MỞ ĐẦU
Việt Nam đang nằm trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước, phát triển kinh tế được ưu tiên lên hàng đầu, vấn đề môi trường trước kia
bị xem nhẹ và trong những năm gần đây thì đã được quan tâm, nhưng môi trường
vẫn đang bị ô nhiễm đặc biệt là môi trường làng nghề. Điều này đã và đang gây
ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi trường cũng như cuộc sống của con người.
Làng nghề - một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam – đóng vai
trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Tuy được hình
thành và phát triển hàng trăm năm nhưng đến nay hầu hết chúng được hình thành
tự phát, nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, sản xuất tại làng nghề còn sử dụng các thiết bị thủ
công, đơn giản công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên, nhiên liệu thấp, mặt
bằng sản xuất hạn chế, ý thức người dân trong bảo vệ môi trường còn chưa cao.
Do đó, nhiều hoạt động sản xuất của làng nghề đã và đang tạo sức ép không nhỏ
đến chất lượng môi trường sống của chính làng nghề và cộng đồng xung quanh.
Nghề làm đậu phụ của Trà Lâm đã có từ lâu đời (1640), nhưng từ năm
2010 trở lại đây mới thực sự phát triển mạnh. Theo báo cáo quy hoạch phát triển
sản xuất nông nghiệp xã Trí Quả cho biết toàn thôn có 510 hộ với 2154 nhân
khẩu thì có 70 - 80% số hộ làm đậu phụ với khối lượng trung bình 10 tấn đỗ/ngày
(tương đương khoảng 35.000 - 40.000 bìa đậu đôi), giá bán trung bình 5000 6000 đồng/bìa. Nghề làm đậu phụ đã đem lại thu nhập ổn định cho nhiều gia đình
trong thôn. Ngoài ra thì còn có lợi nhuận từ sản phẩm phụ (bã đậu) để chăn nuôi
gia súc. Ở đây, hầu hết các hộ làm đậu đều kết hợp chăn nuôi lợn, hộ làm ít cũng
nuôi 10 - 15 con lợn, hộ làm nhiều nuôi 30 - 40 con.
Tuy nhiên, gần thời gian gần đây, những người làm đậu ở Trà Lâm gặp
không ít khó khăn bởi phải sống chung với môi trường ô nhiễm. Dù chưa có đánh
giá cụ thể về mức độ ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường gây ra, nhưng bước vào
từ đầu làng Trà Lâm, mọi người đều cảm thấy khó chịu bởi mùi hôi thối bốc
1
như kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu. Tìm hiểu cụ thể quy mô và tình hình
sản xuất của làng nghề.
- Tiến hành khảo sát hiện trường, lập kế hoạch quan trắc
- Thực hiện quan trắc
- Phân tích môi trường trong phòng thí nghiệm
- Đánh giá số liệu và đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về làng nghề tại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về làng nghề
Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt
Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “làng nghề là một đơn vị hành
chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức,
kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống
chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát
triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập
thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa
phương”. (Nguồn: Tiến sĩ Phạm Côn Sơn, Làng nghề truyền thống Việt Nam.
Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 2004).
Theo hướng dẫn của Thông tư 116/2006/TT- BTNMT, khái niệm về làng
nghề được chỉ rõ Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí:
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn;
Hoạt động sản xuất kinh doanh hoạt động tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận;
Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. (Nguồn: Thông tư
116/2006/TT- BTNMT).
văn hóa và cho cả xuất khẩu. (Nguồn: Đặng Kim Chi (2005) làng nghề Việt Nam
và môi trường).
Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã.
Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản
xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính là
hàng thủ công mỹ nghệ. Do đó, chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được
quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước. Cũng chính trong giai đoạn
này, nhiều làng nghề đã bị mai một.
Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động,
5
cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào
giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự suy
sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc
phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát. Nhiều làng nghề đã
được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân.
Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển
của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp
sang cơ chế thị trường. Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới
quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng
nghề nói riêng. Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi
phục và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật, hình thành
nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản
lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng
Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình, giấy Phú Lâm… ( Đỗ Quang Dũng,
Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ ,
gia đình. Tính trung bình, hoạt động sản xuất công nghiệp tại các tỉnh tăng từ 60
đến 80%, và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng trong tương lai (Vietnam agricultural
science institute, 2003). (Nguồn: Đặng Kim Chi, làng nghề Việt Nam và môi
trường, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2005).
