HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO - Pdf 61

BỘ Y TẾ

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU
TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
CHO NGƯỜI BỆNH
CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO
(Ban hành kèm theo Quyết định số 5623 /QĐ-BYT ngày 21/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

(Tài liệu Hướng dẫn về Hoạt động trị liệu)

Hà Nội, năm 2018


Tài liệu này được xây dựng với sự hỗ trợ của USAID trong khuôn khổ
dự án “Tăng cường Chăm sóc Y tế và Đào tạo Phục hồi chức năng”
do tổ chức Humanity & Inclusion thực hiện


MỤC LỤC
1.1. Sự cần thiết phải có các Tài liệu Hướng dẫn .................................................................. 1
1.2. Đối tượng sử dụng tài liệu hướng dẫn ............................................................................ 2
1.3. Mục tiêu của tài liệu hướng dẫn...................................................................................... 2
1.4. Mục đích ......................................................................................................................... 2
1.5. Mức độ bằng chứng ........................................................................................................ 3
1.7. Định nghĩa CTSN ........................................................................................................... 3
1.8. Dịch tễ học về CTSN ...................................................................................................... 4
1.9. Phòng ngừa CTSN .......................................................................................................... 4
1.10. Hồi phục sau CTSN ...................................................................................................... 5
1.9. Hoạt động trị liệu là gì? .................................................................................................. 5
2. Lộ trình và Nguyên tắc Phục hồi Chức năng ................................................................ 7
2.1. Giới thiệu ........................................................................................................................ 7

OT
PDOC
PT
PTA
ROM
TBI
SLT
WHO

Addenbrooke’s Cognitive Examination
Bài Kiểm tra Nhận thức Của Addenbrooke
Activities of Daily Living
Các Hoạt động Sinh hoạt Hàng ngày
Canadian Occupational Performance Measure
Công cụ Đánh giá Sự Thực hiện Hoạt động Của Canada
Functional Independence Measure
Đo lường Mức độ Độc lập Theo Chức năng
Goal Attainment Scale
Thang điểm Đạt Mục tiêu
Glasgow coma scale
Thang điểm hôn mê Glasgow
International classification of functioning, disability and health
Sự phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe
Key performance indicator
Chỉ số đánh giá khả năng thực hiện
Loss of consciousness
Mất ý thức
Multidisciplinary Team
Đội ngũ Đa Chuyên ngành
Manual muscle test

thức kéo dài. Một số người bệnh phải xuất viện do tình trạng tài chính.1
Một trong những mục tiêu của Bộ Y tế (BYT) là “Củng cố, phát triển mạng lưới cơ sở
phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng dịch vụ phục hồi chức năng; tăng cường phòng
ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, can thiệp sớm và cải thiện chất lượng cuộc sống của người
khuyết tật về mọi mặt để người khuyết tật được hòa nhập và tham gia bình đẳng vào các
hoạt động trong xã hội, phát huy tối đa năng lực của người khuyết tật.” (BYT, 2014)
Với quan điểm này, hướng dẫn để hiện thực hoá mong muốn cải thiện các dịch vụ phục hồi
chức năng là rất cần thiết. Hiện tại đã có các hướng dẫn chăm sóc phục hồi chức năng cho
các tình trạng bệnh lý và chấn thương thường gặp ở Việt Nam và đã được Bộ Y tế thông
qua vào năm 2014. Các hướng dẫn này gồm hai tài liệu chính:




"Hướng dẫn Chẩn đoán, Điều trị Phục hồi chức năng" mô tả các yêu cầu và thủ tục
phải tuân theo liên quan đến chẩn đoán, chăm sóc và theo dõi phục hồi chức năng,

"Hướng dẫn Quy trình Kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng”, mô tả các kỹ
thuật phục hồi chức năng hiện có cũng như các lĩnh vực áp dụng, chỉ định, chống
chỉ định và các kết quả mong đợi.

