skkn PHÁT TRIỂN NĂNG lực vận DỤNG KIẾN THỨC CHO học SINH QUA các câu hỏi THỰC TIỄN PHẦN “THÀNH PHẦN hóa học của tế bào” – SINH học 10, cơ bản - Pdf 61

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT LƯU HOÀNG
----------------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

“PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC
SINH QUA CÁC CÂU HỎI THỰC TIỄN PHẦN “THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA TẾ BÀO” – SINH HỌC 10, CƠ BẢN”

Lĩnh vực/ Môn: Sinh học
Cấp học: THPT
Tác giả: Đỗ Thị Hương
Đơn vị công tác: Trường THPT Lưu Hoàng
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn

NĂM HỌC 2019 – 2020


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng. Nền
kinh tế trí thức có tính toàn cầu đã đặt ra cho ngành giáo dục một nhiệm vụ vô
cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải
giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo
dục, vừa mang tính hướng thiện khoa học.
Với bộ môn sinh học mà tính thực nghiệm được gắn liền với các bài giảng
hàng ngày thì việc định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng phải có sự


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức
cho học sinh
1.1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức (NLVDKT)
Theo Từ điển Tiếng việt, vận dụng là đem tri thức vận dụng vào thực
tiễn.
Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Vận dụng
kiến thức vào thực tiễn là quá trình đem tri thức áp dụng vào những hoạt động
của con người nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội”.
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “NLVDKT là khả
năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh
chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình
huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả
năng biến đổi nó. NLVDKT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong
quá trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”.
Như vậy, NLVDKT vào thực tiễn dựa trên các định nghĩa này: NLVDKT
vào thực tiễn là khả năng chủ thể phát hiện được vấn đề thực tiễn, huy động
được các kiến thức liên quan hoặc tìm tòi, khám phá các kiến thức nhằm thực
hiện giải quyết các vấn đề thực tiễn đạt hiệu quả.
1.2. Những biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
- Có NL hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức sinh học, hiểu rõ đặc
điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức đó. Vận dụng kiến thức chính là
việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp để giải thích mỗi hiện tượng, tình
huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
- Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của sinh học trong các vấn đề
thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và

Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học sinh học gắn với thực tiễn bộ
môn theo hướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứng
dụng sinh học trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Nếu các kiến thức thực tiễn
được sử dụng theo đúng mục đích sẽ là nguồn HS khai thác, tìm tòi phát hiện
kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực
nhận thức và tư duy khoa học sinh học.
Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong
hoạt động dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học
sinh học ở trường phổ thông.
Đối với học sinh THPT Lưu Hoàng các em chưa có nhiều định hướng
nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ
học theo sở thích. Vì vậy, người giáo viên dạy sinh học phải biết nắm tâm lý và
đặc điểm lứa tuổi của học sinh. Bên cạnh đó, cần kết hợp phương pháp dạy học
bằng cách khai thác, ứng dụng các hiện tượng sinh học trong tự nhiên và trong
đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gần gũi với các em.
2. Thực trạng sử dụng kiến thức gắn với thực tiễn đời sống trong dạy học
sinh học
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới chương trình,
nội dung và phương pháp dạy học với mục tiêu giáo dục toàn diện, phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học của
học sinh. Tại nhiều trường, nhiều giáo viên đã và đang tích cực thực hiện đổi

3/15


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học mới như hoạt
động nhóm, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật khăn trải bàn…
Với bộ môn sinh học như đã trình bày ở trên là bộ môn khoa học thực

mà chưa có hoặc có rất ít câu hỏi mang tính vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
đây chính một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên. Vì vậy
việc lúng túng trước các câu hỏi, tình huống thực tiễn của học sinh là điều dễ
hiểu.
4/15


