Quỹ đầu tư là loại hình đầu tư hấp dẫn và có tiềm năng và điều này đã được minh chứng trên thế giới ở Việt Nam - Pdf 22

Mục Lục
Tóm tắt đề tài 1
Lời mở đầu 2
1. Khái quát chung về quỹ đầu tư
1.1 Lược sử quỹ đầu tư trên thế giới 3
1.2 Khái niệm và chức năng của quỹ đầu tư 5
1.3 Phân loại quỹ đầu tư 5
1.3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động 5
1.3.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn 6
1.3.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ: 6
1.4 Mô hình tổ chức 7
1.5 Tiêu chuẩn đán giá kết quả hoạt động của quỹ đầu tư 8
2. Thực trạng quỹ đầu tư từ năm 2000 đến nay ở Việt Nam 10
2.1 Quỹ đầu tư ở Việt Nam: hình thành và nở rộ 10
2.2 Một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động quỹ đầu tư ở Việt Nam:18
2.3 Thực trạng quỹ đầu tư ở Việt Nam
2.3.1 Một số quỹ đầu tư niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
nay: 23
2.3.2 Những mặt hạn chế trong họat động đầu tư của quỹ đầu tư 33
2.3.3 Nguyên nhân một số hạn chế trong họat động đầu tư của quỹ 33
3. Giải pháp cho quỹ đầu tư
3.1 Kinh nghiệm quản lý quỹ đầu tư ở Mỹ 34
3.2 Kinh nghiệm quản lý đầu tư ở các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan
3.2.1 Hàn Quốc 35
3.2.2 Thái Lan 35
3.3 Một số bài học rút ra cho việc phát triển quỹ đầu tư ở Việt
Nam 36
KẾT LUẬN 37
Phụ lục 1 38
Tài liệu tham khảo 40
TÓM TẮT ĐỀ TÀI

quỹ đầu tư chứng khoán.
Quá trình hội nhập và phát triển ở Việt Nam cần tăng cường sự chủ động về vốn
và phát triển lĩnh vực đầu tư tài chính, ngoài những “công ty con” là ngân hàng, công ty
tài chính, các tập đoàn kinh tế phi ngân hàng còn có công ty quản lý quỹ đầu tư và hàng
loạt các quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các nhà
đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường chứng khoán mới nổi
đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, việc thành lập các quỹ đầu tư sẽ trở thành
vấn đề tất yếu để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
3
1. Khái quát chung về quỹ đầu tư
1.1 Lược sử quỹ đầu tư trên thế giới
Ý tưởng tập trung các khoản tiền nhỏ thành một nguồn lớn hơn để đầu tư xuất
hiện tại châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ 19, khởi thủy ở Hà Lan, đến nửa cuối
thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh. Mặc dù có gốc gác từ châu Âu, nhưng Hoa
Kỳ mới là nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất.
Năm 1893, các khoản quyên góp và ủng hộ tài chính xây dựng và phát triển Đại
học Harvard tại Hoa Kỳ được ghi nhận như sự xuất hiện một quỹ đầu tư. Vào
ngày 21/3/1894, quỹ tương hỗ đầu tiên chính thức được thành lập bởi ba nhà
kinh doanh chứng khoán tại Boston (Hoa Kỳ) có tên gọi Quỹ Tín thác các nhà
đầu tư Massachusetts (Massachusetts Investors Trust-MIT). Có lẽ, chính những
người sáng lập cũng không thể dự báo trước tương lai phát triển phổ biến của
loại hình này.
Sau một năm thành lập, Massachusetts Investors Trust với 50.000 đô-la Mỹ ban
đầu đã sở hữu khối tài sản trị giá 392.000 USD và thu hút gần 200 nhà đầu tư.
MIT tập trung và các cổ phiếu lớn, tăng trưởng nhanh và có trả cổ tức. Danh mục
đầu tư của Quỹ gồm các loại cổ phiếu của General Electric Co., Standard Oil Of
Indiana (ngày nay là một phần của BP PLC) và American Telephone &
Telegraph Co. (AT&T Inc.). Không giống nhiều quỹ đầu tư hoạt động trong thời
kỳ này, MIT tránh sử dụng các đòn bẩy tài chính để huy động nguồn đầu tư. Khi
thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chạm đáy vào năm 1932, nhiều quỹ đầu tư đã

