Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính tuy gây ra nhiều tác động tiêu cực cho nền kinh tế toàn cầu
nhưng cũng đem đến nhiều cơ hội mới cho thị trường hợp nhất – sáp nhập (M&A) thế giới. Đối
với nhiều nhà điều hành, tiến hành bất cứ một thương vụ nào trong thời kỳ khủng hoảng này
đều trở nên quá mạo hiểm và phi thực tế. Khi mà thị trường tín dụng vận hành không bình
thường, thị trường chứng khoán đình trệ - cả người mua và người bán đều tỏ ra e ngại giao dịch
bằng chứng khoán, thì một thương vụ quan trọng có thể làm ảnh hưởng rất lớn đến cấp quản lý
trong việc củng cố công việc kinh doanh cốt lõi và mang lại những rủi ro không lường trước
được.
Tuy nhiên, với những doanh nghiệp tương đối mạnh cả về tài chính và chiến lược, thì
suy thoái, khủng hoảng tương đương với sự xuất hiện của những cơ hội hiếm có để nâng cao vị
thế cạnh tranh, giảm chi phí hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu,
….thông qua việc hợp nhất – sáp nhập (M&A). Vì vậy có thể nói đây là cơ hội vàng cho hoạt
động M&A.
Đi vào phân tích thực trạng và xu hướng của hoạt động M&A ở thị trường Việt Nam
trong mối tương quan so sánh với xu hướng chung của thế giới, nhóm đã rút ra được những
điểm hạn chế trong khung pháp lý, năng lực chuyên môn của bên mua, bên bán, bên trung gian
- là nguyên nhân dẫn đến tình trạng “sơ khai” của thị trường M&A Việt Nam, đồng thời đưa ra
một số kiến nghị chung nhằm khắc phục những điểm hạn chế trên.
Với mong muốn góp thêm ý tưởng để phát triển thị trường M&A, đem đến những tác
động tích cực thúc đẩy nền kinh tế Việt, tuy vẫn còn rất nhiều hạn chế trong việc tìm kiếm
nguồn tài liệu và tầm nhìn để cụ thể hóa vấn đề, nhưng nhóm chân thành mong nhận được sự
đóng góp, bổ sung để có được một kết quả có ích.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
- 1 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
1.1 KHÁI NIỆM HỢP NHẤT – SÁP NHẬP (M&A)
M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là Mua
bán và Sáp nhập) là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận
doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Như vậy,
toàn bộ hoặc một tỷ lệ cổ phần hoặc tài
sản của doanh nghiệp mục tiêu đủ để
khống chế toàn bộ các quyết định của
doanh nghiệp.
- Sau khi kết thúc việc chuyển nhượng,
doanh nghiệp mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt
động hoặc trở thành doanh nghiệp con
của doanh nghiệp thâu tóm. Trên góc độ
pháp lý, doanh nghiệp mục tiêu sẽ
ngừng hoạt động, doanh nghiệp thâu
tóm nắm toàn bộ hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp mục tiêu, tuy nhiên cổ
phiếu của doanhnghiệp thâu tóm vẫn
được tiếp tục giao dịch bình thường
Sơ đồ minh
hoạ
DN A + DN B →→DN C (DN mới)
Trong đó:
- DN A, DN B: Hai doanh nghiệp
có ý định hợp nhất.
- DN C: DN mới được hình thành
dự trên sự kết hợp giữa hai DN A và
DN B.
DN A + DN B→ NDN B (với quy mô
lớn hơn)
Trong đó:
- Doanh nghiệp mục tiêu: DN A
- Doanh nghiệp thâu tóm: DN B
- 2 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
thù địch” (hostile takeovers), cổ đông
của doanh nghiệp mục tiêu được trả tiền
để bán lại cổ phiếu của mình và hoàn
toàn mất quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Tính phổ
biến
- Việc chia sẻ quyền sở hữu, quyền
lực và lợi ích một cách đồng đều và
lâu dài luôn khó khăn và khó thực
hiện giữa các cổ đông với nhau. Vì
lâu dần, do tính chất độc chiếm sẽ
hình thành xu hướng liên kết giữa
các cổ đông có cùng mục tiêu với
nhau, điều này sẽ dẫn đến việc thay
đổi về tỷ lệ sở hữu cổ phần trong
doanh nghiệp.
Do đó, hình thức hợp nhất đòi
hỏi mức độ hợp tác rất cao giữa các
doanh nghiệp khi tham gia.
