SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT LƯU HOÀNG
----------------------------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC
SINH QUA CÁC CÂU HỎI THỰC TIỄN PHẦN “THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA TẾ BÀO” – SINH HỌC 10, CƠ BẢN”
Lĩnh vực/ Môn: Sinh học
Cấp học: THPT
Tác giả: Đỗ Thị Hương
Đơn vị công tác: Trường THPT Lưu Hoàng
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
NĂM HỌC 2019 – 2020
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà
Nội
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng. Nền
kinh tế trí thức có tính toàn cầu đã đặt ra cho ngành giáo dục một nhiệm vụ vô
cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải
giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo
dục, vừa mang tính hướng thiện khoa học.
Với bộ môn sinh học mà tính thực nghiệm được gắn liền với các bài giảng
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà
Nội
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho
học sinh
1.1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức (NLVDKT)
Theo Từ điển Tiếng việt, vận dụng là đem tri thức vận dụng vào thực
tiễn.
Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Vận dụng
kiến thức vào thực tiễn là quá trình đem tri thức áp dụng vào những hoạt động
của con người nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội”.
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “NLVDKT là khả năng
của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng
và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống,
những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến
đổi nó. NLVDKT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình
hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”.
Như vậy, NLVDKT vào thực tiễn dựa trên các định nghĩa này: NLVDKT
vào thực tiễn là khả năng chủ thể phát hiện được vấn đề thực tiễn, huy động
được các kiến thức liên quan hoặc tìm tòi, khám phá các kiến thức nhằm thực
hiện giải quyết các vấn đề thực tiễn đạt hiệu quả.
1.2. Những biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
- Có NL hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức sinh học, hiểu rõ đặc
điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức đó. Vận dụng kiến thức chính là
việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp để giải thích mỗi hiện tượng, tình
huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
1.4. Vì sao cần tích hợp các câu hỏi liên quan đến thực tiễn đời sống trong
các giờ dạy phần “Thành phần hoá học của tế bào” sinh học 10.
Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học sinh học gắn với thực tiễn bộ
môn theo hướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứng
dụng sinh học trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Nếu các kiến thức thực tiễn
được sử dụng theo đúng mục đích sẽ là nguồn HS khai thác, tìm tòi phát hiện
kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực
nhận thức và tư duy khoa học sinh học.
Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong
hoạt động dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học
sinh học ở trường phổ thông.
Đối với học sinh THPT Lưu Hoàng các em chưa có nhiều định hướng
nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ
học theo sở thích. Vì vậy, người giáo viên dạy sinh học phải biết nắm tâm lý và
đặc điểm lứa tuổi của học sinh. Bên cạnh đó, cần kết hợp phương pháp dạy học
bằng cách khai thác, ứng dụng các hiện tượng sinh học trong tự nhiên và trong
đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gần gũi với các em.
2. Thực trạng sử dụng kiến thức gắn với thực tiễn đời sống trong dạy học
sinh học
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới chương trình,
nội dung và phương pháp dạy học với mục tiêu giáo dục toàn diện, phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học của
học sinh. Tại nhiều trường, nhiều giáo viên đã và đang tích cực thực hiện đổi
3/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học mới như hoạt
thầy cô còn chưa đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, nội dung các bài thi
và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức
mà chưa có hoặc có rất ít câu hỏi mang tính vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
đây chính một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên. Vì vậy
việc lúng túng trước các câu hỏi, tình huống thực tiễn của học sinh là điều dễ
hiểu.
4/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
Nguyên nhân cuối cùng là yếu tố học sinh. Với các em học sinh lớp 10 thì
đa số các em chưa có định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập
các bộ môn chưa cao, học theo sở thích. Còn một số lượng nhỏ học sinh có định
hướng nghề nghiệp thì chủ yếu các em tập trung vào học các môn khối A, C, D
mà ít quan tâm đến khối thi có môn Sinh học. Mặt khác, vẫn còn nhiều học sinh
cho rằng “học là để thi, để lấy điểm”, nên các em không quan tâm đến việc vận
dụng kiến thức được học vào phục vụ đời sống thực tế.
