế nhưng đã được qui phạm pháp luật hành chính dự liệu từ trước.
XLVPHC lấy việc đối tượng cần tác động có phải là VPHC hay không để làm
chuẩn xử lý. Do đó, để XLVPHC trước hết đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử lý
phải xem xét đã có VPHC xảy ra hay chưa.
Thứ hai, XLVPHC là quá trình bao gồm hệ thống các hành vi (hoạt động) của
các chủ thể mang quyền lực nhà nước để lựa chọn biện pháp xử lý hành chính với
tính cách là kết cục cuối cùngmà chủ thể VPHC phải nhận lấy theo quan hệ nhân –
quả tương ứng với tính chất VPHC mà họ đã thực hiện. Bao gồm từ phát hiện ra
VPHC về BVMT đến tổ chức thực hiện quyết định xử lý VPHC về BVMT.
Xử lý VPHC có quan hệ trực tiếp đến quyền con người, quyền sở hữu tài sản
của cá nhân, tổ chức nên nó phải được tiến hành theo những giai đoạn cụ thể với trình
tự, thủ tục, cách thức thực hiện do pháp luật hành chính quy định. Quá trình phát sinh
nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền hành chính trong XLVPHC
phải bắt đầu từ khi có VPHC và kết thúc khi VPHC đó được giải quyết triệt để, gồm
các giai đoạn: phát hiện VPHC; xác minh vi phạm hành chính; ra văn bản xử lý VPHC;
thực hiện văn bản xử lý VPHC; cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành
chính. Mỗi giai đoạn đều có những giới hạn hành vi nhất định mà chủ thể có thẩm
quyền xử lý phải tôn trọng để tránh sự lạm quyền. Đồng thời, khi XLVPHC đòi hỏi chủ
thể có thẩm quyền phải lựa chọn đúng đắn các thủ tục xử lý hành chính tương ứng với
từng loại VPHC nhằm bảo đảm tính đúng đắn trong việc xử lý VPHC. Nếu lựa chọn
không đúng thủ tục hoặc thiếu các bước trong trình tự thủ tục thì việc xử lý bị coi là vi
phạm và kết quả xử lý VPHC không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận
và cấp có thẩm quyền sẽ huỷ bỏ kết quả giải quyết.
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền XLVPHC thường thuộc về hệ thống cơ quan
thực hiện quyền hành pháp nhà nước (cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân có
thẩm quyền hành chính) và được thực hiện theo thủ tục hành chính đơn giản hơn so
với thủ tục tố tụng được áp dụng trong lĩnh vực tư pháp. Giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xử lý và cá nhân, tổ chức bị xử lý không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức.

20


21


Một là, do vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều gắn với
các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT nên để có
thể xử phạt đúng đắn loại vi phạm này cần phải vận dụng chính xác các quy phạm
pháp luật môi trường, trong đó đặc biệt là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường. Xuất phát từ điều này, khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
hầu như đều phải thực hiện thủ tục giám định chất lượng môi trường. Đây là một hoạt
động mang tính nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng lại là cơ sở để xác định vi
phạm hành chính về BVMT và đánh giá tính chất, mức độ vi phạm gây ra. Ý kiến
chuyên môn này của bộ phận giám định, vì thế, có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Cũng chính từ đặc thù nói trên mà hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BVMT hầu hết được thực hiện trên cơ sở tiến hành các đợt kiểm tra,
thanh tra về môi trường bao gồm, thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ theo quý,
hoặc năm. Đây là một điểm đặc trưng của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực BVMT so với xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước khác.
Hai là, do vi phạm hành chính về BVMT phong phú và đa dạng, cho nên xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau. Có những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt hành
chính mang tính hệ thống (Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm
2016 Nghị định về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường),
cũng có những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt hành chính mang tính
riêng lẻ theo từng thành phần của môi trường (Ví dụ: Nghị định 33/2017/NĐ-CP
ngày 03 tháng 04 năm 2017 Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 04
năm 2017 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; lĩnh vực thú ý, giống vật nuôi, thức ăn

hành vi vi phạm cùng loại.
Về dấu hiệu “mức độ thiệt hại trực tiếp của hành vi”: Đây là tiêu chí mang
tính chất tương đối, rất khó xác định chính xác vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
như: tính chất của hành vi, quy mô của hành vi, thiệt hại vật chất, khả năng khắc
phục những thiệt hại cho môi trường... Đặc biệt, như đã nêu ở phần trên, trong lĩnh
vực môi trường, việc đánh giá mức độ của thiệt hại có những đặc thù riêng. Do đó

23


sẽ không hợp lý nếu chỉ đơn giản áp dụng những quy định của pháp luật xác định
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm để khẳng định hành vi vi phạm
đó là vi phạm hành chính hay tội phạm về môi trường mà cần xem xét, đánh giá
tổng hợp nhiều yếu tố có liên quan.
1.3 Yêu cầu đối với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò rất quan trọng, nó là phương tiện
không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành của xã hội. Pháp luật là cơ sở để
thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, là phương tiện để Nhà nước
quản lý kinh tế - xã hội.
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là tổng thể các
quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy định về vi phạm
hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. Là một bộ phận của
pháp luật nói chung, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối
với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT ở nước ta, giữ vững ổn định, trật
tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế như
hiện nay. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BVMT là một yêu cầu khách quan luôn được nhằm bảo đảm chất lượng,
hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật đối với các vấn đề phát sinh của hoạt động

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính
nhà nước trong lĩnh vực BVMT.
Đảm bảo yêu cầu về tính hợp lý
Thứ nhất, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải bảo
đảm đồng bộ được lợi ích của Nhà nước, cộng đồng cũng như quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức. Nếu chỉ tính đến lợi ích của Nhà nước mà đề ra những
hình thức xử phạt cao, thủ tục phức tạp, rườm rà, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người dân thì pháp luật sẽ không đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, nếu
quy định mức xử phạt không phù hợp sẽ không bảo đảm ý nghĩa giáo dục, khi đó
pháp luật sẽ phản tác dụng, những hành vi vi phạm chưa chắc đã giảm mà lại nảy
sinh nhiều tiêu cực từ những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status