Hình thức này chưa được phổ
biến
- Hình thức này được phổ biến nhiều
hơn, do tính chất đơn giản hơn khi chia
sẻ quyền lợi sau quá trình thâu tóm.
Doanh nghiệp nào chiếm ưu thế hơn về
quy mô hoạt động, tỷ lệ sở hữu cổ phần
sẽ có quyền quyết định cao nhất trong
việc quyết định bầu chọn hội đồng quản
trị, ban điều hành và chiến lược hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp sau
• Cơ hội tăng trưởng lợi nhuận
• Đa dạng hóa thị trường, sản phẩm
• Mua lại đối thủ cạnh tranh
• Sử dụng nguồn vốn dư thừa
• Chiếm lĩnh được kênh phân phối
• Sự cần thiết về nhân sự chủ chốt
• Tiếp cận kỹ thuật công nghệ mới
• Điều chỉnh chiến lược kinh doanh
Cạnh tranh cũng là một động lực thúc đẩy M&A và ngược lại. M&A đang khiến
những cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và mỗi doanh nghiệp, để không bị đối thủ
cạnh tranh thâu tóm, ban quản trị và điều hành các công ty luôn phải chủ động tìm cơ
hội thực hiện M&A để giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Nói chung, có rất nhiều
lý do để các doanh nghiệp cân nhắc chiến lược M&A nhưng tựu chung lại, những lý do
dưới đây được tổng kết lại từ nhiều năm trong lĩnh vực này.
- 4 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Các động cơ chính:
Thâm nhập vào thị trường mới: đây là một yếu tố quan trọng khi muốn mở rộng
địa bàn kinh doanh, thêm một dòng sản phẩm hoặc mở rộng mạng lưới phân phối. Ví dụ
minh họa cho động cơ này là các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, thay vì
việc gây dựng doanh nghiệp từ đầu với chi phí thành lập, chi phí cơ hội cao do mất thời
gian xây dựng hệ thống, triển khai mạng lưới phân phối v.v., có thể thực hiện chiến lược
mua lại một doanh nghiệp trong nước với hệ thống, con người sẵn có để đạt được mục
tiêu.
Doanh nghiệp trong nước muốn xâm nhập thị trường toàn cầu cũng có thể nghĩ đến
M&A. Trường hợp Lenovo mua lại bộ phận PC của IBM là một ví dụ. Thị trường thế
giới đã biết đến IBM nên nếu mua lại, Lenovo sẽ rút ngắn được rất nhiều thời gian để
thị trường quốc tế biết tới mình;
Giảm chi phí gia nhập thị trường: ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của
chính phủ, việc gia nhập thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện
đã mở rộng sang các lĩnh vực khác như truyền thông, giáo dục đào tạo, phân phối,
chứng khoán, bất động sản, ngân hàng… Hãng Berkshire Hathaway của nhà tỷ phú
Werren Buffet cũng xuất phát từ một doanh nghiệp dệt may nay đã trở thành một tập
đoàn đa chức năng với hàng chục doanh nghiệp con trực thuộc ở nhiều lĩnh vực khác
nhau;
Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu:
Unilever là một ví dụ điển hình về sử dụng chiến lược M&A để đa dạng hóa và phát
triển thương hiệu. Uniliver sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng trong một số lĩnh vực
như Flora, Doriana, Rama, Wall, Amora, Knorr, Lipton và Slim Fast (thực phẩm và đồ
uống); Axe, Dove, Lifebuoy, Lux, Pond’s, Rexona, Close-up, Sunsilk và Vaseline (sản
phẩm vệ sinh và chăm sóc cơ thể); Comfort, Omo, Radiant, Sunlight, Surf (quần áo và
đồ vật dụng)… Tập đoàn này đã phải trải qua nhiều năm để sở hữu nhiều thương hiệu
như thế.
Năm 2000, Unilever thâu tóm Công ty Best Foods của Mỹ để bắt đầu nhảy vào lĩnh
vực thực phẩm và đồng thời đẩy mạnh hoạt động trong khu vực Bắc Mỹ v.v.
- 6 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Ngoài ra có thể còn rất nhiều lý do khác cho một quyết định M&A như môi trường kinh
doanh thay đổi, khủng hoảng kinh tế dẫn đến nhiều doanh nghiệp mất thanh khoản và buộc bị
đẩy vào tình trạng bị thâu tóm.
