i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THỊ BÍCH LIÊN
ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv ii v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v ii v
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP 3 ii v
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 3 ii v
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Chi cục thuế Huyện Mê Linh 15 ii v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v v
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP 3 v
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 3 v
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Chi cục thuế Huyện Mê Linh 15 v
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP 3
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 3
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Chi cục thuế Huyện Mê Linh 15
lên các phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp nợ lớn, chây ỳ; đồng thời kịp thời
báo cáo UBND các cấp để chỉ đạo các Cơ quan chức năng trên địa bàn thực hiện phối hợp với
cơ quan Thuế trong việc đôn đốc, thu hồi nợ đọng nhằm mục đích nâng cao chấp hành pháp
luật của người nộp thuế và để sớm thu hồi tiền thuế, tránh gây lãng phí, thất thoát NSNN.
Trong tháng 5/2016, Cục Thuế TP Hà Nội đã tiếp tục công khai đợt V năm 2016 danh sách 131
đơn vị nợ thuế với tổng số tiền nợ 255,311 tỷ đồng. Đặc biệt, trong số các doanh nghiệp nợ
thuế ngành xây dựng có tỉ lệ “dẫn đầu” về nợ. Đây là biện pháp mạnh và rất hữu hiệu, các
doanh nghiệp đã chấp hành nộp thuế đạt số tiền lớn và ngành thuế mong muốn rằng việc
công khai danh sách doanh nghiệp nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp
nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế, góp phần vào hoàn thành
nhiệm vụ thu NSNN năm 2016. 82
Đồng thời, quyền hạn của người nộp thuế cũng phải được xác định rõ ràng nhằm bảo đảm
môi trường thuận lợi và tin cậy cho người nộp thuế trong khi thực hiện nghĩa vụ của mình.
Cụ thể là các quyền như: được hướng dẫn thực hiện pháp luật, yêu cầu cơ quan thuế giải
thích cách tính thuế… 82
Các quy định về thủ tục hành chính thuế cần được quy định rõ ràng, minh
bạch, tạo điều kiện thông thoáng, thuân lợi cho người nộp thuế. 82
3.2.4 Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế 83
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Nội dung
6
NVL
Nguyên vật liệu
7
TLTC
Tiền lương tiền công
8
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
9
QLT
Quản lý thuế
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
+ Nâng cao tính chủ động của DN.....................................................................80
vi
Nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, tiền thuế thu được góp
phần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ổn định tình hình kinh tế và trật tự an
toàn xã hội. Nhưng trong suy nghĩ của người nộp thuế, họ cho rằng nộp thuế là
mất tiền nên tìm cách để trốn thuế, tránh thuế hoặc nộp thuế với số tiền thấp
nhất. Hiện nay, khi cơ chế tự khai, tự nộp được áp dụng, đã đề cao trách nhiệm
của người nộp thuế trong việc chủ động xác định đúng số thuế phải nộp. Song
mặt trái của vấn đề là tình hình hiện nay còn tồn tại nhiều doanh nghiệp không
tuân thủ pháp luật, tìm mọi kẽ hở để trốn thuế. Do đó, công tác kiểm tra cần
phải được duy trì thường xuyên, liên tục...........................................................80
Chính vì vậy, để công tác kiểm tra cũng như công tác quản lý thuế đạt hiệu quả, nhà nước
cần xây dựng những chế tài cưỡng chế, chế tài xử phạt đủ mạnh nhằm ngăn chặn, xử lý
nghiêm minh những hành vi sai trái, đảm bảo môi trường bình đẳng, công bằng cho người
chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế. Ngoài một số biện pháp thông thường như: trích tiền từ tài
khoản của người nộp thuế, kê biên tài sản tại trụ sở kinh doanh… phải thực hiện biện pháp
thu tiền và tài sản từ tổ chức, cá nhân đang giữ tài sản của người nộp thuế. Gần đây, Tổng
cục thuế đã có thêm biện pháp mạnh đó là Phối hợp với cơ quan truyền thông, báo chí đưa
lên các phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp nợ lớn, chây ỳ; đồng thời kịp thời
báo cáo UBND các cấp để chỉ đạo các Cơ quan chức năng trên địa bàn thực hiện phối hợp với
cơ quan Thuế trong việc đôn đốc, thu hồi nợ đọng nhằm mục đích nâng cao chấp hành pháp
luật của người nộp thuế và để sớm thu hồi tiền thuế, tránh gây lãng phí, thất thoát NSNN.