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

Nguyên nhân cuối cùng là yếu tố học sinh. Với các em học sinh lớp 10 thì
đa số các em chưa có định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập
các bộ môn chưa cao, học theo sở thích. Còn một số lượng nhỏ học sinh có định
hướng nghề nghiệp thì chủ yếu các em tập trung vào học các môn khối A, C, D
mà ít quan tâm đến khối thi có môn Sinh học. Mặt khác, vẫn còn nhiều học sinh
cho rằng “học là để thi, để lấy điểm”, nên các em không quan tâm đến việc vận
dụng kiến thức được học vào phục vụ đời sống thực tế.
Với những thực trạng đáng buồn trên trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm
cách để khắc phục vấn đề đó. Đây chính là động lực thúc đẩy tôi tiến hành đề tài
này.
3. Số liệu khảo sát trước khi thực nghiệm đề tài
Bằng hai hình thức khảo sát: Thứ nhất là, ra bài kiểm tra trắc nghiệm với
kiến thức HS đã học bằng phương pháp thông thường không tích hợp câu hỏi
liên hệ thực tiễn; Thứ hai là, phiếu khảo sát ý kiến HS khi học bằng phương
pháp thông thường không tích hợp câu hỏi liên hệ thực tiễn. Kết quả khảo sát
như sau:
Kết quả khảo sát ý kiến HS ở phiếu số 1:
Điểm
Hứng thú
Bình thường Không hứng thú
Lớp

15
16
Thực

Đối chứng

nghiệm

10A4 – 42HS

7

13

20

16
16

Yếu

Kém

0

0

2

0

Để thu hút được sự chú ý của HS thì phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu
ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định kích thích
học sinh cùng tìm hiểu, giải thích thì bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học
sinh ngay từ những giây phút đầu tiên này.
Ví dụ 1: Trước khi vào học “Bài 4: Cacbohidrat và lipit” giáo viên làm thí
nghiệm: Hòa 1 thìa đường vào 1 cốc nước lọc sau đó hòa 1 thìa mỡ hoặc dầu
TV vào 1 cốc nước lọc. Nhận xét hiện tượng và giải thích tại sao?
HS sẽ trả lời được: “Đường thì tan còn dầu mỡ không tan trong nước” tuy
nhiên các em sẽ giải thích theo các cách khác nhau có thể chưa chính xác nhưng
sẽ thấy hứng thú và tò mò muốn tìm hiểu nội dung bài học.
GV tiếp tục dẫn dắt: “Vậy giải thích hiện tượng trên như thế nào cô và
các em sẽ cùng tìm câu trả lời qua bài học ngày hôm nay”.
Ví dụ 2: Đối với “Bài 5: prôtêin” giáo viên có thể gây sự chú ý cho học
sinh bằng câu hỏi: “Tại sao trâu và bò đều là động vật ăn cỏ nhưng thịt của
chúng lại có vị khác nhau?” Sau đó GV dẫn dắt vào bài.
Ví dụ 3: Để mở bài cho tiết học “Các nguyên tố hoá học và nước” giáo
viên đặt câu hỏi cho học sinh như sau: “Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các hành
tinh trong vũ trụ các nhà khoa học trước hết lại tìm xem ở đó có nước hay
không?” HS có thể trả lời theo nhiều cách khác nhau. Còn GV ngay lúc đó sẽ
không đưa ra đáp án đúng mà dẫn dắt vào bài, sau đó đến phần vai trò của nước
mới hướng dẫn HS trả lời.
4.1.2. Giải pháp 2: Dùng để dẫn dắt, chuyển sang mục khác trong bài học
Một trong những yếu tố làm cho bài giảng cuốn hút người nghe là do cách
dẫn dắt, chuyển ý để các nội dung bài học có sự logic, liền mạch. Có rất nhiều
cách dẫn dắt khác nhau trong đó tôi nhận thấy việc dùng các câu hỏi thực tiễn
liên quan đến kiến thức chuẩn bị truyền thụ tới học sinh để gợi mở vấn đề là một
cách thức cần được áp dụng.
Ví dụ 1: Trong bài “Các nguyên tố hoá học và nước” để chuyển từ phần
cấu trúc và đặc tính lý hoá của nước sang phần vai trò của nước giáo viên có thể
đặt câu hỏi: “Em thử hình dung nếu trong vài ngày ta không được uống nước thì