Bộ Y tế cũng đã ban hành những tài liệu hướng dẫn như vậy cho ‘CTSN’. Những tài liệu
này của BYT tạo nên một nền tảng tương đối vững chắc để xây dựng bổ sung các Hướng
dẫn Chung và Hướng dẫn Chuyên ngành mới nhất, dựa trên các kết quả nghiên cứu mới và
phù hợp với các hướng dẫn phục hồi chức năng dựa trên bằng chứng của quốc tế, vừa thích
ứng với hoàn cảnh của Việt Nam.
Một nhóm gồm nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đã tham gia vào việc xây dựng các
Hướng dẫn Chung và Chuyên ngành cập nhật cho người bệnh CTSN.
Hướng dẫn về Hoạt động Trị liệu cho CTSN này đưa ra những khuyến cáo và hướng
dẫn chung về hình thức cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng cũng như các khuyến cáo

Tài liệu cũng có thể là một công cụ để nâng cao ý thức của đội ngũ nhân viên về vai trò và
chức năng của những người tham gia vào quá trình phục hồi chức năng cho người bệnh
CTSN. Có thể đơn giản hóa nội dung của tài liệu cho phù hợp với nhân viên có trình độ
đào tạo thấp và cho bản thân người bệnh CTSN và người nhà của họ.
Cuối cùng, bộ tài liệu có thể giúp làm cầu nối giữa dịch vụ cấp tính và dịch vụ phục hồi
chức năng, đặc biệt để hướng dẫn cách giới thiệu người bệnh đến các chuyên khoa khác và
cách giao tiếp giữa hai bên. Tài liệu cũng có thể nêu bật những lỗ hổng và nhu cầu về
nguồn nhân lực cụ thể (ví dụ: kỹ thuật viên hoạt động trị liệu (KTV HĐTL) và chuyên viên
ngôn ngữ trị liệu (CV NNTL) có đủ tư cách hành nghề cũng như đưa ra khuyến nghị về
mục tiêu trong 5-10 năm tới về cách cải thiện công tác phòng ngừa nguyên phát và nâng
cao chất lượng dịch vụ phục hồi chức năng, bao gồm phòng ngừa CTSN thứ phát tại Việt
Nam.
1.4. Mục đích
Tài liệu hướng dẫn không nhằm mục đích đưa ra tiêu chuẩn chăm sóc điều trị y khoa. Các
tiêu chuẩn chăm sóc hoặc điều trị được xác định dựa trên tất cả dữ liệu lâm sàng có được
Trang | 2


cho từng ca bệnh cụ thể và thay đổi theo sự tiến bộ của kiến thức và công nghệ khoa học
và tiến trình phát triển của các hình thức chăm sóc, điều trị. Làm theo tài liệu hướng dẫn
không đảm bảo thành công trong mọi trường hợp, mà người sử dụng tài liệu hướng dẫn
phải đưa ra phán đoán cuối cùng về một quy trình lâm sàng hoặc kế hoạch điều trị nhất
định dựa trên các dữ liệu lâm sàng mà người bệnh biểu hiện và các phương án chẩn đoán
và điều trị hiện có. Tuy nhiên, nếu người sử dụng tài liệu thực hiện khác hơn nhiều so với
nội dung trong tài liệu, thì nên ghi nhận đầy đủ thông tin này trong hồ sơ bệnh án của
người bệnh lúc đưa ra quyết định thực hiện như vậy.
1.5. Mức độ bằng chứng
Nhóm biên soạn tài liệu hướng dẫn đã nhấn mạnh những khuyến nghị sau đây. Chúng là
những khuyến nghị lâm sàng chủ chốt và nên được ưu tiên thực hiện tại Việt Nam. Mỗi
khuyến nghị đều được xếp theo bậc. Các bậc thể hiện mức độ chắc chắn của bằng chứng

Mất ý thức
Quên sau chấn thương
Những bất thường về thần kinh khác, ví dụ như các dấu hiệu thần kinh khu trú,
động kinh và/hoặc tổn thương nội sọ.