Với những thực trạng đáng buồn trên trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm
cách để khắc phục vấn đề đó. Đây chính là động lực thúc đẩy tôi tiến hành đề tài
này.
3. Số liệu khảo sát trước khi thực nghiệm đề tài
Bằng hai hình thức khảo sát: Thứ nhất là, ra bài kiểm tra trắc nghiệm với
kiến thức HS đã học bằng phương pháp thông thường không tích hợp câu hỏi
liên hệ thực tiễn; Thứ hai là, phiếu khảo sát ý kiến HS khi học bằng phương
pháp thông thường không tích hợp câu hỏi liên hệ thực tiễn. Kết quả khảo sát
như sau:
Kết quả khảo sát ý kiến HS ở phiếu số 1:
Điểm
Hứng thú Bình thường Không hứng thú
15
16
Thực
10A1 – 41HS
nghiệm
7
13
20
10A4 – 42HS
16
16
Yếu
Kém
0
2
0
0
8
14
19
1
0
10A2 –42HS
3
15
sẽ thấy hứng thú và tò mò muốn tìm hiểu nội dung bài học.
GV tiếp tục dẫn dắt: “Vậy giải thích hiện tượng trên như thế nào cô và
các em sẽ cùng tìm câu trả lời qua bài học ngày hôm nay”.
Ví dụ 2: Đối với “Bài 5: prôtêin” giáo viên có thể gây sự chú ý cho học
sinh bằng câu hỏi: “Tại sao trâu và bò đều là động vật ăn cỏ nhưng thịt của
chúng lại có vị khác nhau?” Sau đó GV dẫn dắt vào bài.
Ví dụ 3: Để mở bài cho tiết học “Các nguyên tố hoá học và nước” giáo
viên đặt câu hỏi cho học sinh như sau: “Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các hành
tinh trong vũ trụ các nhà khoa học trước hết lại tìm xem ở đó có nước hay
không?” HS có thể trả lời theo nhiều cách khác nhau. Còn GV ngay lúc đó sẽ
không đưa ra đáp án đúng mà dẫn dắt vào bài, sau đó đến phần vai trò của nước
mới hướng dẫn HS trả lời.
4.1.2. Giải pháp 2: Dùng để dẫn dắt, chuyển sang mục khác trong bài học
Một trong những yếu tố làm cho bài giảng cuốn hút người nghe là do cách
dẫn dắt, chuyển ý để các nội dung bài học có sự logic, liền mạch. Có rất nhiều
cách dẫn dắt khác nhau trong đó tôi nhận thấy việc dùng các câu hỏi thực tiễn
liên quan đến kiến thức chuẩn bị truyền thụ tới học sinh để gợi mở vấn đề là một
cách thức cần được áp dụng.
Ví dụ 1: Trong bài “Các nguyên tố hoá học và nước” để chuyển từ phần
cấu trúc và đặc tính lý hoá của nước sang phần vai trò của nước giáo viên có thể
đặt câu hỏi: “Em thử hình dung nếu trong vài ngày ta không được uống nước thì
cơ thể sẽ như thế nào?”
HS có thể trả lời: Cơ thể thiếu nước, sẽ khô họng và dẫn đến chết.