10 Matthews India 64,1%
1.2 Khái niệm và chức năng của quỹ đầu tư
1.2.1 Khái niệm
5
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền
nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ,
hay các loại tài sản khác.
Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng
danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu
các chứng chỉ quỹ đầu tư.
1.2.2 Chức năng
o Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư
o Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận
o Được quản lý chuyên nghiệp
o Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
o Tính năng động của quỹ đầu tư.
1.3 Phân loại quỹ đầu tư
1.3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
+ Quỹ đầu tư tập thể (Quỹ công chúng)
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có
thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công
chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa
đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên
nghiệp của đầu tư mang lại.
+ Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)
Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ
các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài
chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp
hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ cá nhân thường với lượng vốn
lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.

hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt
Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân.
+ Quỹ đầu tư dạng hợp đồng
Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty,
mô hình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra
thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những
mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò
bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân
hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi
7
và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ
quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ
(nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác
việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ
khoản vốn đóng góp của họ.
1.4 Mô hình tổ chức
a. Hội đồng quản trị: là cơ quan đại diện cho các chủ sở hữu của quỹ đầu tư do cổ
đông bầu ra, là cơ quan duy nhất có quyền quyết định mọi vấn đề của quỹ. Hội đồng
quản trị chịu trách nhiệm triền khai các chính sách đầu tư, chọn công ty quản lý quỹ và
giám sát việc tuân thủ các quyết định đề ra. Theo định kỳ, Hội đồng quản trị của quỹ sẽ
họp xem xét, kiểm tra giám sát tình hình điều hành của công ty quản lý quỹ để giải
quyết những vấn đề nảy sinh. Chỉ có quỹ dạng công ty mới có hội đồng quản trị.
b. Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng
khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư.
c. Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư
được nêu trong cáo bạch của quỹ.
d. Công ty kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình
hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch.
e. Ban đại diện quỹ: là các thành viên đại diện quỹ do đại hội đồng nhà đầu tư bầu ra
và hoạt động theo những nguyên tắc được quy định trong điều lệ quỹ. Ban đại diện quỹ

• Thuế: Bất kỳ loại thuế nào mà quỹ phải trả
• Đại hội nhà đầu tư: Chi phí hội họp cho các nhà đầu tư
• Phí pháp lý: Phí liên quan tới các hồ sơ thành lập, pháp lý
• Phí môi giới: Chi phí trong việc giao dịch tài sản của quỹ
9
• Phí thành lập: Thông thường cho các quỹ công ty, chi phí thành lập quỹ
(bản cáo bạch, phí pháp lý, phí hành chính, vv…) và chi phí marketing
(đối với hình thức quỹ đóng)
 Thưởng khuyến khích
Công ty quản lý quỹ đầu tư được hưởng một khoản thưởng khuyến khích nhằm
mục đích khuyến khích việc quản lý quỹ có hiệu quả cao nhất.
Thưởng khuyến khích được ấn định trên khoản lợi nhuận vượt so với lợi nhuận
căn bản (lợi nhuận căn bản được xác định là lãi suất trái phiếu chính phủ do
chính phủ phát hành hàng năm cộng thêm một khoản % nào đó) và được thanh
toán cho công ty quản lý quỹ trong khoảng thời gian 14 ngày sau ngày Ban Đại
Diện của quỹ phê duyệt các bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán của quỹ đầu
tư trong năm, cách tính thưởng khuyến khích như sau:
Công thức tính khoản lợi nhuận vượt (L) so với lợi nhuận căn bản:
L = Q – [R+(R x S)]
Trong đó:
- Q: là giá trị tài sản ròng của quỹ đầu tư vào ngày 31/12 hàng năm và do tổ chức
lưu ký công bố hoặc một công ty tài chính độc lập hay công ty kiểm toán được
Ban Đại Diện của quỹ đầu tư chấp nhận.
- R: là số vốn mà quỹ huy động được và đã ký hợp đồng với công ty quản lý quỹ
trên cơ sở số vốn đó, (ví dụ: theo kế họach huy động vốn của bản cáo bạch này là
100 tỷ đồng và trong trường hợp 100 tỷ đồng sẽ được các nhà đầu tư mua hết,
như vậy 100 tỷ đồng chính là R).
- S: là lãi suất trái phiếu chính phủ phi rủi ro được nhà nước Việt Nam phát hành
hàng năm cộng với một khoản % xác định trước (ví dụ: trái phiếu chính phủ
được phát hành năm 2002 là 6.5%/năm cộng với 2%, vậy S của năm 2002 là

