Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam - Pdf 61

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, các số liệu
kết quả trong luận văn là trung thực, hợp lý và có nguồn gốc rõ ràng. Nếu có sai sót
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2017
Tác giả

Phạm Thị Lý Nga

1


2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và bản luận văn này, bên cạnh những nỗ
lực của bản thân tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ tận tình của
thày cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập, công tác.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hồng Mai
- Các thầy cô giáo khoa Sau đại học và khoa Kế toán Kiểm toán Trường Đại
học Thương mại Hà Nội.
- Lãnh đạo và toàn thể cán bộ kế toán đang công tác tại Công ty Than Núi
Hồng mà tác giả đã tiến hành khảo sát và các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè đã
giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho tác giả trong quá trình học tập, công tác và thực
hiện luận văn thạc sĩ.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của bản thân, tuy nhiên Luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành để bản Luận văn không

GTSP

KPCĐ
KTTC
NCTT
NVLTT

SXKD
SPDDCK
TK
TSCĐ
TT
VLXD

Đầy đủ tiếng việt
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bộ tài chính
Công cụ dụng cụ
Chuẩn mực kế toán
Chi phí
Ci phí phát sinh
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất chung
Dở dang đầu kỳ
Dở dang cuối kỳ
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Giá thành sản phẩm
Hợp đồng

5

3
4
5
6

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất bằng cơ giới
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất Đá vôi bằng
cơ giới
Sơ đồ 2.3: Quy trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm Than
Sơ đồ 2.4: Quy trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm Đá vôi

50
51
80
81

5


6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, với việc tham gia 12 hiệp định thương mại tự do
song phương và đa phương, cùng với đó là một số hiệp định khác đang đàm phán,
môi trường đầu tư của Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao.

lại tổ chức sản xuất, điều hành sản xuất than theo nhu cầu thị trường là vô cùng cần
thiết.
Kết quả khảo sát thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành tại
Công ty than Núi Hồng, tác giả nhận thấy phát sinh những vấn đề sau:
Thứ nhất, kế toán dùng tài khoản 152 để phản ánh vật liệu phụ và các vật
liệu khác của đơn vị. Trong khi chi phí về công cụ dụng cụ lại rất ít, khi nhận kho
kế toán có thể nhầm lẫn tính chi phí công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất là vật
liệu.
Thứ hai, việc lập danh điểm theo dõi nguyên vật liệu của công ty được tổ
chức theo phương pháp sổ số dư nhưng thực tế lại theo phương pháp ghi thẻ song
song kết hợp với sổ đối chiếu luân chuyển nên việc ghi trùng lặp giữa thủ kho và kế
toán vẫn xảy ra.
Thứ ba, toàn bộ TSCĐ được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty đều thực hiện việc trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng. Việc
trích khấu hao như vậy là chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh trong
ngành khai thác mỏ.
Thứ tư, công ty than Núi Hồng vận dụng hình thức kế toán tập trung nhưng
địa bàn sản xuất kinh doanh rộng cho nên việc kiểm tra giám sát của phòng kế toán
đôi khi còn chậm. Dẫn đến việc cung cấp thông tin cho lãnh dạo chưa kịp thời ảnh
hưởng đến công tác chỉ đạo sản xuất trong đơn vị.
Từ những tồn tại về kế toán trên tại Công ty than Núi Hồng – VVMI. Nhận
thấy tầm quan trọng của kế toán chi phí sản xuất và giá thành đối với việc sản xuất
kinh doanh than, em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại công ty Than Núi Hồng ”.

7


8


trình bày và phân tich các quan điểm về chi phí và giá thành, phân tích đối tượng
tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất.