nước và sức căng bề mặt nước.
Hoặc ở phần “Vai trò của nước với tế bào”: Giáo viên liên hệ đế thực tế ở
người bị sốt cao lâu ngày hay bị tiêu chảy cơ thể bị mất nhiều nước nên phải bù
lại lượng nước bị mất bằng cách uống dung dịch oresol theo chỉ dẫn.
Ví dụ 2: Đối với bài “Axit nuclêic”: Giáo viên có thể giúp học sinh liên
hệ đến biện pháp xét nghiệm ADN để xác định quan hệ huyết thống hoặc truy
tìm tội phạm…
4.1.4. Giải pháp 4: Dùng để củng cố kiến thức
Để khắc sâu kiến thức hoặc đánh giá được khả năng tiếp thu bài học cũng
như mức độ hiểu bài của học sinh tới đâu thì giáo viên thường dành một lượng
thời gian nhất định để “củng cố”, có thể là “củng cố” từng phần hoặc “củng cố”
toàn bài. Có rất nhiều cách khác nhau (sơ đồ phân nhánh, sơ đồ tư duy, câu hỏi
trắc nghiệm, trò chơi ô chữ…) giúp giáo viên làm được việc này, trong đó giải
pháp sử dụng các câu hỏi vận dụng kiến thức được học vào thực tế đời sống để
“củng cố” cho bài học là một giải pháp hay, lôi cuốn được sự tập trung suy nghĩ
7/15


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

của học sinh cho tới cuối tiết học, qua đó giáo viên sẽ khắc sâu được kiến thức
bài học đồng thời nắm bắt được khả năng nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên, không phải bài nào cũng có thể áp dụng tất cả các hình thức
nêu trên mà phải tuỳ từng bài, từng nội dung mà giáo viên có thể sử dụng từng
hình thức để từ đó có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời để hướng tới
được mục tiêu cao nhất là dạy học hình thành cho học sinh kĩ năng vận dụng
kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống thì giáo viên phải xác định rõ mục tiêu
bài học, phần nào thuộc kiến thức trọng tâm thì xây dựng cách dạy, cách học
phù hợp (ví dụ: thảo luận nhóm, hướng dẫn về nhà tự học...), để rút ngắn thời
gian, dành thời gian cho phần kiến thức thực tiễn từ đó làm tăng hứng thú học

tính lý hoá của nước”.
Dạy mục “Nước và vai trò của
Câu 7: Tại sao con nhện nước lại có thể
nước trong tế bào”, hoặc phần
đứng và chạy trên mặt nước?
liên hệ thực tế cuối bài cho học
8/15


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

sinh, từ đó giải thích các hiện
tượng thực tế trong cuộc sống
hàng ngày giúp học sinh yêu
thích môn học hơn.
Câu 8: Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các Dẫn dắt vào bài hoặc dạy phần
hành tinh trong vũ trụ các nhà khoa học trước vai trò của nước. Kích thích sự
hết lại tìm xem ở đó có nước hay không?
tò mò kiến thức cho HS.
Câu 9: Người ta cho chuối chín vào ngăn đá
của tủ lạnh để nó đông cứng lại, sau đó lấy ra
Củng cố phần cấu trúc và đặc
để tan đá thấy quả chuối mềm hơn rất nhiều
tính lý hoá của nước.
so với lúc chưa để vào tủ lạnh. Hãy giải
thích?
Sử dụng cho dạy mục “Nước và
Câu 10: Tại sao con tôm có thể sống được vai trò của nước trong tế bào”,
dưới lớp băng?
hoặc phần liên hệ thực tế cuối

nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh qua hệ thống câu hỏi sau:
Câu hỏi
Áp dụng để:
Câu 1: Trong đời sống hàng ngày các
Dạy phần Cacbohidrat.
loại thực phẩm nào chứa cacbohidrat?
Câu 2: Vì sao khi mệt hoặc đói uống
Dùng để dẫn dắt hoặc củng cố phần
nước đường, nước mía, nước hoa quả ta
vai trò của Cacbohidrat.
thấy khoẻ người hơn
Câu 3: Đường lưu thông trong máu là
Dạy phần cấu trúc của Cacbohidrat.
loại đường nào?
Câu 4: Tại sao người không tiêu hóa
được xenlulôzơ nhưng chúng ta cần phải Dạy phần Cacbohidrat.
ăn rau xanh hàng ngày?
Dạy mục “mỡ”, từ đó giáo dục thói
Câu 5: Tại sao người già không nên ăn
quen ăn uống hợp lí, khoa học cho
nhiều mỡ?
học sinh.
Câu 6: Tại sao về mùa lạnh, hanh khô Dạy phần Lipit, giúp HS ứng dụng
người ta thường bôi kem (sáp) chống nẻ? vào chăm sóc da mùa hanh khô.
Câu 7: Trong khẩu phần ăn những loại Dạy phần Lipit hoặc củng cố cuối
Lipit nào được cho là không tốt cho sức phần, giúp HS ứng dụng vào chăm
khoẻ con người?
sóc sức khỏe.
Câu 8: Tại sao trong điều kiện bình
Dùng khi dạy học phần lipit (cho HS