công ty quản lý trong thời gian này không có hiệu quả đáng kể.
Hoạt động của các quỹ trong thời gian này không có hiệu quả, bởi lẽ:
Thiếu thông tin và tính minh bạch từ các công ty tiếp nhận vốn đầu tư.
Cơ cấu nợ trên vốn chủ sở hữu của các công ty trong nước tương đối cao, do vậy
độ rủi ro là tương đối lớn.
Không đạt được thoả thuận với các cổ đông trong nước, do các cổ đông này còn xa
lạ với các tập quán và thông lệ quốc tế khi đầu tư qua quỹ.
Các công ty trong nước thiếu vốn, công nghệ, và hoạt động marketing yếu.
11
Thiếu phương tiện để thu hồi vốn; cơ hội kinh doanh ngày càng bị thu hẹp.
Thiếu đội ngũ chuyên gia trong nước.
•Trong giai đoạn trước năm 2000, số lượng quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ còn
tương đối ít, các hoạt động của chúng chưa được biết nhiều qua các phương tiện
thông tin đại chúng, và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình
tài chính chưa được thống kê đầy đủ, công bố một cách chính thức xuất
phát từ những khó khăn khách quan về môi trường hoạt động kinh doanh
và từ nguyên tắc đầu tư của các quỹ trong thời gian này, cho đến nay phần
lớn các quỹ đầu tư đã hết thời gian hoạt động hoặc đã tạm ngừng hoạt động.
Một số quỹ đầu tư điển hình trong thời điểm này là:
•Vietnam Fund (VF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 9/1991, là quỹ dạng
đóng, thời gian hoạt động là 10 năm, quy mô quỹ 51 triệu USD, số tiền đã đầu tư
42 triệu USD, đăng ký niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Ireland. Công ty
quản lý quỹ là Vietnam Fund Management Ltd., đã đầu tư vào 11 dự án và thu hồi
vốn hai lần.
•Vietnam Frontier Fund (VFF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 10/1994, là
quỹ dạng đóng, quy mô vốn của quỹ 50 triệu USD, số tiền đã đầu tư 30 triệu USD,
thời gian hoạt động 10 năm, niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Dublin –
Ireland. Công ty quản lý quỹ là: Finansa, quỹ đã đầu tư vào 9 dự án, thu hồi vốn
01 lần.
•Beta Mekong Fund (BMF) và Beta Vietnam Fund (BVF): phát hành cổ phiếu gọi