Những biểu hiện này của CTSN không phải do ma túy, rượu bia hay thuốc, cũng không
phải do những chấn thương khác hay việc điều trị những chấn thương khác gây ra (ví dụ:
chấn thương hệ thống, chấn thương vùng mặt hoặc do đặt ống), hay do các vấn đề khác
gây ra (ví dụ: sang chấn tâm lý, rào cản ngôn ngữ hoặc những tình trạng y khoa đi kèm
khác).
Trang | 3


CTSN có thể xảy ra khi có chấn thương đâm xuyên qua sọ nhưng trong trường hợp này,
các khiếm khuyết thần kinh khu trú thường quan trọng hơn yếu tố lan tỏa khác.
1.8. Dịch tễ học về CTSN
Khó xác định chính xác số người bị CTSN do tình hình khó khăn chung khi mã hóa những
tình trạng bệnh như vậy tại các bệnh viện. Nhiều người bị CTSN nhẹ thường không đi
khám. Hiện nay, ta chưa thể xác định được trong số những người đến Khoa Cấp cứu hoặc
khám bác sĩ đa khoa trong tình trạng chấn thương thuộc mã chấn thương đầu, thì bao nhiêu
người thật sự bị CTSN (Nhóm Biên soạn Tài liệu Hướng dẫn New Zealand, 2006). Bài
tổng quan hệ thống y văn của WHO Collaborating Centre Task Force về Chấn Thương Sọ
Não Nhẹ kết luận rằng tỷ lệ CTSN nhẹ dựa trên dân số ‘thực tế’ là hơn 600 ca trongmỗi
100.000 ca mỗi năm (Cassidy JD et al, 2004). Tỷ lệ này tương đương với con số hơn
560.000 ca mỗi năm tại Việt Nam.
Theo ước đoán, thương tích do tai nạn giao thông đường bộ là nguyên nhân tử vong cao
thứ tám trên toàn cầu (khoảng 1.24 triệu người thiệt mạng trên thế giới mỗi năm do tai nạn
giao thông đường bộ), có phạm vi ảnh hưởng bằng với nhiều bệnh truyền nhiễm, ví dụ như
sốt rét (WHO, 2013). Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, thương tích do tai nạn giao thông
đường bộ tại Việt Nam (4.1%) là nguyên nhân tử vong cao thứ tư hàng năm, khiến hơn

Nguyên tắc cơ sở trong dịch vụ phục hồi chức năng là nhận thức được rằng những người
khác nhau cần các phương pháp chăm sóc hoặc điều trị khác nhau ở những giai đoạn khác
nhau trong quá trình hồi phục của họ, và đôi khi họ cần được hỗ trợ suốt đời.
Người chăm sóc cho người bệnh CTSN nặng có thể cũng cần được hỗ trợ trong thời gian
dài.
1.9. Hoạt động trị liệu là gì?
1.9.1. Định nghĩa
Hoạt động trị liệu là một chuyên ngành y tế lấy khách hàng làm trung tâm. Chuyên ngành
này chú trọng vấn đề nâng cao sức khỏe và tinh thần khỏe mạnh thông qua hoạt động. Mục
tiêu chủ yếu của hoạt động trị liệu là giúp người bệnh có thể tham gia các hoạt động sinh
hoạt hàng ngày. Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu đạt được điều này bằng cách làm việc với
người bệnh và cộng đồng để nâng cao khả năng tham gia các hoạt động mà họ muốn thực
hiện, có nhu cầu thực hiện, hoặc người khác mong đợi họ thực hiện, hoặc bằng cách điều
chỉnh hoạt động hoặc môi trường để hỗ trợ họ tham gia hoạt động tốt hơn.(WFOT, 2012)
Trong hoạt động trị liệu, hoạt động chỉ những công việc sinh hoạt hàng ngày mà mỗi
ngườithực hiện theo cá nhân, trong gia đình và trong cộng đồng,khiến họ bận rộn và làm
cho cuộc sống có ý nghĩa và mục đích. Hoạt động bao gồm những việc mà một người cần
làm, muốn làm và người khác mong đợi họ làm.
1.9.2. Vai trò của kỹ thuật viên hoạt động trị liệu
Tại thời điểm biên soạn tài liệu hướng dẫn, Việt Nam bắt đầu đào tạo chuyên ngành Hoạt
động Trị liệu và một số được xem là KTV HĐTL sau khi tham gia một số khóa tập huấn
HĐTL ngắn hạn. Mỗi người bệnh CTSN đều nên được gặp và làm việc với KTV HĐTL có
kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cụ thể về chăm sóc, điều trị cho người bệnh tổn
thương thần kinh.
KTV HĐTL làm việc với người bệnh CTSN để tối ưu hóa khả năng tham gia và sự độc lập
của họ trong toàn bộ hoạt động sinh hoạt hàng ngày (bao gồm các hoạt động tự chăm sóc
ví dụ như tắm rửa, mặc quần áo và ăn uống, ngoài ra còn có các hoạt động vui chơi giải trí
Trang | 5