Trong tháng 5/2016, Cục Thuế TP Hà Nội đã tiếp tục công khai đợt V năm 2016 danh sách 131
đơn vị nợ thuế với tổng số tiền nợ 255,311 tỷ đồng. Đặc biệt, trong số các doanh nghiệp nợ
thuế ngành xây dựng có tỉ lệ “dẫn đầu” về nợ. Đây là biện pháp mạnh và rất hữu hiệu, các
doanh nghiệp đã chấp hành nộp thuế đạt số tiền lớn và ngành thuế mong muốn rằng việc
công khai danh sách doanh nghiệp nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp
nhân, loại hình các doanh nghiệp đang ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số
lượng và quy mô. Việc quản trị kinh doanh và các hoạt động thương mại của
doanh nghiệp ngày càng tiên tiến, điện tử hoá và tin học hóa. Vì vậy công tác
quản lý thuế đối với doanh nghiệp tư nhân đang ngày càng được chú trọng để
đảm bảo và gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý thuế Thu nhập
doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân nên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề
tài “Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp tư
nhân trên địa bàn huyện Mê Linh, Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ kinh tế
chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
thực tiễn của quản lý thuế TNDN, phân tích thực trạng công tác quản lý thuế
TNDN trên địa bàn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải
2
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn huyện
Mê Linh trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ thể và khách thể của quản lý
thuế TNDN.
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn từ khi thực hiện Luật thuế TNDN và
trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội do Chi cục thuế huyện Mê
Linh trực tiếp quản lý.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, phân tích có dử dụng
tiếp cận nhìn nhận sự việc trong sự biến động gắn với điều kiện lịch sử cụ thể.
Ngoài ra, các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, phân tích hệ thống
Doanh nghiệp tư nhân hay còn gọi là doanh nghiệp ngoài quốc doanh; là
một bộ phận của thành phần kinh tế doanh nghiệp tư nhân và mang tính sở
hữu tư nhân hoặc sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất.
Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu chiếm số lượng lớn là công ty TNHH
và công ty Cổ phần. Ngoài ra còn một số loại hình công ty như doanh nghiệp
tư nhân, công ty hợp doanh, văn phòng công chứng….
1.1.1 Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó:
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt
quá năm mươi;
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần.
1.1.2 Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó;
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
4
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Cổ đông có thể là tổ chức; cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa;
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh;
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại ra công
bình quân cả nước tạo việc làm mới cho người lao động được khoảng 2,5
triệu việc làm/năm. Trong đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân có đóng góp
đáng kể, khoảng 1,5 triệu việc làm/năm. Nhiều đối tượng lao động như: người
đến tuổi lao động cần việc làm; lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp
nhà nước do tinh giảm biên chế, giải thể, chuyển đổi, phá sản; lao động nông
nhàn trong nông nghiệp do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển sang làm việc
trong các doanh nghiệp tư nhân.
Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân còn có khả năng thu hút vốn trong xã hội
nhanh, hiệu quả đầu tư vốn cao tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội,
góp phần tích tụ tập trung tư bản tạo điều kiện để tái sản xuất làm tăng nhanh
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong năm
năm từ 2011 đến 2015, có hơn 200 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số
vốn đăng ký đạt hơn 800.122 tỷ đồng cao hơn hai mươi lần so với giai đoạn
1991-1999. Nếu mức vốn đăng ký kinh doanh bình quân của một doanh
nghiệp tư nhân thời kỳ 2006 - 2010 là gần 1,8 tỷ đồng, thì đến giai đoạn 2011
- 2015 là 2,80 tỷ đồng. Vốn sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh qua
các năm cũng liên tục tăng. Nếu năm 2014 là 598.348 tỷ đồng, thì năm 2015
là 892.892 tỷ đồng, tăng 1,5 lần. Tỷ trọng đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư
nhân cao trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
6
Trên phương diện đóng góp cho Ngân sách Nhà nước, số thuế từ doanh
nghiệp tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với tổng thu của Ngân sách
Nhà nước. Trong tổng số thu từ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân, thuế thu
nhập doanh nghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng.