6/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
GV: Vậy nước có vai trò như thế nào đối với cơ thể và tế bào, chúng ta sẽ
như mức độ hiểu bài của học sinh tới đâu thì giáo viên thường dành một lượng
thời gian nhất định để “củng cố”, có thể là “củng cố” từng phần hoặc “củng cố”
toàn bài. Có rất nhiều cách khác nhau (sơ đồ phân nhánh, sơ đồ tư duy, câu hỏi
trắc nghiệm, trò chơi ô chữ…) giúp giáo viên làm được việc này, trong đó giải
pháp sử dụng các câu hỏi vận dụng kiến thức được học vào thực tế đời sống để
“củng cố” cho bài học là một giải pháp hay, lôi cuốn được sự tập trung suy nghĩ
7/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà
Nội
của học sinh cho tới cuối tiết học, qua đó giáo viên sẽ khắc sâu được kiến thức
bài học đồng thời nắm bắt được khả năng nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên, không phải bài nào cũng có thể áp dụng tất cả các hình thức
nêu trên mà phải tuỳ từng bài, từng nội dung mà giáo viên có thể sử dụng từng
hình thức để từ đó có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời để hướng tới
được mục tiêu cao nhất là dạy học hình thành cho học sinh kĩ năng vận dụng
kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống thì giáo viên phải xác định rõ mục tiêu
bài học, phần nào thuộc kiến thức trọng tâm thì xây dựng cách dạy, cách học
phù hợp (ví dụ: thảo luận nhóm, hướng dẫn về nhà tự học...), để rút ngắn thời
gian, dành thời gian cho phần kiến thức thực tiễn từ đó làm tăng hứng thú học
tập của học sinh với môn học.
4.2. Giải pháp sử dụng hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống
cho các bài giảng phần “thành phần hoá học của tế bào”- Sinh học 10
4.2.1. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Các nguyên tố hoá học và nước”
Đối với bài này, không phải là một bài nặng về kiến thức lý thuyết, giáo
viên có thể lựa chọn cách tổ chức hoạt động dạy - học, song song giữa việc tìm
hiểu kiến thức lý thuyết đồng thời lồng ghép kiến thức thực tế vào bài học nhằm
Câu 6: Giải thích tại sao không nên để rau,
củ, quả trên ngăn đá của tủ lạnh?
Củng cố phần “cấu trúc và đặc
tính lý hoá của nước”.
Câu 7: Tại sao con nhện nước lại có thể
Dạy mục “Nước và vai trò của
nước trong tế bào”, hoặc phần
liên hệ thực tế cuối bài cho học
đứng và chạy trên mặt nước?
8/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
sinh, từ đó giải thích các hiện
tượng thực tế trong cuộc sống
hàng ngày giúp học sinh yêu
thích môn học hơn.
Câu 8: Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các
Dẫn dắt vào bài hoặc dạy phần
hành tinh trong vũ trụ các nhà khoa học trước vai trò của nước. Kích thích sự
hết lại tìm xem ở đó có nước hay không?
tò mò kiến thức cho HS.
Câu 9: Người ta cho chuối chín vào ngăn đá
của tủ lạnh để nó đông cứng lại, sau đó lấy ra
để tan đá thấy quả chuối mềm hơn rất nhiều
liên hệ thực tế cuối bài cho học
sinh, từ đó giải thích các hiện
tượng thực tế trong cuộc sống
hàng ngày giúp học sinh yêu
thích môn học hơn.
4.2.2. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Cacbohidrat, lipit”
Đây là một bài học về lý thuyết có rất nhiều nội dung kiến thức trọng tâm
cần phải làm rõ trong khi đó thời lượng dạy chỉ trong một tiết học, mặt khác nội
dung phần liên hệ thực tế của bài cũng rất nhiều. Vì vậy để có thể có nhiều thời
gian cho việc tích hợp kiến thức thực tiễn vào bài học nhằm hình thành kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh, thì phần kiến thức cơ bản giáo
viên có thể phát phiếu học tập dưới dạng cho học sinh so sánh 3 đại phân tử hữu
cơ: Cacbonhydrat, lipit, protein, đồng thời hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu
9/15
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
thêm (với thời lượng khoảng 25 phút), thời gian còn lại dành để liên hệ thực tế
nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh qua hệ thống câu hỏi sau:
Câu hỏi
Áp dụng để:
Câu 1: Trong đời sống hàng ngày các
Dạy phần Cacbohidrat.
loại thực phẩm nào chứa cacbohidrat?