khuyết về vận động-cảm giác, nhận  Dạy những chiến lược mới để hỗ trợ đạt
thức, nhận cảm và tâm lý-xã hội)
được mức độ chức năng tối ưu
Lượng giá những kỹ năng cần có để  Đưa ra lời khuyên về các thiết bị, dụng
tự chăm sóc (ví dụ: tắm rửa, mặc
cụ và cách điều chỉnh phù hợp để nâng
quần áo, ăn uống), thực hiện các
cao chức năng độc lập
hoạt động trong gia đình (ví dụ: mua  Cung cấp ghế ngồi phù hợp và đưa ra lời
sắm, nấu ăn, lau dọn), những hoạt
khuyên về cách đặt tư thế
động liên quan đến lao động và vui  Đưa ra lời khuyên và tạo thuận cho vấn
chơi giải trí
đề di chuyển ví dụ như điều khiển xe cộ
Lượng giá môi trường xã hội (ví dụ:  Tạo thuận cho quá trình điều trị từ giai
gia đình, bạn bè, các mối quan hệ)
đoạn cấp tính đến phục hồi chức năng và
Lượng giá môi trường vật lý (ví dụ:
xuất viện
nhà ở và cơ quan công tác)
 Liên kết, hợp tác, và giới thiệu người
bệnh đến các chuyên gia khác trong vai
trò thành viên của đội ngũ đa chuyên
ngành
 Giáo dục người bệnh và người chăm sóc
mọi khía cạnh liên quan đến điều trị
CTSN
 Liên kết với các nhóm hỗ trợ, và các tổ
chức tình nguyện


Đánh giá hiệu quả của phương pháp can thiệp
Báo cáo

Phục hồi chức năng CTSN là vấn đề khó khăn và phức tạp. Mục tiêu của phục hồi chức
năng thể chất là nhằm hỗ trợ khôi phục chức năng hoạt động bình thường càng nhiều càng
tốt, và đưa ra các chiến lược bù trừ để giảm thiểu tác động xấu của những triệu chứng kéo
dài dai dẳng, tức là gia tăng sự độc lập bằng cách tạo thuận cho khả năng kiểm soát vận
động và kỹ năng vận động. Có nhiều bằng chứng rõ ràng chứng minh hiệu quả của phương
pháp tiếp cận này trong việc cải thiện mức độ độc lập theo chức năng.
Phục hồi chức năng cho người bệnh CTSN lâm sàng nặng có thể khác so với phục hồi
chức năng nói chung do ảnh hưởng của các khiếm khuyết chức năng điều hành trong quá
trình phục hồi chức năng. Khiếm khuyết chức năng điều hành đề cập đến những hạn chế đi
kèm với tổn thương chủ yếu ở thùy trán và ảnh hưởng đến khả năng tập trung chú ý, khởi
tạo và định hướng mục tiêu, phán đoán và nhận cảm, học tập và trí nhớ, tốc độ xử lý thông
tin và giao tiếp và những kỹ năng nhận thức khác, ví dụ như lên kế hoạch và sắp xếp, tổ
chức. Phục hồi chức năng phải xử trí nhiều vấn đề mà người bệnh CTSN gặp phải, bao
gồm:

Trang | 7







Người bệnh có quan điểm sai lệch về thế giới của họ và cách họ tự đánh giá bản
thân. Tình trạng này có thể biểu hiện dưới hình thức người bệnh lẫn lộn về khả
năng bị hạn chế của bản thân, không nhận thức được khiếm khuyết, chối bỏ những
ảnh hưởng của chấn thương hoặc biểu hiện kết hợp các tình trạng trên


2.2.3. Can thiệp


Điều trị tương ứng để đạt được các mục
tiêu;

Can thiệp

2.2.4. Tái lượng giá


Lượng giá tiến triển của người bệnh để xem phương pháp can thiệp có hiệu quả
trong việc đạt được các mục tiêu đã thống nhất hay không. Nếu không thì có thể
xem xét lại các mục tiêu và phương pháp can thiệp.

2.3. ICF
Phục hồi chức năng có thể được tóm gọn lại bằng mô hình ICF (Sự Phân loại Quốc tế về
Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe) do Tổ chức Y tế Thế giới WHO xây dựng (2001). Mô
hình ICF đưa ra khái niệm rằng mức độ chức năng của một người là một mối tương tác
động giữa tình trạng sức khỏe của người đó với các yếu tố môi trường và các yếu tố cá
nhân. Đây là một mô hình sinh lý-tâm lý-xã hội, dựa trên sự kết hợp các mô hình xã hội và
Trang | 8


WHO (2001). Mô hình ICF

y học về khuyết tật.Tất cả các
thành phần của khuyết tật đều
quan trọng và bất kỳ thành phần

Hỗ trợ từ nhà nước

Tham gia vào các
hoạt động sinh
hoạt hằng ngày
(ADL) chủ yếu
liên quan đến cá
nhân, gia đình và
cộng đồng

Khuyến khích tăng
cường tham gia vào
các hoạt động cá
nhân, trong gia đình,
các hoạt động liên
quan đến nghề
nghiệp và các hoạt
động trong cộng
đồng

Giới tính, tuổi tác,
trình độ học vấn,
cách đối phó với khó
khăn, nguồn động
lực, lòng tự trọng,
cảm nhận về bản
thân

2.4. Chăm sóc, điều trị lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm
Thực hành cung cấp dịch vụ tốt nhất khi làm việc với người bệnh CTSN và gia đình của họ

bệnh để họ đạt được mục tiêu và tương lai và hướng đến tham gia vào xã hội, đảm nhận
những vai trò được người khác xem trọng, và tham gia trong cộng đồng.
Sự chăm sóc, điều trị lấy gia đình làm trung tâm cũng phỏng theo triết lý tương tự chăm
sóc, điều trị lấy người bệnh làm trung tâm và tiến xa hơn nữa bằng cách công nhận gia
đình và người chăm sóc là những người quyết định then chốt khi làm việc với người bệnh
CTSN. Sự chăm sóc, điều trị lấy gia đình làm trung tâm bao gồm một tập hợp các giá trị,
thái độ, và phương pháp tiếp cận dịch vụ cho người bệnh CTSN và gia đình của họ. Gia
đình làm việc với nhà cung cấp dịch vụ,và sau khi đã am hiểu mọi thông tin, họ sẽ quyết
định họ và người bệnh tham gia những dịch vụ gì và được hỗ trợ như thế nào. Phương
pháp tiếp cận lấy gia đình làm trung tâm cân nhắc đến điểm mạnh và nhu cầu của mọi
thành viên trong gia đình và người chăm sóc. Gia đình là người xác định ưu tiên trong can
thiệp và dịch vụ. Phương pháp tiếp cận này được xây dựng dựa trên giả thuyết gia đình là
người hiểu người bệnh CTSN nhất, và người bệnh sẽ hồi phục tốt nhất khi có được sự nâng
đỡ của gia đình và cộng đồng và mỗi gia đình là duy nhất. Dịch vụ nhằm mục đích hỗ trợ
và tôn trọng năng lực và nguồn lực của mỗi gia đình. Năng lực gia đình bao gồm những
kiến thức và kỹ năng mà một gia đình cần có để đáp ứng nhu cầu và sự khỏe mạnh của
người bệnh CTSN. Năng lực là năng lượng thể chất, tình cảm và tinh thần cần có để hỗ trợ
người bệnh CTSN, và ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của người nhà về khả năng chăm
sóc người bệnh CTSN.
Khuyến nghị:
>Dịch vụ phục hồi chức năng nên tuân theo triết lý chăm sóc, điều trị lấy người bệnh làm
trung tâm và lấy gia đình làm trung tâm