1.3 . Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp tư nhân
1.3.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khái niệm: Thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế tính trên thu nhập
thuế suất phổ thông là 20% (từ năm 2016) đối với tất cả các DNTN ngoại trừ
doanh nghiệp đặc thù là đối với doanh nghiệp tìm kiếm, thăm dò, khai thác
dầu khí tại Việt Nam là áp dụng thuế suất từ 32 đến 50% và hoạt động thăm
dò khai thác mỏ tài nguyên quý hiếm áp dụng thuế suất 50%
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý thuế TNDN đối với
doanh nghiệp tư nhân
1.3.2.1 Tỷ lệ số lượt người nộp thuế TNDN trên tổng số người nộp thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng DNTN đang thực hiện nghĩa vụ thuế với
NSNN trên tổng số NNT đang quản lý trên địa bàn. Khi xem xét và phân tích
tỷ lệ này sẽ giúp cho cơ quan thuế nắm bắt được số lượng NNT một cách
chính xác, do đó giảm thiểu được số thất thu thuế do bỏ sót NNT, đồng thời là
cơ sở đánh giá mức độ quản lý NNT đã chặt chẽ và hiệu quả hay chưa? Đây
là chỉ tiêu tiền đề để nghiên cứu và đánh giá các chỉ tiêu tiếp theo.
1.3.2.2 Tỷ lệ chi phí hành chính phục vụ công tác quản lý thuế TNDN
đối với doanh nghiệp tư nhân trên tổng số thuế TNDN:
Chỉ tiêu này cho biết để hoàn thiện một khâu hay một quy trình quản lý
thuế TNDN sẽ phải mất khoản chi phí hành chính phục vụ cho công tác đó
như chi phí tiền lương cán bộ nhân viên; chi phí công tác tuyên truyền hỗ trợ;
chi phí cài đặt phần mềm quản lý; chi phí lưu giữ bảo quản tài liệu, hồ sơ; chi
phí đôn đốc thu nộp , … Các chi phí này chúng ta đem so sánh với tổng số thu
từ thuế TNDN được một tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ này lớn hay nhỏ sẽ thể hiện
hiệu quả thu NSNN từ thuế TNDN mà DNTN đem lại. Cụ thể, tỷ lệ chi phí
hành chính phục vụ công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp tư
8
nhân trên tổng số thuế TNDN càng nhỏ thì hiệu quả thu NSNN từ thuế TNDN
mà doanh nghiệp tư nhân đem lại càng cao và ngược lại.
1.3.2.3 Tỷ trọng số thuế TNDN của doanh nghiệp tư nhân trên tổng số
thuế có thể đánh giá một cách trung thực và toàn diện nhất về công tác quản
lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp tư nhân từ đó đề ra các giải pháp hữu
hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp
tư nhân.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến TNDN đối với các
doanh nghiệp tư nhân
Hoạt động QLT TNDN đối với các DNTN chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố khác nhau. Mỗi nhân tố có những tác động nhất định, có thể là tích
cực cũng có thể là tiêu cực đến công tác QLT TNDN. Việc xem xét các nhân
tố này sẽ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn những thuận lợi, khó khăn mà
mình đang gặp phải trong quản lý để có được những biện pháp thích hợp.
1.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
1.3.3.1.1 Về phía Cơ quan thuế
- Bộ máy và quy trình quản lý thuế TNDN:
Là một bộ phận của hoạt động quản lý thuế nói chung, hoạt động QLT
TNDN không phải là nhiệm vụ, chức năng của một phòng ban, đơn vị riêng lẻ
mà là sự kết hợp đồng thời của các bộ phận trong quy trình QLT cũng như của
các phòng ban từ trên xuống dưới. Quy trình QLT hợp lý, bộ máy quản lý
hoạt động thống nhất, đồng bộ là một trong những điều kiện cơ bản để thực
hiện tốt công tác QLT.
Công tác tuyên truyền, phố biến kiến thức về thuế giúp NNT kịp thời cập
nhật các thông tin, hiểu rõ các quy định và thực hiện chính sách thuế, từ đó
nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý thuế. Công tác này càng sâu rộng,
10
NNT càng am hiểu kiến thức về thuế, từ đó hỗ trợ cán bộ thuế trong công tác
quản lý.
- Điều kiện vật chất, kỹ thuật của cơ quan thuế:
chưa hiểu rõ về pháp luật thuế, chế độ kế toán nên làm sai tờ khai, xác định sai
số thuế phải nộp hoặc làm sai báo cáo quyết toán thuế…Đội ngũ cán bộ quản lý
doanh nghiệp nhìn chung chưa được đào tạo cơ bản, còn thiếu nhiều kiến thức
cơ bản về kinh doanh, về pháp luật. Điều này gây không ít khó khăn cho công
tác QLT. Để thực hiện đúng nội dung QLT thì cán bộ quản lý phải mất rất nhiều
thời gian hướng dẫn lại cho doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến tiến độ thuế của
cơ quan thuế.