1.1.2. Phân loại làng nghề
Làng nghề với những hoạt động phát triển gần đây đã gây ra tác động tích
cực và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường mang đặc thù rất đa
dạng. Vấn đề môi trường và phát triển làng nghề ở nước ta cho đến nay vẫn là
vấn đề quan trọng đang được chú ý nghiên cứu. Cần có sự nhìn nhận theo nhiều
khái cạnh và góc độ khác nhau mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như các sự
vận động của loại hình kinh tế sản xuất này và các tác động của nó gây ra với
môi trường. Để giúp đỡ cho việc quản lý hoạt động sản xuất cũng như công tác
quản lý, bảo vệ môi trường, các làng nghề cần được tiến hành phân loại dựa trên
số liệu, thông tin điều tra khảo sát. Đây sẽ là cơ sở thực tiễn để thấy được bức
tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp và chính sách
nhằm phát triển làng nghề bền vững.
7
Nhằm đáp ứng những mục tiêu trên, có thể phân loại các làng nghề ở nước
ta theo các kiểu dạng như sau:
Phân loại theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
Dựa trên đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng
cho các vùng văn hóa lãnh thổ khác nhau.
Các làng nghề truyền thống gồm các nhóm nghề lớn: gốm, đúc đồng,
chạm khắc, đá, kim hoàn, rèn, đúc, mây tre đan, sơn, khai trảm, dệt tơ lụa, làm
nón, tranh dân gian,….
Theo điều tra khảo sát thực tế và thừa kế các nghiên cứu về vấn đề này, có
thể chia các làng nghề được khảo sát hiện nay thành 3 nhóm sau:
+ Làng nghề có quy mô nhỏ
Mỗi cách phân loại trên có những đặc thù riêng và tuy theo mục đích mà
có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường
làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp
hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu
khác nhau về nguyên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, dạng chất thải, và vì vậy
có những tác động khác nhau đến môi trường. (Nguồn: Đặng Kim Chi, Nguyễn
Ngọc Lân, Trần Lệ Minh Làng nghề Việt Nam và Môi Trường tập 1, Nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ Thuật, 2005.)
1.1.3. Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam
Theo thống kê, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản
xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực
lượng lao động ở nông thôn. Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa
dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá
thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác (Đặng
Kim Chi, 2005).
Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản là:
9
Phân bố làng nghề trong cả nước
Với các chỉ tiêu đã đề ra, cho nay, Việt Nam có khoảng 2017 làng nghề,
thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất
(cả hộ kiêm), thu hút hơn 11 triệu lao động. Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề
lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (62), Hải Dương (65), Hưng
Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng.
Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại không đồng đều trong cả
nước. Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm
gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (1594 làng nghề), trong đó tập
141
87221
Nam Định
90
19
61
52132
Hà Nam
37
16
21
38802
Hải Dương
42
30
32
34120
Hà Nội
40
20
20
68679
Hà Tây
88
20
68
113956
10
Làng nghề
mới
qua số liệu về tình hình phát triển của công nghiệp nông thôn. Các làng nghề
nông thôn đã sản xuất một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu thị trường
trong nước và xuất khẩu. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn thì năm 2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề trong cả nước
đạt khoảng 40.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quan ước tính đạt 7 -9%
trong mười năm qua. Cơ cấu của khu vực kinh tế này đã đa dạng hơn, tỷ trọng
các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, cơ khí tăng lên trong khi sản xuất vật
liệu giảm đi. Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của làng nghề có sự thay đổ theo hướng
càng ngày sản phẩm càng bám sát hơn.
Với quy mô nhỏ bé phân bố rộng khắp các vùng nông thôn. Hằng năm các làng
nghề sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa khá lớn, đóng góp đáng kể
cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng.
Đặc điểm sản phẩm
Đặc điểm đặc sắc nhất của sản phẩm làng nghề là độc đáo và có tính nghệ
thuật cao. Tính độc đáo này được tạo nên bỏi kỹ thuật công nghệ sản xuất thủ
công truyền thống đã có từ rất lâu và còn tồn tại cho đến ngày nay.