hoàn toàn mỡ động vật trong khẩu phần
hợp lí, khoa học cho học sinh.
ăn là quan điểm sai lầm?
Câu 15: Tại sao trẻ em không nên ăn
nhiều bánh kẹo?
Dạy mục “cacbonhydrat” của bài từ
Câu 16: Tại sao khi bị đói lả (hạ đường
đó giáo dục ý thức bảo vệ sức khỏe
huyết) người ta thường cho uống nước
cho học sinh.
đường thay vì cho ăn cơm cùng các loại
thức ăn khác?
4.2.3. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Protein”
Câu hỏi
Áp dụng để:
Câu 1: Trong đời sống hàng ngày các loại thực
Đặt vấn đề vào bài.
phẩm nào chứa prôtêin?
Câu 2: Tơ nhện, tơ tằm, sừng trâu, tóc, thịt gà và
thịt lợn đều được cấu tạo từ prôtêin nhưng chúng Dạy phần cấu trúc của
khác nhau về rất nhiều đặc tính. Dựa vào kiến prôtêin.
thức đã học, em hãy giải thích hiện tượng trên.
Câu 3: Vì sao khi nấu canh cua (giã nhỏ cua lọc Dạy phần cấu trúc của
lấy nước), ta thấy có hiện tượng đông tụ từng prôtêin hoặc để củng cố
mảng nổi trên mặt nước nồi canh?
cuối bài.
Dạy phần cấu trúc của
prôtêin hoặc để củng cố
Câu 4: Vì sao phải ăn prôtêin từ nhiều loại thức

4.2.4. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Axit nuclêic”
Đây là một bài rất quan trong trong chương trình Sinh học THPT được sử
dụng rất nhiều kiến thức cho phần “Cơ chế di truyền và biến dị” của Sinh học
12. Vì vậy, giáo viên cần làm rõ các kiến thức trọng tâm về cấu trúc và chức
năng của ADN và ARN. Mặt khác có thể nói, đây là một bài rất nặng về lý
thuyết, phần lớn thời gian của tiết học chúng ta dành để tìm hiểu cấu trúc và
chức năng của ADN và ARN, vì vậy phần dành cho kiến thức liên hệ thực tế rất
ít. Tuy nhiên, để bài học bớt sự khô khan nhàm chán, giáo viên có thể liên hệ
thực tiễn một số câu hỏi sau:
Câu 1: Dựa vào cơ sở khoa học nào mà người ta có thể xác định mối quan hệ
huyết thống giữa 2 người, xác định nhân thân các hài cốt hay truy tìm dấu vết
thủ phạm thông qua việc phân tích ADN?
Giải thích:
- Do ADN có tính đa dạng và đặc thù và có chức năng mang, bảo quản
và truyền đạt thông tin di truyền nên rất khó có trường hợp 2 người khác nhau
(không có quan hệ huyết thống) lại có cấu trúc ADN hoàn toàn giống nhau.
- Các nhà khoa học có thể dựa vào ADN để truy tìm thủ phạm, xác
định huyết thống, xác định nhân thân của các hài cốt... Ví dụ, người ta có thể
tách ADN từ một sợi tóc còn sót lại trên hiện trường vụ án rồi so sánh ADN này
với ADN của một loạt những người bị tình nghi, qua đó có thể biết được người
đó có liên quan đến vụ án hay không. Tương tự như vậy, người ta có thể xác
định một đứa bé có phải là con của người này hay người kia nhờ vào sự giống
nhau về ADN giữa con và bố.
Áp dụng: Dùng để dẫn dắt vào bài hoặc dạy về vai trò của ADN
Câu 2: Tại sao cũng chỉ có 4 loại nucleotit nhưng các sinh vật khác nhau lại có
những đặc điểm và kích thước khác nhau?
Giải thích: Tuy phân tử ADN chỉ được cấu tạo từ 4 loại nuclêôtit, nhưng
do thành phần và trình tự phân bố các nuclêôtit trên phân tử ADN khác nhau mà
12/15