8


9
Về mặt thực tiễn , luận văn đã khái quát được thực trạng chi phí sản xuất và tính giá
thành tại một số công ty khai thác mỏ, phát hiện ra những hạn chế về tổ chức công
tác kế toán chi phí giá thành như:hạn chế hệ thống chứng từ, về tổ chức tài khoản,
tổ chức nội dung các khoản mục chi phí, tổ chức hệ thống sổ kê toán… Đồng thời
đưa ra các giải pháp, triển vọng của đề tài trên.
- Luận văn: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty cổ phần xây lắp Sơn Giang” (2013), của Nguyễn Thị Lan, chuyên ngành
kế toán, Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đi nghiên cứu, làm rõ các nội dung lý
thuyết cơ bản trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đối với
đơn vị xây lắp. Vận dụng lý thuyết để phân tích thực trạng công tác kế toán sản xuất
và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần xây lắp Sơn Giang. Từ đó, rút ra các ưu
điểm, các tồn tại để đưa ra những đề xuất chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kế toán
sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty trong mối liên kết với từng tổ đội xây lắp
về các mặt như công tác tập hợp chứng từ, kế toán nguyên vật liệu trực tiếp, nhân
công trực tiếp, phương pháp tính giá thành, trích trước chi phí sửa chữa lớn và kế
toán thiệt hại trong sản xuất.
- Luận văn: “Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại tổng công ty cổ
phần may 10” (2014), của Lê Thị Thu Hằng, Đại học Kinh tế quốc dân. Đề tài tập
trung nghiên cứu, khái quát hóa để xây dựng một mô hình lý thuyết về kế toán chi
phí, tính giá thành trong các DNSX nói chung và đi sâu vào loại hình may gia công
xuất khẩu, nhằm hệ thống một cách khoa học nhất về mô hình này giúp người làm
kế toán có được cái nhìn lý luận một cách có hệ thống và tổng thể, toàn diện
hơn. Bên cạnh đó luận văn tiến hành khảo sát thực tế tại Tổng Công ty CP May 10

-

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Về lý luận
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.

-

Về thực tế
Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
công ty Than Núi Hồng nhằm rút ra những ưu điểm cũng như những mặt còn hạn
chế tồn tại trong kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm, từ đó giúp công ty tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm.

10


11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
• Đối tượng nghiên cứu:

Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
• Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu kế toán tài chính (gồm kế toán tổng hợp và kế
toán chi tiết) chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than và đá vôi. Trong đó tập
trung nhiều hơn vào kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm than tại công ty
Than Núi Hồng.



12

- Cách thức thu thập dữ liệu của phương pháp này : Ghi lại các thông tin trên vào
giấy, đối với thông tin chi tiết như lao động, tài sản, các loại nguyên vật liệu cụ
thể ...sẽ thực hiện thu thập dữ liệu bằng file word, exel mà DN cung cấp.
+ Nghiên cứu tài liệu : Các tạp chí chuyên ngành kế toán, các thông tư,
chính sách, quyết định, chuẩn mực kế toán , sách kế toán tài chính và các tài liệu
của công ty.


Phương pháp xử lý dữ liệu :
Tổng hợp, phân tích và so sánh qua đó để xuất các giải pháp hoàn thiện kế
toán tài chính tại Công ty.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp sản xuất.
- Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
Công ty Than Núi Hồng.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại Công ty Than Núi Hồng.

12


13
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT



14


Đặc điểm của chi phí sản xuất:

-

Chi phí sản xuất mang tính vận động liên tục không ngừng và mang tính chất khách
quan.

-

Chi phí sản xuất mang tính da dạng và phong phú, tiết kiệm chi phí là một quy luật
khách quan đối với doanh nghiệp.

-

Chi phí sản xuất đuợc hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản
xuất vào sản phẩm sản xuất và được biểu hiện trên hai mặt:
Về mặt định tính: Đó là bản thân các yếu tố vật chất phát sinh và tiêu hao tạo
nên quá trình sản xuất, đạt được mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ.
Về mặt định lượng: Đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất tham
gia vào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua thước đo phù hợp mà thước đo
tổng quát là tiền tệ.
Cả hai mặt định tính và định lượng của chi phí sản xuất chịu sự chi phối
thường xuyên của quá trình sản xuất và đặc điểm sản xuất sản phẩm.



không phải là một. Chi phí khác chi tiêu ở 1 thời điểm về nôi dung và số lượng. Có
trường hợp là chi phí nhưng lại không phải là chi tiêu ngược lại có trường hợp là chi
tiêu nhưng lại không phải là chi phí.
Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinh doanh. Như vậy chỉ được tính là chi phí của kỳ
hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản
phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán.
Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật liệu, tài sản, tiền vốn của
doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì.
Mặc dù là hai khái niệm khác nhau nhưng chi phí và chi tiêu có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát của sinh chi phí, không có chi tiêu thì
không có chi phí. Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về mặt lượng mà còn
khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào
chi phí và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu. Sở
dĩ có sự khác biệt như vậy là do đặc điểm tính chất vận động và phương thức
chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật
hạch toán của chúng.
Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố giá cả thường xuyên biến động thì việc
hạch toán hợp lý, đầy đủ và kịp thời chi phí sản xuất chẳng những là điều kiện cần