1.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
1.3.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước:
Ở các nước đang phát triển, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có
những tác động quan trọng đối với công tác QLT TNDN nói riêng. Cụ thể các
giải pháp tăng cường quản lý kinh tế - xã hội như các giải pháp tăng cường
quản lý, giám sát hoạt động đầu tư, hoạt động của thị trường chứng khoán,
giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, giải pháp quản lý hoá
đơn, chứng từ .... có tác động tích cực trong việc quản lý và giám sát thu
nhập, và do đó tạo thuận lợi cho công tác QLT TNDN.
1.3.3.2.2 Cơ chế QLT:
Nước ta áp dụng một trong hai cơ chế sau để quản lý thuế: Cơ quan thuế
tính và ra thông báo nộp thuế hoặc cơ sở kinh doanh tự khai tự nộp thuế.
(i) Cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế:
Trước đây, nước ta đã thực hiện quản lý thuế theo cơ chế này. Theo cơ
chế này, cơ quan thuế kiểm tra và tính thuế trên cơ sở căn cứ vào tờ khai thuế
do NNT kê khai để, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho NNT. Nhờ đó,
đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của NNT. Tuy
12
nhiên, cơ chế này tạo nên gánh nặng về nghiệp vụ cho cơ quan thuế, dễ xảy ra
hiện tượng tiêu cực giữa NNT và cán bộ thuế, làm thất thu NSNN, mang tính
Đống Đa là một quận nội thành của TP Hà Nội, giáp với quận Hoàn
Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Cầu Giấy. Quận Đống Đa nằm ở khu vực
trung tâm của thành phố nên số lượng DNTN đăng ký địa điểm trụ sở tại
Quận Đống Đa rất nhiều.
Tổng thu NSNN năm 2015 của Chi cục thuế quận Đống Đa đạt 4.520 tỷ
đồng, chiếm 138% dự toán pháp lệnh, 135 % dự toán HĐND, tăng 30% so
với cùng kỳ.
Có được thành tích đó có một phần không nhỏ là do sự nỗ lực phấn đấu
của các cán bộ, công chức Chi cục thuế Quận Đống Đa nhằm đẩy mạnh việc
thực hiện các biện pháp trong công tác QLT nhất là đối với thuế TNDN các
các DNTN. Cụ thể là trong tổng thu NSNN năm 2015 hơn 13.200 DNTN ở
quận Đống Đa, số thuế TNDN lên tới 2.265 tỷ đồng, chiếm hơn 50% tổng thu
NSNN của Chi cục.
Để đạt được kết quả này, Chi cục thuế quận Đống Đa đã triển khai đồng
bộ các giải pháp trong QLT nói chung và thuế TNDN nói riêng, được thể hiện
trong các nội dung sau:
Trước hết do sự chỉ đạo thống nhất của Ban lãnh đạo Chi cục: Luôn đi
theo chỉ đạo của Cục thuế TP Hà nội, của quận ủy Đống Đa; Sát sao chỉ đạo
cán bộ công chức luôn làm theo 10 điều kỷ luật của ngành, và quy chế của cơ
quan, trong quan hệ quản lý với ĐTNT luôn đúng mực, chủ động và nhiệt tình
hỗ trợ hướng dẫn tuyên truyền giải thích để ĐTNT hiểu, làm theo quy định
của pháp luật và tránh để ĐTNT phải đi lại nhiều.
14
Việc áp dụng quy trình QLT của Chi cục đã đi theo quy chuẩn từ khâu
đăng ký thuế, kê khai thuế, tổng hợp dự toán, thanh tra kiểm tra thuế: hệ
thống hồ sơ và hướng dẫn thực hiện quy trình rõ ràng, công khai; xác định rõ
các thủ tục hành chính và trách nhiệm của các bộ phận quản lý trong quá trình
lĩnh vực xây dựng, thường các DN này không xuất hóa đơn đầu ra đúng thời
điểm khi khách hàng thanh toán theo tiến độ công trình, trong thực tế các
doanh nghiệp này thường chỉ xuất hóa đơn khi công trình đã hoàn thành và
bàn giao. Vì vậy, thực tế đoàn kiểm tra của Chi cục đã đẩy doanh thu về đúng
năm thời điểm nhân tiền thanh toán, nhờ vậy năm đó sẽ phát sinh số thuế
TNDN phải nộp và tính phạt chậm nộp từ thời điểm phải nộp thuế đến thời
điểm thanh tra, kiểm tra. Ngoài ra việc kiểm tra theo chuyên đề thuế về hóa
đơn hoặc theo chuyên đề DNTN có doanh thu lớn trên 50 tỷ đồng/năm…
cũng đem lại những hiệu quả tích cực trong công tác quản lý thu tại Chi cục.