Bình thường

Không hứng thú

10A1 – 41HS

22

16

3

10A4 – 42HS

20

18

4

10A2 –42HS
11
16
15
10A7 - 42HS
11
15
16
- Ở phần thi trắc nghiệm: Kết quả khảo sát khi cho học sinh thực hiện
kiểm tra trắc nghiệm khách quan thể hiện ở bảng sau:

10A7 - 42HS
2
14
22
4
0
So sánh kết quả trước và sau khi áp dụng đề tài ta thấy:
+ Đối với lớp 10A1 và 10A4 (lớp thực nghiệm), được thực nghiệm sử
dụng các câu hỏi thực tiễn để học tập và lĩnh hội kiến thức, làm cho học sinh
hứng thú học tập với môn Sinh hơn. Học sinh hiểu được kiến thức sâu sắc, bản
Đối chứng

13/15


Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội

chất hơn và đã vận dụng được các kiến thức thực tiễn vào cuộc sống. Vì vậy
chất lượng học tập của học sinh ở lớp 10A1; 10A4 cao hơn, tỉ lệ học sinh khá
giỏi tăng, tỉ lệ học sinh trung bình yếu giảm rõ rệt so với trước khi thực nghiệm
đề tài.
+ Còn ở lớp 10A2; 10A7 (lớp đối chứng) vẫn dạy theo cách cũ, kết quả về
sự hứng thú học tập và kết quả làm bài kiểm tra môn Sinh của học sinh không có
thay đổi mấy so với trước khi thực hiện đề tài.
+ Kết quả bài kiểm tra của lớp 10A1 và 10A4 cao hơn của lớp 10A2 và
10A7, cụ thể: Số lượng học sinh đạt điểm Khá giỏi cao hơn và số học sinh đạt
điểm yếu ít hơn. Khả năng trả lời các câu hỏi vận dụng thưc tiễn của học sinh
lớp 10A1 và lớp 10A4 tốt hơn, điều này là do các em lớp 10A1 và lớp 10A4 thấy
hứng thú hơn trong học tập nên phần tự học và ôn luyện cũng tốt hơn. Còn ở lớp
10A2; 10A7 không được dạy học tích hợp câu hỏi thực tiễn thì tỉ lệ học sinh yếu

thông có hiệu quả tôi đề nghị:
- Với tổ chuyên môn, đồng nghiệp:
+ Cùng tập hợp, tích lũy các tư liệu có liên quan để việc áp dụng các kiến
thức thực tiễn trở nên dễ dàng hơn.
+ Nên thường xuyên tổ chức nhiều chuyên đề về vấn đề chuyên môn
để giúp các đồng nghiệp trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cùng giúp nhau
trưởng thành.
- Với nhà trường, các tổ chức đoàn thể trong trường:
+ Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên như tài liệu, sách
tham khảo.
+ Tăng cường kiểm tra việc thực hiện nội dung đổi mới này trong môn
Sinh học cũng như các môn học khác bằng nhiều hình thức như: kiểm tra định
kỳ, hay các cuộc thi…
Trên đây, tôi đã trình bày sáng kiến: “Phát triển năng lực vận dụng kiến
thức cho học sinh qua các câu hỏi thực tiễn phần: “Thành phần hoá học của
tế bào” - sinh học 10, cơ bản”
Rất mong được sự ủng hộ, đóng góp của các đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là Sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Tác giả

Đỗ Thị Hương

15/15

3. Số liệu khảo sát trước khi thực nghiệm đề tài
5
4. Nội dung các giải pháp
6
4.1. Giải pháp về cách thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn
đời sống trong bài dạy nhằm phát triển NL vận dụng kiến thức cho HS
6
4.2. Giải pháp sử dụng hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống
cho các bài giảng phần “thành phần hoá học của tế bào”- Sinh học 10
8
4.3. Giáo án mẫu
13
5. Kết quả học tập của học sinh
13
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
14
1. Kết luận
14
2. Khuyến nghị
14