11
Các sản phẩm làng nghề mang tính riêng lẻ và đơn chiếc vì sản phẩm
được sản xuất ra do từng các nhân thực hiện bằng công cụ thủ công nên không
thể sản xuất hàng loại mà chỉ là từng chiếc một. Điều này tạo nên cho sản phẩm
một sắc thái riêng và sự hấp dẫn riêng. Tuy nhiên vì vậy mà sản phẩm có giá
thành cao, mẫu mã không phong phú và chậm được đổi mới.
Sản phẩm của các làng nghề tham gia xuất khẩu chủ yếu là hàng thủ công
mỹ nghệ. Tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu của các làng nghề chưa đa dạng về mẫu
mã, chất lượng chưa đồng nhất và chưa cao nên chưa theo kịp tốc độ phát triển
kinh tế của đất nước.
Nguyên vật liệu
- Bắc Ninh có 11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy vanh 500 máy khoan
bàn, 100 máy bào, 500 máy phun sơn phục vụ cho viếc ản xuất đồ gỗ cao cấp cho
thị trường nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên sự đổi mới chưa đồng bộ, chưa hệ
thống, mới chỉ tập trung ở một số khâu và một số ngành quan trọng có ảnh hưởng
tới toàn bộ quá trình sản xuất, còn cá khâu khác tận dụng lao động thủ công là
chủ yếu. (Nguồn: Đặng Kim Chi, Nguyễn Ngọc Lân, Trần Lệ Minh Làng nghề
Việt Nam và Môi Trường, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ Thuật, 2005.)
1.2. Tổng quan về làng nghề tại Bắc Ninh
1.2.1. Khái quát tình hình làng nghề tại Bắc Ninh
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường thì Bắc Ninh có tổng số 62
làng nghề với 30 làng nghề truyền thống và 32 làng nghề mới. Thực tế, tổng số
làng nghề của Bắc Ninh lớn hơn nhiều so với thực tế do báo cáo sử dụng các làng
nghề lớn trong một vài xã để đại diện cho tất các làng nghề của xã. (Nguồn: Sở
TN&MT Bắc Ninh, 2012).
1.2.2. Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh
Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, duy trì và
phát triển với một tốc độ khá nhanh, đóng góp một phần không nhỏ vào việc
chuyển dịch cơ cấu và đảy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương, nâng
cao đời sống của nông dân và bảo tồn văn hóa làng xã. Sản phẩm của làng nghề
không còn bó hẹp trong phạm vi làng xã mà đã vươn xa tới các địa phương trong
cả nước, có những sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường một số nước như chạm
13
khắc gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Tiên Sơn, đúc đồng Đại Bái, Gia Lương, giấy dó
Phong Khê, tranh dân gian Đông Hồ hay làng nghề chế biến thực phẩm đậu gù Trà
Lâm....
Đến nay, tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ
gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng. Các làng
Rượu
3
Dịch vụ vật tư
01
Vật tư tổng hợp
4
Sản xuất đồ gỗ công cụ sản xuất,
mộc đơn giản
03
Cày bừa, hàng dân dụng
5
Đúc nhôm
01
Nồi, xoong, chảo
6
10
Chế biến thực phẩm từ rau quả
01
Đậu phụ
11
Sản xuất các sản phẩm từ tre, nứa,
07
Thúng, rổ, rá
14
lá
12
Đúc và gia công đồng, nhôm
02
Đồng, gò, đúc, nhôm gò,
đúc
13
Rượu gạo
17
Vận tải thuỷ
01
Vận tải
18
Chế biến lương phẩm từ gạo
01
Mỳ gạo, bánh đa
19
Sản xuất đồ gốm
02
Chum, vại, chậu, âu, vò...