1.4 LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG M&A:
Cải thiện tình
hình tài chính
Củng cố vị thế thị
trường
Giảm thiểu chi
phí ngắn hạn
Tận dụng quy mô
dài hạn
- Cải thiện tình
lý
- Tối ưư hoá kết
quả đầu tư công
nghệ
- Tận dụng kinh
nghiệm thành công
của các bên
- Giảm thiểu chi
phí chung cho từng
đơn vị sản phẩm
- Giảm chi phí khi
mua số lượng lớn
1.5 PHÂN LOẠI HOẠT ĐỘNG M&A
Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có khá nhiều hình thức sáp nhập khác
nhau. Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty
tiến hành sáp nhập:
1.5.1 Sáp nhập cùng ngành (sáp nhập chiều ngang):
Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản
phẩm và thị trường. Kết quả từ những vụ sáp nhập theo dạng này sẽ đem lại cho bên sáp
nhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm thiểu chi phí cố định, tăng
cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần. Rõ ràng, khi hai đối thủ cạnh tranh
trên thương trường kết hợp lại với nhau họ không những giảm bớt cho mình một đối thủ
mà còn tạo nên một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại;
1.5.2 Sáp nhập dọc:
- 7 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ giữa một công ty với
khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Chẳng hạn một công ty xi măng mua lại
nhà máy sản xuất vỏ bao. Sáp nhập dọc được chia thành hai phân nhóm: (a) sáp nhập
tiến (forward) khi một công ty mua lại công ty khách hàng của mình, công ty may mặc
Trong trường hợp Công ty B sáp nhập vào Công ty A nhưng không tạo ra một pháp
nhân mới, B chuyển toàn quyền và nghĩa vụ sang A và chấm dứt sự tồn tại sau khi sáp
nhập, thì được Luật Doanh nghiệp Việt Nam định nghĩa là “sáp nhập”.
•Rõ ràng, sự phân biệt hai khái niệm trên mang tính tương đối vì trên thực tế, các
hiện tượng trên vẫn có thể được hiểu như sau: Công ty A “mua lại” hay “thâu tóm”
Công ty B. Sau khi mua được, Công ty A quyết định sự tồn tại của Công ty B và
của chính mình: Công ty B “bị thâu tóm” đương nhiên chấm dứt sự tồn tại còn A có
hai sự lựa chọn, hoặc giải thể chính mình và thành lập pháp nhân mới (Công ty C)
hoặc giữ nguyên pháp nhân A. Thực chất, đây chỉ là sự lựa chọn về hình thức và thủ
tục pháp lý.
Hai hiện tượng trên diễn ra khi các chủ thể tiến hành M&A đối với toàn bộ doanh
nghiệp. Trên thực tế, các hoạt động M&A có thể diễn ra đối với một phần hoặc một bộ
phận doanh nghiệp, theo các hình thức dưới đây:
Tham gia mua cổ phần khi doanh nghiệp tăng vốn điều lệ hoặc đấu giá phát hành cổ
phiếu ra công chúng. Đây là hình thức thâu tóm một phần nhưng đủ để tham gia định
đoạt quyền sở hữu và quản trị theo mục tiêu chiến lược của bên mua.
Mua gom cổ phiếu để giành quyền sở hữu và chi phối cũng là một chiến lược được
nhiều doanh nghiệp thực hiện. Tại Việt Nam, nửa cuối năm 2008, khi thị trường chứng
khoán sụt giảm và nhiều doanh nghiệp niêm yết có giá trị vốn hóa thấp đã trở thành mục
tiêu bị thu gom.
Hoán đổi/chuyển đổi cổ phiếu (stock swap) thường diễn ra đối với những công ty có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau như trong cùng một tập đoàn như trong các trường hợp
CTCP Đầu tư Dầu khí Việt Nam (PVD Invest) PVDI vào Tổng CTCP Khoan và Dịch vụ
Khoan Dầu khí (PVD), Công ty Kinh Đô (KDC) và Công ty Kinh Đô Miền Bắc (NKD)
- 9 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
hoặc hai công ty con của Sông Đà 6 (SD6) là Công ty Sông Đà 6.04 (S64) và Sông Đà
6.06 (SSS) sáp nhập vào công ty mẹ theo hình thức hoán đổi cổ phiếu.Mua lại một phần
doanh nghiệp hoặc tài sản cũng là một cách để thực hiện chiến lược M&A. Ví dụ cho
hình thức này là thương vụ Công ty xi măng Holcim đã mua lại nhà máy xi măng Cotec
hướng tới việc chuyển đổi khoản nợ thành cổ phần để can thiệp cứu doanh nghiệp hơn
là kỳ vọng nhận trả nợ.