Trang | 10


2.5. Phương pháp tiếp cận đa chuyên ngành
Một khía cạnh trung tâm trong phục hồi chức năng CTSN là có được một đội ngũ đa
chuyên ngành phối hợp tốt với nhau. Có thể đạt được điều này bằng cách có một đội ngũ
đa ngành gồm các chuyên gia y tế được chuyên môn hóa[A].

Chuyên
viên ngôn
ngữ trị liệu

Bác sĩ tư
vấn

Chuyên gia
tâm lý

Chuyên
viên dụng
cụ chỉnh
hình

Kỹ thuật
viên vật lý
trị liệu

Nhân viên
công tác xã
hội

Kỹ thuật
viên hoạt
động trị
liệu

Người bệnh
CTSN + gia

nhất năm ngày mỗi tuần[GPP].
2.7. Lượng giá nguy cơ và can thiệp
Khi tiến hành lượng giá Hoạt động Trị liệu ban đầu, cần lượng giá những nguy cơ trước
mắt càng sớm càng tốt để nhân viên, gia đình và/hoặc người chăm sóc có thể xử trí đúng
cách và an toàn cho người bệnh [A].
Những lĩnh vực mà KTV HĐTL sẽ lượng giá có thể bao gồm:











Định hướng nhận thức (thời gian, nơi chốn và con người)
Khi có chỉ định và có thể thực hiện, KTV HĐTL sẽ thực hiện bài A-WPTAS để
sàng lọc về quên sau chấn thương (PTA) trong vòng 24 giờ sau khi bị chấn thương
Sự hung hăng và bốc đồng
Tư thế, cách di chuyển, dịch chuyển và cách đặt tay để di chuyển, dịch chuyển
người bệnh
Té ngã: tốt nhất nên để KTV VLTL thực hiện bài lượng giá được chuẩn hóa trong
khi KTV HĐTL có thể lượng giá nguy cơ té ngã khi thực hiện các hoạt động theo
chức năng ví dụ như đi vệ sinh và tắm rửa
Nuốt (giao tiếp với đội ngũ đa chuyên ngành (MDT) để nắm thông tin về chức
năng nuốt): KTV HĐTL có thể xem xét nguy cơ hít sặc liên quan đến tư thế của
người bệnh khi ăn uống
Dịch chuyển theo chức năng: bồn vệ sinh, ghế, xe lăn, giường