đến 35 triệu USD.
•Công ty quản lý quỹ Mekong Capital thành lập Mekong Enterprise Fund, hiện đã
đầu tư khoảng 18,5 triệu USD vào các doanh nghiệp cổ phần của Việt Nam ( như
công ty nhựa Tân Đại Hưng, công ty trang trí thiết kế nội thất AA, công ty cổ phần
tin học Lạc Việt quản lý quỹ Lạc Việt…) dự kiến vào tháng 5/2006 sẽ thành lập
thêm một quỹ đầu tư mới với số tiền 40 triệu USD.
•Công ty Vina Capital thành lập Vietnam Opportunity Fund (VOF) vào một ngày
11/11/2003, VOF là quỹ đầu tư dạng đóng niêm yết tại thị trường chứng khoán
London, với bốn cổ đông chính là Millenium Partners (New York), Deustche Bank
Securities, SunWah Group (Hồng Kông) và Pacific Alliance Group. Năm 2004, VOF
đã công bố khoảng đầu tư đầu tiên vào công ty kem Kinh Đô. Tháng 3/2006, Vina
capital chính thức khai trương quỹ đầu tư bất động sản Vinaland Fund với số tiền mà
các nhà đầu tư nước ngoài rót vào quỹ đã lên đến 65 triệu USD vượt mức dự kiến 15
13
triệu USD. Vina Capital không giấu tham vọng tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng
của Việt Nam dự định cuối năm 2006 công ty sẽ thành lập thêm quỹ Technology
Fund để đầu tư vào các dự án công nghệ cao ở Việt Nam.
•Quỹ đầu tư chứng khoán Phan-xi-păng do Jadine Matheson Vietnam quản lý, với
mức vốn tối thiểu là 07 triệu USD, tối đa là 25 triệu USD. Đây là quỹ đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam, hiện đã huy động được khoảng 03 triệu USD và đang tham gia
giao dịch các cổ phiếu niêm yết trên thị trường tập trung. Theo kế hoạch, Phan-xi-
păng sẽ được niêm yết tại một thị trường chứng khoán nước ngoài, nhưng toàn bộ
nguồn vốn của quỹ sẽ được đầu tư vào Việt Nam. Dự kiến trong quý 2006, Phan-xi-
păng phát hành thêm 3,5 triệu cổ phiếu để tăng vốn.
•Năm 2004, Dragon capital đã liên doanh với Ngân hàng cổ phần thương mại Sài gòn
Thương Tín (Sacombank) để thành lập công ty quản lý quỹ Vietfund (VFN). Hiện
nay, VFN đã tiến hành thành công đợt phát hành chứng chỉ quỹ cho Quỹ đầu tư
chứng khoán Việt Nam (VF1), là quỹ đầu tư dạng đóng đầu tiên Việt Nam với quy
mô vốn là 300 tỷ đồng. Tháng 11 năm 2004, VF1 đã được phép niêm yết chứng chỉ
quỹ tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. HCM.

như Merill Lynch, Goldman Sachs, JP Morgan Chase đều dành mối quan tâm lớn
hơn cho thị trường Việt Nam với nhiều hoạt động khảo sát. Liên tiếp các báo cáo
nghiên cứu của các tổ chức này có chung đánh giá cổ vũ, dòng vốn đầu tư tiếp tục
chảy vào Viêt Nam trong nhiều năm tới. Trên thực tế, kết quả các đợt huy động vốn
cả trong và ngoài nước đều vượt kỳ vọng ban đầu.
 Quỹ đầu tư ở Việt Nam
• Quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Công ty quản lý quỹ Vina Capital:
Công ty quản lý quỹ Quỹ Dragon Capital: công ty quản lý quỹ có thâm niên đầu tư ở
Việt Nam, xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1995. Công ty hiện đang quản lý 3 quỹ:
Vietnam Enterprise Invesment Limited (VEIL), Vietnam Growth Fund (VGF),
Vietnam Dragon Fund (VDF).
VEIL thành lập từ năm 1996 với số vốn 16 triệu USD đến nay đã lên 500 triệu USD,
quỹ đầu tư vào các lĩnh vực tài chính ngân hàng, bất động sản, cơ sở hạ tầng…, cổ
phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán Dublin, được giao dịch trên thị trường
OTC của Luân Đôn, Newyork.
VGF: được thành lập năm 2005 với số vốn huy động lên đến 75 triệu USD, số vốn hiện
tại lên đến 260 triệu USD, cũng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Dublin.
15
VDF: Dragon Capital cùng với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
thành lập quỹ đầu tư đầu tiên của Việt Nam, số vốn hiện tại lên đến 100 triệu USD
Công ty quản lý quỹ Mekong Capital: Mekong Capital là công ty quản lý đầu tư tập
trung vào Private Equity tại Việt Nam các quỹ do Mekong capital quản lý:
Mekong Enterprise Fund, Ltd. là quỹ Private Equity với vốn cam kết là 18,5 triệu đô-
la Mỹ, tập trung đầu tư vốn cổ phần vào các công ty tăng trưởng thuộc thế hệ đầu tiên
các công ty tư nhân tại Việt Nam. Quỹ đã đầu tư vào 10 công ty trong giai đoạn từ
2003-2005.
Mekong Enterprise Fund II, Ltd. là quỹ Private Equity với vốn cam kết là 50 triệu
đô-la Mỹ, tập trung đầu tư vốn cổ phần vào các công ty tăng trưởng thuộc thế hệ mới
các công ty tư nhân tại Việt Nam. Các công ty này thường có mức tăng trưởng nhanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status