1.7 QUẢN TRỊ CH IẾN LƯỢC M&A
1.8 NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA H ỢP ĐỒNG M&A
Chọn sai đối tác mua bán
Đối tác không thống nhất chiến lược phát triển
Văn hóa không phù hợp
Không tích cực hợp tác
Định giá không thực tế
- 11 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Thẩm định không tìm thấy các rủi ro tiềm ẩn
Quá trình mua bán không được tổ chức tốt
Không phân công người phụ trách có thẩm quyền phụ trách
Các tác vụ không được sắp xếp hợp lý và điều phối nhịp nhàng
Rủi ro không được đánh giá và quản lý đầy đủ
Tổ chức phân công chồng chéo
Người giỏi ra đi trước khi thương vụ kết thúc
Không tập trung vào việc khai thác khách hàng
Các lợi ích chiến lược dài hạn không được làmrõ
Thế mạnh về sản phẩm, dịch vụ của các bên không được coi
trọng
Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới không được khai thác tối đa
Kỹ năng thế mạnh của các bên không được chuyển giao đầy đủ
Quy trình hỗ trợ không đúng chuẩn và không được cải tiến
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG HOẠT
ĐỘNG M&A THẾ GIỚI
- 12 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG M&A TRÊN THẾ GIỚI NHỮNG NĂM QUA:
xuất với sự giảm sút của khối ngành cơ bản từ 17% vào năm 2005 còn 7% vào năm
2007 (Bảng 2) .
Bảng 2 – M&A xuyên biên giới theo lĩnh vực và theo khối kinh tế (tỉ USD)
Những nền
kinh tế
2005 2006 2007
tổng Cơ
bản
Sản
xuất
Dịch
vụ
tổng Cơ
bản
Sản
xuất
Dịch
vụ
tổng Cơ
bản
Sản
xuất
Dịch
vụ
- 14 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Thị giá 929 156 255 518 1.218 209 305 704 1.637 110 567 960
Tỉ trọng (%) 100 17 27 66 100 10 27 63 100 7 35 58
Các nền
KTPT
nhanh, cạnh tranh lớn. Nếu trước đây đó là các ngành công nghiệp ôtô, thép, năng lượng
thì ngày nay đã có những ngành mới nổi lên như truyền thông, công nghệ thông tin, tài
chính, chứng khoán, dược phẩm, thông tấn..., nổi bật là các vụ Mittal – Arcelor (39,5 tỷ
USD), Endesa - E.ON (66 tỷ USD), AT&T - BellSouth (83,4 tỷ USD), Adidas - Reebok
(3,8 tỷ USD), Thomson - Reuters (17,2 tỷ USD), RBS, Santander, Fortis - ABN Amro
(96.6 tỷ USD), Mitsubishi Tokyo Financial - UFJ Holdings (59,1 tỉ USD), JP Morgan
Chase – Bank One (56.9 tỷ USD), Lenovo Group - IBM PC (1,25 tỷ USD)…
2.1.2. Giá trị các vụ giao dịch:
Trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2006, số vụ giao dịch hàng năm đã nhiều hơn bất
kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử, với mức trung bình khoảng 21.000 giao dịch/năm.
Điều này phản ánh mối quan hệ thuận chiều mạnh hơn giữa GDP và hoạt động M&A
trên toàn cầu.