3.1. Lượng giá hoạt động trị liệu
Đối với tất cả lĩnh vực lượng giá được bao hàm trong tài liệu hướng dẫn này, ngay khi có
kết quả lượng giá, KTV HĐTL sẽ tiến hành huấn luyện người bệnh và gia đình/người
chăm sóc của họ ngay để giảm bớt nguy cơ mới đi kèm với những khiếm khuyết mới[GPP].
Lưu ý: Lượng giá người bệnh không có lời nói/thất ngôn[GPP]
Khi có thể, nên tiến hành lượng giá chung về HĐTL và Ngôn ngữ trị liệu (NNTL) đối với
những người bệnh có khó khăn hiểu và/hoặc giao tiếp nhu cầu của họ.
Khi không có chuyên gia NNTL, thì có thể sử dụng những chiến lược khác, ví dụ: sử dụng
thẻ hình ảnh để người bệnh có thể chỉ vào hình đại diện cho nhu cầu của họ, ví dụ như đi
vệ sinh, đói; Có khả năng người bệnh cũng có thể giao tiếp bằng cách viết nhu cầu của họ
ra giấy hoặc sử dụng cử chỉ điệu bộ ví dụ như chỉ ngón tay cái lên/xuống (ra hiệu đồng
ý/không đồng ý)
3.1.1. Lượng giá cấp tính
(I) Sàng lọc và lượng giá quên sau chấn thương
Bằng chứng cho thấy rằng kiểm tra quên sau chấn thương là một yếu tố dự đoán quan
trọng về khiếm khuyết trí tuệ của người bệnh sau chấn thương sọ não7.
Quên sau chấn thương (PTA) là khoảng thời gian sau khi mất ý thức và/hoặc va chạm
mạnh vào đầu, khi người bệnh đã có ý thức và tỉnh táo, nhưng hành xử hoặc ăn nói một
cách kỳ quái hoặc không giống họ.
Người bệnh không có trí nhớ liên tục về những sự kiện diễn ra hàng ngày, và những sự
kiện diễn ra gần đây cũng có thể bị ảnh hưởng tương tự, khiến họ không thể nhớ những gì
đã xảy ra cách đó vài giờ hoặc vài phút.
Quên sau chấn thương (PTA) có thể kéo dài trong vài phút, vài giờ, vài ngày, vài tuần hoặc
thậm chí, trong trường hợp hiếm gặp vài tháng và vì nó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
nhận thức của người bệnh CTSN, cần lượng giá và theo dõi tình trạng này trong quá trình
chăm sóc, điều trị cấp tính và lên kế hoạch phục hồi chức năng.
Hướng dẫn chung về độ nặng theo Hệ thống Phân loại Mayo cho Mức độ Nghiêm trọng
của Chấn Thương Sọ Não10:

Trang | 14

đầu
 Điểm số GCS từ 13-15 tại hiện trường hoặc lúc đến bệnh viện
 Mất ý thức (LOC) và/hoặc
 Có biểu hiện lẫn lộn/mất định hướng
 Người bệnh phải có khả năng mở mắt tự phát và làm theo mệnh lệnh thì mới đạt
tiêu chuẩn thực hiện bài lượng giá A-WPTAS.
 Mẫu phiếu phù hợp sử dụng cho người lớn nhưng cũng có thể sử dụng cho trẻ em
≥8 tuổi
Trang | 15


Nếu người bệnh không thể đạt điểm số 18/18 sau bốn lần thực hiện (cách nhau một giờ),
thì chỉ định cho người bệnh lượng giá sàng lọc quên sau chấn thương (PTA) mỗi ngày
Sàng lọc quên sau chấn thương (PTA) hàng ngày[B]





Nên tiến hành kiểm tra hàng ngày đến khi người bệnh CTSN có thể đạt được điểm
số 12/12 trong ba ngày liên tiếp (xem Phụ lục 4 để có ví dụ về bài sàng lọc quên
sau chấn thương (PTA) hàng ngày)
Có thể kiểm tra những người bệnh thất ngôn/mất ngôn ngữ bằng cách sử dụng gợi ý
thị giác
Nên cung cấp thông tin bằng văn bản cho gia đình của người bệnh về quên sau
chấn thương (PTA) và các chiến lược xử trí

Tại Việt Nam, những người bệnh không thể đạt được điểm số 12/12 khi sàng lọc quên sau
chấn thương (PTA) nhưng lại có biểu hiện hoạt động chức năng tốt thường không chấp
nhận tiếp tục nằm viện cho đến khi điểm số cải thiện tốt hơn; thực trạng này thường do áp