15


16
thiết để quản trị giá thành mà còn nhằm xác định đúng chi phí phù hợp với giá cả
thực tại tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện bảo toàn vốn theo yêu cầu của chế
độ quản lý kinh tế hiện nay.
Như vậy, từ phân tích trên chúng ta có thể hiểu được bản chất chi phí và các
bộ phận cấu thành chi phí, các bộ phận cấu thành chi phí này sẽ được sắp xếp và

phân tích dự toán chi phí.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất có thể chia ra
các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có
cùng mục đích và công dụng, không phân biệt nội dung kinh tế của chi phí. Theo
cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục chi phí sau
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất chế tạo sản phẩm,
không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu sử dụng vào mục đích
chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền lương, tiền ăn ca, số
tiền trích KPCĐ, BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các phân xưởng, đội sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trực tiếp trên
bao gồm
- Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh các khoản tiền lương, các khoản
phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận sản xuất; khoản trích
KPCĐ, BHXH, BHYT theo tỷ lệ quy định hiện hành trên tiền lương phải trả cho
nhân viên phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất,...
- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng cho phân xưởng như vật
liệu dùng để sửa chữa bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng phân xưởng và những
vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý ở phân xưởng, chi phí lán trại tạm thời,...
- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ xuất dùng
cho hoạt động quản lý của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất,...
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao
TSCĐ dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ và TSCĐ
dùng chung cho hoạt động của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất,...

17


Cần lưu ý rằng, biến phí nếu tính trên một đơn vị sản phẩm lại có tính cố định.

18


19
- Định phí: Là những chi phí thay không thay đổi về tổng số so với khối
lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê
mặt bằng, phương tiện kinh doanh... Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản
phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của chi
phí cố định và chi phí biến đổi. Ở một mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp
thường biểu hiện là định phí, khi vượt khỏi mức độ căn bản, chi phí hỗn hợp bao
gồm cả biến phí.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp biết được cách ứng xử của từng loại
chi phí khi thay đổi mức độ hoạt động trong doanh nghiệp, xây dựng được mức chi
phí, xây dựng các dự toán chi phí, lợi nhuận.
* Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp cho các đối tượng chịu chi
phí
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí
gián tiếp.
Chi phí trực tiếp: là chi phí có quan hệ trực tiếp tới 1 đối tượng tập hợp chi
phí nhất định. Do đó, kế toán có thể căn cứ số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực
tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp: liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau. Khi
phát sinh, kế toán phải tập hợp lại, cuối kỳ phân bổ cho các đối tượng liên quan theo
tiêu chí nhất định.
Phương pháp phân loại này giúp kế toán tập hợp chi phí một cách rõ ràng
chính xác cho từng đối tượng chịu chi phí. Chi phí trực tiếp sẽ được tập hợp theo
phương pháp tập hợp trực tiếp, chi phí gián tiếp sẽ được phân bổ cho các đối tượng

Ngoài ra để hiểu rõ hơn về giá thành sản phẩm, có thể xem xét nó trong mối
quan hệ với giá trị và giá cả. Giá thành sản phẩm là phạm trù kinh tế khách quan
của sản xuất hàng hoá, có quan hệ mật thiết với giá trị và giá cả hàng hoá. Giá thành
sản phẩm được coi là xuất phát điểm để xây dựng giá cả, là giới hạn tối thiểu về
lượng của giá cả, dưới mức đó thì không thể thực hiện được tái sản xuất giản đơn.
Trên ý nghĩa đó thì giá thành sản phẩm là một bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá
trị. Giá thành và giá cả có mối quan hệ mật thiết, giữa giá thành sản phẩm với giá trị
và giá cả luôn tồn tại khách quan một sự chênh lệch về lượng hoặc là có lợi cho nhà
sản xuất trở thành điều kiện vật chất phát triển hoặc là có hại cho nhà sản xuất. Sản