Hình 3 : Tương quan giữa M&A và tăng trưởng GDP
- 16 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Nguồn: The Brave New World of M&A (BCG – 7/2007)
Trên thực tế, mức độ các hoạt động đã tăng tương đối đều đặn và nhanh chóng
trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua.Mặc dù số lượng và giá trị các giao dịch có giảm
sút trong 3 năm sau khi kết thúc làn sóng M&A thứ 5 vào năm 2000 – khi số các giao
dịch đạt mức cao kỷ lục (khoảng 29.500 giao dịch/năm) – nhưng đã tăng trở lại, cho dù
với tốc độ thấp hơn trước đó.Trong giai đoạn 2002 – 2006, số lượng các giao dịch tăng
6%/năm, so với mức tăng trung binh 14%/năm giai đoạn 1981 – 2006. Đặc điểm đáng
chú ý nhất của làn sóng M&A ngày nay là quy mô của các giao dịch và tốc độ tăng của
quy mô đó. Từ năm 2002, giá trị trung bình của một giao dịch đã tăng gần gấp đôi, vượt
mức 110 triệu USD, mức cao thứ hai trong lịch sử, chỉ sau đỉnh cao năm 2000 (khi giá
trị trung bình của một giao dịch đạt mức 140 triệu USD). Con số này tương đương với
mức tăng cộng dồn hàng năm là 20% trong giai đoạn 2002 – 2006, so với mức tăng 15%
trung bình của giai đoạn 1981 – 2006. Đáng chú ý nhất là số vụ quy mô khổng lồ (trên 1
tỷ USD) đã tăng mạnh hơn bao giờ hết, với mức hơn 18%/năm. Chỉ trong năm 2006, đã
có khoảng 450 vụ sáp nhập khổng lồ, chỉ ít hơn mức kỷ lục 470 vụ trong năm
từ 8% đến 24% - tương đương với mức tăng 24%/năm. Tính theo giá trị tuyệt đối, quy
mô của giao dịch của các PEs còn mạnh hơn nữa. Tổng giá trị giao dịch của các PEs đã
tăng từ 160 tỷ USD năm 2000, khi giá trị và số lượng M&A đạt mức kỷ lục, lên đến
mức 650 tỷ USD vào năm 2006.
Bảng 3: Các quỹ đầu tư lớn nhất thế giới (tính đến 2007)
- 18 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
quỹ
rụ D)
Nguồn: Private Equity International 5/2007
Các quỹ này đóng vai trò to lớn trong việc thâu tóm tại các vụ IPO trên toàn thế
giới. Tổng số vốn của 50 quỹ đầu tư lớn nhất thế giới là 551 tỷ USD, tương đương với
23% tổng giá trị các vụ IPO từ năm 2002 tới 2007 (2.322 tỷ USD).
- 19 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
2.1.4 Sự nổi lên của các Quỹ đầu tư nhà nước (SWF)
Do hiện tượng bùng nổ của cải trong vài thập niên qua, tài sản của nhiều quốc gia
(đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi) tăng vọt. Khác với thông lệ cũ, tiền bạc dư thừa
thường được đổi thành quý kim như vàng hay ngoại tệ mạnh rồi cất trong ngân khố
phòng khi "hoạn nạn", thường gọi là dự trữ quốc gia, các quốc gia đã thành lập các quỹ
nhằm kinh doanh khai thác nguồn dự trữ đó, hoặc gây ảnh hưởng kinh tế, chính trị phục
vụ các mục tiêu quốc gia...
Các quỹ này hoạt động như các quỹ đầu tư tài chính, có tên gọi là "Sovereign
Wealth Fund".
Những quốc gia hiện nay (tính đến cuối 2007) có trị giá quỹ này lớn từ 20 tỷ đô-la
Bảng 4: Các quỹ đầu tư quốc gia lớn trên thế giới
)Nguồn: Morgan Stanley (2008)
Do quy mô và tầm quan trọng ngày càng tăng lên, các SWF ngày càng có ảnh
hưởng lớn trên thị trường mua bán, thâu tóm doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành công
Tác động của những đám mây đen này đối với M&A trong năm 2008 tùy thuộc vào việc
nền kinh tế Mỹ sẽ suy thoái đến mức độ nào.
- 21 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Chắc chắn không thiếu các quỹ và các công ty dồi dào tiền mặt sẵn sàng thâu tóm
bất kỳ một cơ hội đầu tư nào trong giai đoạn suy thoái. Một cuộc suy thoái nhẹ, đi cùng
với chính sách tiền tệ nới lỏng và điều chỉnh của thị trường chứng khoán, có thể thúc
đẩy hoạt động M&A vì thực tế là làm giảm kỳ vọng giá trị trong khi không làm giảm
nhu cầu đối về vốn trong mọi cách hữu hình nào. Mặt khác, trong một cuộc suy thoái
sâu và đau đớn, các cơ hội M&A đau buồn được bồi hoàn khó bù đắp được tổn thất của
cầu về vốn tăng trưởng, là động lực của hầu hết các vụ M&A trong những năm vừa qua.
2.1.6 Hoạt động M&A trong lĩnh vực Ngân Hàng
Hiện nay, việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại các ngân hàng là hiện tượng phổ biến ở các
nước mà điển hình nhất là hệ thống ngân hàng Mỹ. Năm 1985, nước Mỹ có 14.000 ngân hàng
thì 10 năm sau chỉ còn 11.500 ngân hàng và trung bình trong thập niên 80 mỗi năm có 355 vụ
M&A và thập niên 90 là gần 400 nhưng lý do dẫn đến việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại có sự
khác nhau nhất định của từng quốc gia.