Giả thuyết ban đầu để dẫn dắt quá trình lên kế hoạch lượng giá thêm
Lên kế hoạch cho buổi tiếp theo; Có thể xác định mục tiêu, nhưng đặt mục tiêu trị
liệu trong giai đoạn này thường là quá sớm
Buổi phỏng vấn ban đầu sẽ dẫn dắt quá trình lượng giá thêm

(II)Lượng giá chi tiết
Một bài lượng giá chi tiết, được chỉ định cho người bệnh khi quên sau chấn thương (PTA)
đã hồi phục, bao gồm:














Nhận thức
Thị giác
Nhận cảm


KTV HĐTL nên ý thức được về các mức độ nhận thức Ranchos để biết biểu hiện nhận
thức của mỗi người bệnh CTSN (xem Phụ lục 7 để có ví dụ về các mức độ Ranchos)[A]
>Lượng giá không được chuẩn hóa[GPP]
Khi không có công cụ được chuẩn hóa, KTV HĐTL có thể lượng giá khả năng tiếp nhận,
xử lý và giao tiếp ý tưởng, suy nghĩ và hành động của người bệnh tại bệnh viện và trong
khi thực hiện hoạt động thông qua quan sát hành vi. Việc này bao gồm quan sát chức năng
điều hành của người bệnh, đặc biệt để lượng giá hiểu biết của người bệnh về những nguy
cơ cá nhân và năng lực của bản thân họ.
Có thể thực hiện hình thức lượng giá này bằng cách quan sát người bệnh tham gia vào hoạt
động ví dụ như những tác vụ chăm sóc cá nhân và/hoặc những tác vụ trong gia đình. Nền
tảng của quá trình lượng giá nên chú trọng lượng giá các lĩnh vực trí nhớ, sự tập trung chú
ý, kỹ năng kiến tạo thị giác, chức năng điều hành và ngôn ngữ.
Thị giác
KTV HĐTL có thể sàng lọc mỗi người bệnh CTSN để phát hiện khiếm khuyết thị giác
mới[C].Các lĩnh vực lượng giá bao gồm:








Nhìn một thành hai (Song thị)
Hội tụ
Theo dõi thị giác (dõi mắt)
Thị lực - khả năng nhận biết đồ vật / số ngón tay mà KTV đang giơ lên, v.v.
Phát hiện màu sắc
Thị trường



Phân biệt bên trái và bên phải của cơ thể và môi trường. Ví dụ: người bệnh có
phân biệt được bên trái cơ thể của họ so với bên phải không?
Liên hệ về không gian[GPP]:
o KTV HĐTL có thể lượng giá khả năng nhận cảm chiều sâu và ý thức của
người bệnh về vị thế của họ trong không gian so với môi trường xung quanh
bằng cách quan sát hoạt động
Lên kế hoạch vận động / Mất thực dụng hoặc mất điều khiển hữu ý[GPP]:
o Người bệnh có thể lên kế hoạch và thực hiện những hoạt động chi trên có ý
nghĩa không? Ví dụ: pha một tách trà, chải răng?
o Người bệnh có thể tạo ra những cử chỉ điệu bộ có ý nghĩa không? Ví dụ:
vẫy tay chào tạm biệt, thổi tắt diêm.

Cảm giác
>Sàng lọc và lượng giá sơ bộ


KTV HĐTL có thể lượng giá khả năng người bệnh nhận ra cảm giác sờ chạm nông
và sâu, cảm giác nóng và lạnh, sắc và cùn trên bề mặt của cả hai chi trên khi che
mắt lại. Có thể sử dụng những công cụ tại chỗ an toàn cho từng loại cảm giác
này[GPP].

>Lượng giá sơ bộ


Chỉ có thể áp dụng bộ công cụ đánh giá cảm giác bằng các sợi Semmes
Weinsteinkhi: 1. Có thể tiếp cận bài kiểm tra này, 2. KTV HĐTL đã được đào tạo
để thực hiện bài kiểm tra; 3. Người bệnh có biểu hiện khiếm khuyết cảm giác phức
tạp và sẽ được can thiệphuấn luyện lại cảm giác cụ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status