Câu 2: Vì sao khi mệt hoặc đói uống
nước đường, nước mía, nước hoa quả ta
Dạy phần Lipit hoặc củng cố cuối
phần, giúp HS ứng dụng vào chăm
sóc sức khỏe.
Câu 8: Tại sao trong điều kiện bình
thường, mỡ để lâu bị đông lại còn dầu
không có hiện tượng này?
Câu 9: Vì sao các động vật ngủ đông như
gấu thường có lớp mỡ rất dày?
Dùng khi dạy học phần lipit (cho HS
khá giỏi).
Câu 10: Nếu ăn quá nhiều đường thì có
thể bị bệnh gì?
Dạy phần Cacbohidrat, giúp HS liên
hệ thực tiễn.
Câu 11: Tại sao ăn dầu tốt hơn ăn mỡ?
Dạy phần Lipit, giúp HS liên hệ thực
tiễn.
Câu 12: Làm thí nghiệm: Hòa 1 thìa
đường vào 1 cốc nước lọc. Hòa 1 thìa mỡ
hoặc dầu thực vật vào 1 cốc nước lọc.
Nhận xét hiện tượng và giải thích tại sao?
Dẫn dắt vào bài mới bằng tình huống
nhiều bánh kẹo?
Câu 16: Tại sao khi bị đói lả (hạ đường
huyết) người ta thường cho uống nước
đường thay vì cho ăn cơm cùng các loại
thức ăn khác?
hợp lí, khoa học cho học sinh.
Dạy mục “cacbonhydrat” của bài từ
đó giáo dục ý thức bảo vệ sức khỏe
cho học sinh.
4.2.3. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Protein”
Câu hỏi
Áp dụng để:
Câu 1: Trong đời sống hàng ngày các loại thực
Đặt vấn đề vào bài.
phẩm nào chứa prôtêin?
Câu 2: Tơ nhện, tơ tằm, sừng trâu, tóc, thịt gà và
thịt lợn đều được cấu tạo từ prôtêin nhưng chúng
khác nhau về rất nhiều đặc tính. Dựa vào kiến
thức đã học, em hãy giải thích hiện tượng trên.
Dạy phần cấu trúc của
prôtêin.
Câu 3: Vì sao khi nấu canh cua (giã nhỏ cua lọc
lấy nước), ta thấy có hiện tượng đông tụ từng
mảng nổi trên mặt nước nồi canh?
Câu 7: Tại sao khi ăn thịt, cá, người ta thường
11/15
Củng cố, liên hệ thực tế của
Đỗ Thị Hương – THPT Lưu Hoàng - Ứng Hòa – Hà Nội
chấm vào nước mắm giấm hoặc chanh thì thấy
ngon và dễ tiêu hóa hơn?
Câu 8: Tại sao một số vi sinh vật sống ở suối
nước nóng 100OC mà prôtein không bị biến tính?
bài từ đó giáo dục thói quen
ăn uống hợp lí, khoa học
cho HS.
Dạy mục “cấu trúc protein”
từ đó giải thích các hiện
tượng thực tế nhằm tăng
hứng thú học tập cho HS.
Đáp án các câu hỏi: (xem Phụ lục 1)
4.2.4. Các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống vận dụng cho bài
“Axit nuclêic”
Đây là một bài rất quan trong trong chương trình Sinh học THPT được sử
dụng rất nhiều kiến thức cho phần “Cơ chế di truyền và biến dị” của Sinh học
12. Vì vậy, giáo viên cần làm rõ các kiến thức trọng tâm về cấu trúc và chức
năng của ADN và ARN. Mặt khác có thể nói, đây là một bài rất nặng về lý
trạng rất đa dạng nhưng đặc thù ở các loài sinh vật khác nhau.
Áp dụng: Củng cố cuối bài axit nuclêic
4.3. Giáo án mẫu dùng phương pháp tích hợp câu hỏi liên hệ thực tiễn và
tích hợp các kiến thức liên môn để dạy bài 3 “Các nguyên tố hóa học và
nước”
- Việc tích hợp các kiến thức liên môn góp phần phát triển năng lực của
học sinh thông qua hệ thống các câu hỏi liên hệ thực tiễn được sử dụng linh hoạt
trong 1 tiết dạy.