DANH MỤC VIẾT TẮT
HS ............................................................... Học sinh
GV .............................................................. Giáo viên
HĐ .............................................................. Hoạt động
SGK ........................................................... Sách giáo khoa
SGV............................................................ Sách giáo viên
KT ............................................................. Kiến thức
NL ..............................................................Năng lực

Câu 1: Tại sao cần thay đổi
cung cấp đầy đủ các nguyên tố vi lượng cho
món ăn sao cho đa dạng hơn là
cơ thể. Ngược lại nếu chỉ ăn một số ít món ăn
chỉ ăn một số ít món ăn yêu
yêu thích thì sẽ không cung cấp đủ các
thích cho dù là bổ?
nguyên tố vi lượng cho cơ thể.
Vì kẽm là một nguyên tố vi lượng rất cần
cho sự sinh trưởng của cây, một số vùng đất
Câu 2: Tại sao ở một số vùng bị thiếu kẽm nên trong quá trình trồng táo
trồng táo, người ta lại đóng các người ta đóng đinh kẽm vào cây táo để kẽm
đinh bằng kẽm vào thân cây?
từ đinh sẽ khuếch tán từ từ vào cây bổ sung
lượng kẽm bị thiếu hụt từ đất giúp cây sinh
trưởng bình thường.
Do khoảng trống giữa các phân tử nước đá
Câu 3: Tại sao nước đá nổi trên lớn hơn nước thường và ở nước đá có mật độ
nước thường?
phân tử ít hơn (thưa hơn) so với mật độ phân
tử nước thường vì vậy nước đá nổi trên nước
thường.
Mật độ phân tử nước ở trạng thái rắn thấp
Câu 4: Hậu quả gì có thể xảy ra hơn so với ở trạng thái lỏng và ở thể rắn thì
khi ta đưa các tế bào sống vào khoảng cách giữa các phân tử nước tăng lên.
ngăn đá của tủ lạnh?
Do vậy, khi đưa tế bào sống vào ngăn đá,
nước trong tế bào sẽ đóng băng làm tăng thể
tích và các tinh thể nước đá sẽ phá vỡ tế bào.
Do nước trong mồ hôi bay hơi phải lấy

Câu 10: Tại sao con tôm có thể
sống được dưới lớp băng?

phá vỡ cấu trúc tế bào. Làm cho rau, củ, quả
bị hư hại.
Các phân tử nước liên kết với nhau tạo nên
sức căng trên bề mặt. Khi nhện nước đứng
trên mặt nước, chân của chúng tạo thành chỗ
trũng, và sức căng mặt nước giữ cho chúng
nổi lên. Nước luôn tìm cách thu hẹp nhỏ nhất
bề mặt tiếp xúc với không khí, nghĩa là nó
hoạt động giống như tấm bạt lò xo, trũng
xuống và hỗ trợ cân nặng của sinh vật. Sức
căng mặt nước không những giữ cho nhện
nước nổi lên mà còn giúp chúng có thể đứng
và chạy trên mặt nước.
Vì trong tế bào và cơ thể, nước vừa là
thành phần cấu tạo chủ yếu vừa là dung môi
hòa tan nhiều chất cần thiết cho các hoạt động
sống của tế bào, đồng thời nước còn là môi
trường của các phản ứng sinh hóa (nhờ có
tính phân cực). Nếu không có nước, tế bào
không thể tiến hành chuyển hóa vật chất để
duy trì sự sống. Vì thế có nước là có sự sống.
Quả chuối khi chưa cho vào tủ lạnh, các tế
bào chưa bị vỡ nên liên kết với nhau tạo độ
cứng nhất định.
Khi đưa vào ngăn đá của tủ lạnh, nước
trong tế bào quả chuối đông thành đá → tế
bào bị vỡ → khi đá tan tế bào đã vỡ không

thường, oresol có tác dụng giúp cơ thể bù lại
lượng nước và những chất điện giải đã mất,
điều hòa hoạt động của cơ thể.
Do hơi nước trong không khí quanh cốc
nước đá có nhiệt độ cao hơn thành cốc→ bị
mất nhiệt khi tiếp xúc với thành cốc → hình
thành liên kết hidro giữa các phân tử nước
trên bề mặt cốc → tạo thành các giọt nước.
quan đến thực tiễn đời sống dùng cho bài