20
Sản xuất công cụ cầm tay bằng
kim loại
24
Mộc dân dụng, mỹ nghệ
08
Đồ gỗ mỹ nghệ, giường,
tủ, tranh khắc
25
Dệt
02
Màn, khăn mặt, khăn tay
26
Thương nghiệp
02
Thương nghiệp
TỔNG SỐ
62
(Nguồn: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh)
phát sinh
Thành phần chất thải
Làng nghề Châu Khê
Phân loại
Khí thải
Bụi
Chất thải rắn
Chất thải vô cơ, phế liệu
2
Đúc
Khí thải
Hơi kim loại, khí ô nhiễm do cháy
các vật liệu bám theo phế liệu,
nhiệt độ, tiếng ồn
3
Cán, cắt, kéo thép
Khí thải
Bụi
Chất thải rắn
Chất thải vô cơ, phế liệu
Khí thải
Bụi, CO, SO2, NO2, hơi kim loại,
Chất thải rắn
Xỉ than, vụn kim loại
Làng nghề giấy Phú Lâm
II
16
1
Phân loại
2
Ngâm kiềm
Tiếng ồn
5
Xeo giấy
Khí thải
Bụi, khói lò hơi (SO2, NO2, CO),
nhiệt độ, tiếng ồn
Nước thải
Các chất ô nhiễm chính: nhiệt độ
cao, COD, BOD5, TSS. Ngoài ra:
sunfua, NH3, N tổng
Xỉ than
Chất thải rắn
6
Cuộn, cắt
I
Khí thải
Bụi
Chất thải rắn
Dăm bào, vụn gỗ
3
Bào, đục
4
Dựng thô, vào khung
Khí thải
Hơi keo cồn, tiếng ồn
5
Làm phẳng, tạo hình
Khí thải
Bụi gỗ, tiếng ồn
Chất thải rắn
Vụn gỗ
Khí thải
Tiếng ồn
COD, BOD5¸sunfua, NH3
2
Nghiến đốt, cạo tinh
Bụi
Bụi
17
Chất thải rắn
3
4
Hun, sấy bằng rơm
trộn đất sét
Khí thải
Gia công sản phẩm
Chất thải rắn
V
vỏ tinh tre nứa
3
Chăn nuôi lợn
Nước thải sau
bể biogas
COD, BOD, NH3, S2-, N tổng
(Nguồn: Số liệu điều tra của Trung tâm QTNT & MT tỉnh Bắc Ninh)
1.3. Tổng quan về làng nghề chế biến nông sản thực phẩm tỉnh Bắc Ninh
Khu vực tỉnh Bắc Ninh có 12 làng nghề hoạt động trong lĩnh vực chế biến
nông sản thực phẩm bao gồm chế biến các sản phẩm từ tinh bột như bún ướt, bún
khô, mỳ gạo, bánh đa nem, bánh phở, đậu và nấu rượu....
Các làng nghề chế biến tinh bột tập trung nhiều ở huyện Yên Phong, TP Bắc
Ninh và một số dải rác ở các khu vực khác. Nguyên liệu sử dụng trong quá trình
sản xuất là các loại ngũ cốc sản xuất tại địa phương và thu mua ở các vùng lân
cận. Sản phẩm của làng nghề phục vụ cho tiêu dùng tại chỗ và các vùng lân cận
như Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Giang.....
Đậu Trà Lâm là một
1.4. Tình hình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh
1.4.1. Khái quát sơ bộ về bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc
Ninh
18
UBND tỉnh
- Chi cục Bảo vệ môi trường: Là cơ quan quản lý Nhà nước trực thuộc Sở
Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Tài
19
nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ
môi trường.
- Phòng Tài nguyên môi trường cấp huyện: Là cơ quan tham mưu, giúp Ủy
ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực môi
trường trên địa bàn
- UBND cấp xã: Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý
của mình; kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các hộ gia
đình, cá nhân; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường hoặc báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp; xác nhận Bản
đăng ký cam kết bảo vệ môi trường theo sự uỷ quyền của cơ quan cấp trên.
1.4.2. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về bảo
vệ môi trường
a, Thuận lợi
- Nhận thức của người dân, chủ các doanh nghiệp về bảo vệ môi trường đã
có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả ban đầu.
- Công tác quản lý môi trường đang từng bước đi vào hoạt động có nề nếp
và ngày càng hiệu quả.
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan ngày càng chặt
chẽ và đạt hiệu quả.