- Giáo án bài 3: (xem Phụ lục 2)
5. Kết quả học tập của học sinh
Sáng kiến này được áp dụng trong học kỳ I năm học 2019 – 2020 trên đối
tượng học sinh các lớp 10A1; 10A2 đa phần là học sinh khá, 10A 4; 10A7 đa phần
là học sinh trung bình, yếu. Trong đó, lớp 10A 1; 10A4 áp dụng thực nghiệm theo
hướng dạy học tích hợp câu hỏi thực tiễn, còn lớp 10A 2; 10A7 không áp dụng
(đối chứng). Kết quả thể hiện qua 2 hình thức kiểm tra, đánh giá:
- Phiếu thăm dò ý kiến: 100% số HS được lấy phiếu thăm dò đều đã thể
hiện cảm nhận của mình. Kết quả như sau:
Ý kiến
Lớp
Thực
Hứng thú
Bình thường Không hứng thú
10A1 – 41HS
22
16
Thực
nghiệm
Điểm
10A1 – 41HS
10A4 – 42HS
Giỏi
Khá
17
12
16
18
Trung
bình
8
12
Yếu
0
0
Kém
0
0
thay đổi mấy so với trước khi thực hiện đề tài.
+ Kết quả bài kiểm tra của lớp 10A 1 và 10A4 cao hơn của lớp 10A2 và
10A7, cụ thể: Số lượng học sinh đạt điểm Khá giỏi cao hơn và số học sinh đạt
điểm yếu ít hơn. Khả năng trả lời các câu hỏi vận dụng thưc tiễn của học sinh
lớp 10A1 và lớp 10A4 tốt hơn, điều này là do các em lớp 10A1 và lớp 10A4 thấy
hứng thú hơn trong học tập nên phần tự học và ôn luyện cũng tốt hơn. Còn ở lớp
10A2; 10A7 không được dạy học tích hợp câu hỏi thực tiễn thì tỉ lệ học sinh yếu
vẫn còn nhiều.
Như vậy việc dạy học theo hướng tích hợp câu hỏi liên hệ thực tiễn đã
giúp học sinh có thể hiểu kiến thức Sinh học một cách sâu sắc hơn, khả năng
sáng tạo, năng lực vận dụng kiến thức vượt trội hơn và có cơ hội phát triển
các kỹ năng mềm trong cuộc sống một cách toàn diện hơn. Ngoài ra, các em
đã dần lấy lại hứng thú với môn học, đó cũng là kết quả lớn nhất của đề tài.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Như vậy, đổi mới dạy và học hiện nay là hướng tới phát triển năng lực cho
học sinh đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với kết quả rất
khả quan mà giải pháp mà đề tài mang lại nó đã có ảnh hưởng khá lớn đến thái
độ và nhận thức của học sinh về bộ môn sinh học, góp phần nâng cao chất lượng
của bộ môn sinh học nói riêng và chất lượng toàn diện của nhà trường nói
chung.
Đề tài có tính khả thi cao, do các kiến thức gắn với thực tiễn bộ môn
mang tính ứng dụng cao nên tạo cho học sinh cảm giác gần gũi, thoải mái hơn
trong giờ học, phát huy được tính sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh suy
nghĩ tích cực hơn, tăng khả năng tư duy của học sinh và rèn kỹ năng sống theo
một hệ thống logic.