20


21
xuất chỉ có thể tồn tại và phát triển khi người sản xuất đạt mức giá thành thấp hơn
giá bán của hàng hoá. Giá thành là cơ sở xuất phát để xây dựng và quy định giá cả
sản phẩm. Quy định giá cả đúng đắn phụ thuộc vào mức độ đầy đủ và chính xác của
việc xác định giá thành của từng loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra.
Như vậy giữa giá thành và giá cả có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giá cả là
cơ sở của giá thành và giá thành là cơ sở để xây dựng giá cả. Vì vậy, nếu trong điều
kiện giá bán không đổi thì việc giảm giá thành cũng là việc tăng lợi nhuận. Do đó
việc hạ thấp chi phí giảm giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của
công tác quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp.
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Để phục vụ cho các mục đích khác nhau của quản lý, giá thành sản phẩm
được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
* Phân loại theo thời điểm và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành kế
hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào

1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm và cung ứng sản phẩm đó ra bên ngoài. Chi
phí sản xuất là căn cứ để tính giá thành sản phẩm. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí
sản xuất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, đòi hỏi quản lý giá thành
phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất giống nhau ở chỗ chúng đều là biểu
hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra. Nhưng giữa
chúng có sự khác nhau về phạm vi và giới hạn. Chi phí sản xuất chỉ tính những chi
phí của doanh nghiệp chi ra trong quá trình sản xuất của một thời kỳ nhất định
không phân biệt chi phí đó có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm đó đã hoàn
thành hay chưa hoàn thành, không gắn liền với chủng loại và khối lượng sản phẩm
lao vụ đã hoàn thành. Còn giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí nhất
định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Mặt khác, chi phí sản
xuất chỉ tính cho một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm xác định trên cơ sở
chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ và gồm cả chi phí sản xuất phát sinh kỳ trước

22


23
chuyển sang kỳ này, không bao gồm chi phí cho sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển
sang kỳ sau.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua
công thức tính giá thành:
Giá thành

=

Chi phí sản xuất

phải tuân thủ các nguyên tắc như sau:
+ Nguyên tắc cơ sở dồn tích:
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ
phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời
điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc
tương đương tiền.
Khi bỏ ra 1 khoản chi phí để sản xuất, thì theo Cơ sở dồn tích, chi phí ấy sẽ
được ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinh, tập hợp chi phí sản xuất và những chi

23


24
phí này sẽ nằm ở giá thành sản phẩm, khi bán được hàng thì sẽ kết chuyển vào giá
vốn hàng bán.
Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo
lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc
chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN. Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là
phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD
nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung
thực) các giao dịch kinh tế trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn
của DN một cách đầy đủ, hợp lý. Như vậy thì báo cáo tài chính mới có ích cho việc
ra quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
+ Nguyên tắc giá gốc:
Nội dung của nguyên tắc giá gốc là khi ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế liên
quan đến tài sản, kế toán phải dựa vào chi phí đã phát sinh để hình thành nên tài sản
chứ không phải căn cứ vào giá hiện hành trên thị trường. Như vậy, giá trị của tài sản
được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán là chi phí mà doanh nghiệp đã phải bỏ ra để

tính toán, mỗi phương pháp lại cho một kết quả khác nhau. Theo nguyên tắc này,
khi đã chọn phương pháp nào thì kế toán phải áp dụng nhất quán trong các kỳ kế
toán. Trường hợp cần thiết sự thay đổi về phương pháp đã chọn cho hợp lý thì trong
phần thuyết minh báo cáo tài chính phải giải trình lý do tại sao phải thay đổi
phương pháp và sự thay đổi đó ảnh hưởng như thế nào đến kết quả tính toán so với
phương pháp cũ.
Có nhiều phương pháp tính khấu hao tài sản cố định; tính giá trị hàng tồn khi
cuối kỳ... Mỗi phương pháp sẽ mang lại một con số khác nhau về chi phí và lợi
nhuận. áp dụng phương pháp nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh
nghiệp vì tất cả các phương pháp đó đều được công nhận, nhưng theo nguyên tắc
này, kế toán đã lựa chọn áp dụng phương pháp nào thì phải áp dụng nhất quán trong
các kỳ kế toán.
Công tác tính giá thành bao gồm cả việc tập hợp chi phí sản xuất theo đối
tượng tính giá thành, đánh giá sản phẩm dở dang và cuối cùng là tính giá sản phẩm
hoàn thành. Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành phải phù hợp với các đặc

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status