2. Đáp án các câu hỏi có liên
“cacbohidrat, lipit ”
Câu hỏi
Đáp án
Câu 1: Trong đời sống hàng
Thực phẩm có chứa cacbohidrat là đa số
ngày các loại thực phẩm nào
cây lương thực, nhiều loại rau, nhiều loại quả.
chứa cacbohidrat?
Câu 2: Vì sao khi mệt hoặc
đói uống nước đường, nước
Vì đường cung cấp trực tiếp nguồn năng
mía, nước hoa quả ta thấy lượng cho tế bào.
khoẻ người hơn.
Câu 3: Đường lưu thông
Đường lưu thông trong máu là đường đơn
trong máu là loại đường nào? (glucôzơ).
Người không tiêu hóa được xenlulôzơ
Câu 4: Tại sao người không
nhưng vẫn ăn rau xanh vì:

lớp mỡ rất dày?
Câu 10: Nếu ăn quá nhiều
đường thì có thể bị bệnh gì?
Câu 11: Tại sao ăn dầu tốt
hơn ăn mỡ?

- Khi lượng cholesterol cao trong máu sẽ bị
lắng đọng và tích lũy quá mức dễ hình thành
những mảng xơ vữa, gây bệnh xơ vữa động
mạch, gây tắc mạch dẫn đến nguy cơ huyết áp
cao, tim mạch và đột quỵ.
Kem (sáp) chống nẻ là một dạng lipit ở
trạng thái rắn trong điều kiện nhiệt độ bình
thường.
Do tính chất không tan trong nước, khi bôi
kem (sáp) chống nẻ lên bề mặt da tạo thành lớp
màng mỏng trên bề mặt tế bào giúp chống
thoát hơi nước, giữ cho da mềm mại.
- Các loại lipit không tốt cho sức khoẻ là:
Cholestrol, Chất béo no, Chất béo không no
dạng trans (có nhiều trong thức ăn nướng và
thức ăn chế biến sẵn)
- Giải thích: Sử dụng nhiều các loại lipit đó sẽ
gây xơ vữa động mạch, chúng tích luỹ nhiều
trong thành mạch máu, tạo nên những chỗ lồi
vào trong, cản trở dòng máu, giảm tính đàn hồi
của thành mạch.
- Dầu cấu tạo bởi các axit béo không no → sự
liên kết giữa các phân tử yếu và lỏng lẻo
hơn→ nhiệt độ nóng chảy cũng như nhiệt độ

yếu trong mỡ động vật, hơn nữa trong mỡ
động vật chứa rất nhiều colesteron, nếu ăn
nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên,
nếu loại bỏ hoàn toàn mỡ động vật ra khỏi
khẩu phần ăn thì sẽ làm cơ thể thiếu colesteron
và axit béo no, hai thành phần này có tác dụng
làm bền vững các mao mạch máu, bảo vệ tuần
hoàn của cơ thể, dự phòng tai biến mạch máu
não và các bệnh về tim mạch. Như vậy không


được loại bỏ hoàn toàn mỡ động vật ra khỏi
khẩu phần ăn để thay bằng dầu thực vật, vì
trong ăn uống cái gì quá nhiều cũng sẽ không
tốt cho sức khỏe. Theo nghiên cứu của các nhà
khoa học tỷ lệ hợp lí giữa dầu thực vật và mỡ
động vật trong khẩu phần ăn là 3:2.
Do bánh kẹo là loại thức ăn giàu năng
lượng (chứa nhiều đường) nhưng nghèo dinh
dưỡng, ăn nhiều bánh kẹo sẽ làm trẻ không
muốn ăn cơm vì có cảm giác “no giả” từ đó
Câu 15: Tại sao trẻ em không
dẫn đến trẻ bị béo phì nhưng lại suy dinh
nên ăn nhiều bánh kẹo?
dưỡng, tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và
làm khả năng hấp thụ canxi kém làm hạn chế
phát triển chiều cao, đồng thời dễ làm trẻ bị
sâu răng vì nhiều đường sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển.
Vì khi bị hạ đường huyết thì cơ thể cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status