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với Chi cục thuế Huyện Mê Linh
Thứ nhất, phải chú trọng công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT, lấy công
tác này là tiền đề trong thực hiện QLT nói chung và thuế TNDN nói riêng,
nhằm giúp đỡ ĐTNT trong việc tháo gỡ khó khăn về chính sách và kê khai
nộp thuế. Luật pháp về thuế phải được người dân hiểu đầy đủ, cặn kẽ và đi
vào đời sống của dân. Phải phối hợp tốt với UBND xã, thị trấn để phổ biến
chính sách đến từng hộ gia đình, người dân.
Thứ hai, luôn chú trọng việc nâng cao kiến thức cho cán bộ, công chức
thuế để đáp ứng được yêu cầu công việc, cho đi học các lớp nâng cao nghiệp
vụ do ngành tổ chức, khuyến khích cán bộ trẻ vừa đi học vừa được học hỏi
thêm, tránh nhàm chán với công việc hiện tại, đáp ứng được nhiều công việc
khi cần. Hiện nay tại huyện Mê Linh có bộ phận, cán bộ đảm nhận nhiều năm
nhưng chưa được luận phiên, luân chuyển nhưng số cán bộ này không quá
20% tổng số cán bộ công chức của chi cục.
16
Thứ ba, công tác thanh tra kiểm tra tại huyện Mê Linh vẫn được chú
trọng xong vẫn theo lối mòn, kiểm tra những đơn vị nhiều năm chưa được
quyết toán, doanh nghiệp có doanh thu cao. Nay cần làm theo chuyên đề về
tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng nông
nghiệp; tăng cường vai trò quản lý nhà nước, tạo điều kện thuận lợi về địa
điểm, cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý cho các thành phần kinh tế phát triển;
củng cố, xây dựng và phát triển các cơ sở kinh tế, xây dựng kế hoạch và thực
hiện tốt đề án nâng cao hiệu quả kinh tế của Thành ủy. Vì vậy, trong những
năm 2011 - 2015, kinh tế của Huyện phát triển mạnh và khá toàn diện, vượt
18
cao so với Nghị quyết Đại hội đề ra, cơ cấu kinh tế có bước chuyển quan
trọng, đúng hướng. Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 27,5%, công nghiệp chiếm
24,5 %, nông nghiệp chiếm 48%. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5
năm là 27 %. Giá trị tăng thêm năm 2015 so với năm 2011 gấp 2,3 lần.
Trên lĩnh vực dịch vụ, huyện Mê Linh đã chỉ đạo tập trung đầu tư cơ sở
hạ tầng, xắp xếp, ổn định mạng lưới chợ hợp lý, hiệu quả như: Chợ Thị trấn
Quang Minh, chợ Thạch Đà, chợ Mê Linh, chợ Đầu đê, chợ Tiền Phong, chợ
Sặt… Ngoài ra trên địa bàn huyện Mê Linh còn có Trung tâm Thương mại
MELINHPLAZA đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân mua bán, thu hút
được nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ góp phần đẩy nhanh lưu chuyển
hàng hóa.
Thực hiện Luật Doanh nghiệp và chủ trương về phân cấp quản lý, đổi
mới cơ chế quản lý, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, huyện Mê Linh
đã tạo điều kiện thuận lợi về đăng ký kinh doanh, môi trường hoạt động cho
các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ gia đình sản xuất kinh doanh. Nhằm
thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển, huyện Mê Linh tập trung giải phóng
mặt bằng, xây dựng hạ tầng cơ sở đưa các doanh nghiệp vào hoạt động tại khu
sản xuất công nghiệp của huyện. Đặc biệt là khu công nghiệp Quang Minh đã
thu hút được nhiều công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài vào hoạt động đã góp phần thúc đẩy kinh tế của huyện có sự tăng