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được tăng cường và có chiều
sâu.
b, Khó khăn
- Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường chưa
chịu trách nhiệm khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra
(Điều 35), có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về
môi trường trong quá trình điều tra... Ngoài ra, Luật còn quy định các nội dung liên
quan đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên phải
thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Việc khắc phục hậu quả sự cố môi
trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác tài nguyên thiên nhiên,
thực chất là khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi môi trường. Các quy định trên
của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng và tạo điều kiện
21
thuận lợi trong khắc phục hậu quả sự cố môi trường do các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, khai thác tài nguyên thiên nhiên gây ra.
Do vậy, Ngày 29 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định
số 142/QĐ-UBND về việc thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường trực thuộc Sở
Tài nguyên và Môi trường.
Thành lập Phòng quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các khu công
nghiệp và được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý môi trường tại các khu công
nghiệp tập trung.
Thành lập Phòng Cảnh sát môi trường thuộc Công an tỉnh, có chức năng
phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường.
Những thuận lợi và khó khăn của làng nghề tái chế giấy Phú Lâm khi có
sự thay đổi trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường:
Góp phần nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam về bảo vệ môi
trường. Luật bảo vệ môi trường được cụ thể hóa bằng văn bản giúp các doanh
nghiệp nói chung và các nhà máy tái chế giấy trong làng nghề tái chế giấy Phú
Lâm nói riêng có cái nhìn tổng thể về các thủ tục môi trường cũng như thực hiện
nghiêm chỉnh các thủ tục môi trường.
trường đã trở thành một trong các tiêu chí trong bình xét thi đua khen thưởng;
các điểm ô nhiễm môi trường trọng điểm đã được ưu tiên đầu tư xử lý; cơ chế
tiếp nhận các nguồn tài trợ, viện trợ của các tổ chức quốc tế được cởi mở.
Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường. Nghiên
cứu, điều tra cơ bản về tài nguyên, khoáng sản, địa chất, thuỷ văn, sử dụng tổng
hợp tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và cải thiện môi trường,
nước hợp vệ sinh. Quản lý và sử dụng ngày càng tốt hơn tài nguyên nước, triển
khai xây dựng mạng quan trắc động thái nước dưới đất. Chương trình nước sạch
nông thôn được quan tâm đầu tư, năm 2011, tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp
nước hợp vệ sinh chiếm 93,4%, tỷ lệ dân cư thành thị được cấp nước sạch 92%.
Cải tạo, di dời và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; quy
định về bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp, lưu vực sông Ngũ
Huyện Khê, sông Cầu, hình thành khu vực xử lý chất thải rắn, dự án thoát nước
và xử lý nước thải thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn được triển khai tích cực,
hoàn thành xây dựng điểm tập kết, vận chuyển rác thải khu vực nông thôn...
23
Hàng năm rà soát quy hoạch sử dụng đất, số hoá bản đồ đất đai, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất đai trong công nghiệp, suất đầu tư tính theo quy mô vốn
bình quân trên diện tích thuê đất của các doanh nghiệp tăng lên; thực hiện kiên trì
và đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường chấm dứt đốt gạch thủ
công đúng thời hạn Nhà nước quy định.
Nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân và chủ các doanh nghiệp
được nâng lên, pháp luật môi trường ngày càng đi vào cuộc sống của mỗi người
dân và từng doanh nghiệp.
Tính chấp hành pháp luật môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ đã có những chuyển biến, đặc biệt là trong các khu công nghiệp tập
trung.
Đối tượng nghiên cứu:
Nước thải và chất thải rắn làng nghề Đậu Trà Lâm, xã Trí Quả, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn: Làng nghề Đậu Trà Lâm, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh.
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu môi trường làng nghề Đậu Trà
Lâm, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Về mặt thời gian: Từ ngày 15/02/2014 – 05/4/2015
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất (quy mô
sản xuất, công nghệ sản xuất) của làng Đậu Trà Lâm, xã Trí Quả, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Hiện trạng môi trường nước, chất thải rắn làng nghề Trà Lâm
- Đánh giá công tác quản lý môi trường làng nghề Trà Lâm.
- Đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
môi trường tại làng nghề Đậu Trà Lâm.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội thôn Trà Lâm; Thu
thập các số liệu về hiện trạng môi trường từ phòng Tài Nguyên và Môi Trường,
sở Tài Nguyên và Môi Trường, sách tài liệu, internet....
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
25