2. Khuyến nghị
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học trong trường phổ thông đang
là vấn đề cấp thiết. Qua thực nghiệm tôi thấy rằng sử dụng các kiến thức thực
tế bào” - sinh học 10, cơ bản”
Rất mong được sự ủng hộ, đóng góp của các đồng
nghiệp! Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
15/15
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
2. Phạm vi, thời gian và đối tượng nghiên cứu
3. Mục đích của đề tài
Thứ tự trang
1
1
1
1
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của việc dạy học phát triển năng lực vận dụng
kiến thức cho học sinh
1.1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức
1.2. Những biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
1.3. Các nguyên tắc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức
cho học sinh trong dạy học sinh học
1.4. Vì sao cần tích hợp các câu hỏi liên quan đến thực tiễn đời sống
trong các giờ dạy phần “thành phần hoá học của tế bào” sinh học 10
DANH MỤC VI ẾT TẮT
HS ...............................................................Học sinh
GV ..............................................................Giáo viên
HĐ ..............................................................Hoạt động
SGK ...........................................................Sách giáo khoa
SGV............................................................Sách giáo viên
KT ............................................................. Kiến thức
NL ..............................................................Năng lực
NLVDKT..................................................Năng lực vận dụng kiế
THPT ........................................................Trung học phổ thông
n thức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Thị Thanh Hội - Nguyễn Thị Tuyết Mai (2017). Rèn luyện cho học sinh
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn dạy học sinh học 11.
2. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2006), Sinh học 10, NXB Giáo dục.
3. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2006), Sinh học 10- sách giáo viên,
NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Công Khanh - Đào Thị Oanh (2014). Kiểm tra và đánh giá trong
giáo dục, NXB Đại học Sư phạm.
5. Vũ Đức Lưu (chủ biên) (2004). Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi trung học
phổ thông môn sinh học, NXB Giáo dục.
6. Trần Ngọc Oanh (2006). Hỏi đáp sinh học, Nhà xuất bản Giáo dục.
7. Đinh Quang Báo (Chủ biên), Nguyễn Đức Thành (1998), Lí luận dạy học
cho sự sinh trưởng của cây, một số vùng đất
bị thiếu kẽm nên trong quá trình trồng táo
người ta đóng đinh kẽm vào cây táo để kẽm
từ đinh sẽ khuếch tán từ từ vào cây bổ sung
lượng kẽm bị thiếu hụt từ đất giúp cây sinh
trưởng bình thường.
Do khoảng trống giữa các phân tử nước đá
lớn hơn nước thường và ở nước đá có mật độ
phân tử ít hơn (thưa hơn) so với mật độ phân
tử nước thường vì vậy nước đá nổi trên nước
thường.
Mật độ phân tử nước ở trạng thái rắn thấp
Câu 4: Hậu quả gì có thể xảy ra hơn so với ở trạng thái lỏng và ở thể rắn thì
khi ta đưa các tế bào sống vào
khoảng cách giữa các phân tử nước tăng lên.
ngăn đá của tủ lạnh?
Do vậy, khi đưa tế bào sống vào ngăn đá,
nước trong tế bào sẽ đóng băng làm tăng thể
tích và các tinh thể nước đá sẽ phá vỡ tế bào.
Câu 5: Tại sao khi cơ thể đang
ra mồ hôi, nếu có gió thổi sẽ có
cảm giác mát hơn?
Câu 6: Giải thích tại sao không
nên để rau, củ, quả trên ngăn đá
của tủ lạnh?
Do nước trong mồ hôi bay hơi phải lấy
nhiệt của cơ thể giúp giảm bề mặt cơ thể. Có
gió sẽ giúp nước trong mồ hôi bay hơi nhanh
nước nổi lên mà còn giúp chúng có thể đứng
và chạy trên mặt nước.
Vì trong tế bào và cơ thể, nước vừa là
thành phần cấu tạo chủ yếu vừa là dung môi
hòa tan nhiều chất cần thiết cho các hoạt động
sống của tế bào, đồng thời nước còn là môi
trường của các phản ứng sinh hóa (nhờ có
tính phân cực). Nếu không có nước, tế bào
không thể tiến hành chuyển hóa vật chất để
duy trì sự sống. Vì thế có nước là có sự sống.
Câu 9: Người ta cho chuối chín
vào ngăn đá của tủ lạnh để nó
đông cứng lại, sau đó lấy ra để
tan đá thấy quả chuối mềm hơn
rất nhiều so với lúc chưa để vào
tủ lạnh. Hãy giải thích?