Sau cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Hoa Kỳ nổ ra vào giữa năm 2007, hoạt động
M&A trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới xảy ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Tại Hoa
Kỳ, từ đầu năm 2009 đến đến 6/6/2009, đã có 37 ngân hàng buộc phải đóng cửa và phải bán tài
sản của mình so với 25 ngân hàng bị đóng cửa trong năm 2008. Tính đến hết quý 1/2009, FDIC
đã đưa trên 300 ngân hàng Hoa Kỳ vào diện “có vấn đề” so với 252 ngân hàng vào quý 4/2008
– cao hơn 21% so với cùng kỳ năm 2008 và cao nhất trong 15 năm. Trong năm 2009, vụ sụp đổ
lớn nhất là ngân hàng Bank United vào ngày 21/5 được giải quyết theo hình thức bán cho các
nhà đầu tư tư nhân và vẫn hoạt động với tên gọi cũ.
2.1.6.1 Hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng ở các nước phát triển
Các ngân hàng ở những quốc gia này đã phát triển đến mức bão hòa với qui luật lợi nhuận
giảm dần nên doanh thu, lợi nhuận cũng giảm do đó chúng đã sáp nhập, hợp nhất và mua lại lẫn
nhau nhằm cắt giảm chi phí, mở rộng mạng lưới hoạt động, bổ sung, đa dạng hoá sản phẩm,
tăng cường qui mô kinh doanh cũng như lợi thế cạnh tranh đáp ứng với xu thế phát triển của
lại của cuộc đổ bể tín dụng vào những năm 1989-1990.
2.1.6.3 Những thương vụ M&A hình thành một số tập đoàn tài chính ngân hàng lớn
trên thế giới:
Số liệu thống kê sơ bộ của hãng thông tin tài chính Thomson Financial có trụ sở tại Mỹ cho
thấy năm 2007 tổng giá trị của các vụ sáp nhập và mua lại trên toàn thế giới đạt 4.400 tỷ USD,
tăng 21% so với mức 3.600 tỷ USD vào năm 2006. Trong số các vụ M&A diễn ra trên thế giới
có rất nhiều thương vụ dẫn đến hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng.
- 23 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
Tại Mỹ
Làn sóng sáp nhập, mua lại ngân hàng đã tạo nên ảnh hưởng sâu sắc trong ngành
TCNH ở Mỹ. Sau gần 30 năm từ năm 1980 đến năm 2004, số ngân hàng dạng công ty
mẹ và công ty cầm cố đã giảm một nữa từ 16.000 còn khoảng 8.000 ngân hàng; tuy số
lượng ngân hàng ít đi nhưng tổng tài sản của các ngân hàng tăng nhanh và là các ngân
hàng “khoẻ mạnh” trong các vụ sáp nhập. Trong ba thập kỷ gần đây các thương vụ
M&A đã tạo nên những tập đoàn TCNH khổng lồ trong bối nền tài chính Mỹ có những
thăng trầm với nhiều cuộc khủng hoảng tài chính. Cho đến nay, 10 tập đoàn ngân hàng
- 24 -
Xu hướng hoạt động M&A hậu khủng hoảng thế giới và Việt Nam
hàng đầu của Mỹ chiếm 70% thị trường vốn ở nước này. Năm 2007, khu vực châu Mỹ
đã thực hiện thành công 11.601 vụ M&A với tổng giá trị lên đến 1.980 tỷ USD, tăng
27,2% so với năm 2006. Sau đây là những trường hợp điển hình:
Tập đoàn tài chính ngân hàng Citigroup
Tập đoàn Citigroup, có trụ sở đặt tại Newyork, được hình thành từ quá trình sáp
nhập Citicorp và hãng Travelers Group.
Citicorp là một trong những tập đoàn hàng đầu của Mỹ, là tập đoàn ngân hàng đa
quốc gia, hoạt động trên 100 quốc gia với công ty mẹ là Citibank. Năm 1995, Citicorp
sáp nhập với First National (Newyork) để trở thành một tổ hợp ngân hàng lớn với tên
gọi là First National City Bank. Trong những năm trước đó, Citibank đã mua lại một số
tổ chức tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami, Washington DC và đến năm 1998