Quả chuối khi chưa cho vào tủ lạnh, các tế
bào chưa bị vỡ nên liên kết với nhau tạo độ
cứng nhất định.
Khi đưa vào ngăn đá của tủ lạnh, nước
trong tế bào quả chuối đông thành đá → tế
bào bị vỡ → khi đá tan tế bào đã vỡ không
còn liên kết với nhau như ban đầu nữa → quả
chuối sẽ mềm hơn.
Câu 10: Tại sao con tôm có thể
sống được dưới lớp băng?
mất nhiệt khi tiếp xúc với thành cốc → hình
thường có các giọt nước được
thành liên kết hidro giữa các phân tử nước
hình thành?
trên bề mặt cốc → tạo thành các giọt nước.
Câu 12: Tại sao trên bề
mặt
2. Đáp án các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho bài
“cacbohidrat, lipit ”
Câu hỏi
Đáp án
Câu 1: Trong đời sống hàng
Thực phẩm có chứa cacbohidrat là đa số
ngày các loại thực phẩm nào
cây lương thực, nhiều loại rau, nhiều loại quả.
chứa cacbohidrat?
Câu 2: Vì sao khi mệt hoặc
đói uống nước đường, nước
Vì đường cung cấp trực tiếp nguồn năng
mía, nước hoa quả ta thấy lượng cho tế bào.
khoẻ người hơn.
Câu 3: Đường lưu thông
trong máu là loại đường nào?
Đường lưu thông trong máu là đường đơn
(glucôzơ).
Câu 4: Tại sao người không
Kem (sáp) chống nẻ là một dạng lipit ở
trạng thái rắn trong điều kiện nhiệt độ bình
thường.
Do tính chất không tan trong nước, khi bôi
kem (sáp) chống nẻ lên bề mặt da tạo thành lớp
màng mỏng trên bề mặt tế bào giúp chống
thoát hơi nước, giữ cho da mềm mại.
- Các loại lipit không tốt cho sức khoẻ là:
Cholestrol, Chất béo no, Chất béo không no
Câu 7: Trong khẩu phần ăn
dạng trans (có nhiều trong thức ăn nướng và
những loại Lipit nào được cho thức ăn chế biến sẵn)
là không tốt cho sức khoẻ con - Giải thích: Sử dụng nhiều các loại lipit đó sẽ
người?
gây xơ vữa động mạch, chúng tích luỹ nhiều
trong thành mạch máu, tạo nên những chỗ lồi
vào trong, cản trở dòng máu, giảm tính đàn hồi
của thành mạch.
Câu 8: Tại sao trong điều
kiện bình thường, mỡ để lâu
bị đông lại còn dầu không có
hiện tượng này?
- Dầu cấu tạo bởi các axit béo không no → sự
liên kết giữa các phân tử yếu và lỏng lẻo
hơn→ nhiệt độ nóng chảy cũng như nhiệt độ
đông đặc của nó thấp hơn mỡ.
- Mỡ cấu tạo bởi các axit béo no → sự liên kết
càng nhiều, vì vậy sẽ thấy vị ngọt càng nhiều.
Vì dầu thực vật chứa nhiều axit béo không
no, cơ thể dễ tiêu hóa hơn axit béo no có chủ
yếu trong mỡ động vật, hơn nữa trong mỡ
Câu 14: Tại sao người ta lại
động vật chứa rất nhiều colesteron, nếu ăn
cho rằng: quan điểm sử dụng nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên,
dầu thực vật thay thế hoàn nếu loại bỏ hoàn toàn mỡ động vật ra khỏi
toàn mỡ động vật trong khẩu
khẩu phần ăn thì sẽ làm cơ thể thiếu colesteron
phần ăn là quan điểm sai lầm? và axit béo no, hai thành phần này có tác dụng
làm bền vững các mao mạch máu, bảo vệ tuần
hoàn của cơ thể, dự phòng tai biến mạch máu
não và các bệnh về tim mạch. Như vậy không