KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐLIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

CÙ THU HƯỜNG

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

CÙ THU HƯỜNG

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện
Mã số



MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................................3
1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy....................................3
1.1.1 . Tầm quan trọng của vệ sinh tay.......................................................................4
1.1.2. Nhiễm khuẩn bệnh viện....................................................................................7
1.2.Kiến thức, thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế....................9
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên y tế12
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................17
2.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................17
Các điều dưỡng, hộ sinh là nhân viên của khoa và trực tiếp chăm sóc người bệnh tại
4 khoa lâm sàng sau: Khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Sản nhiễm khuẩn, khoa
Sản bệnh lý và khoa Đẻ..................................................................................17
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn........................................................................................17
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ..........................................................................................17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.....................................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................17
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu........................................................................................17
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu......................................................................................18
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu.........................................................................18
2.3.4. Xử lý và phân tích số liệu...............................................................................20
2.3.5. Sai số và các biện pháp khắc phục.................................................................24
2.3.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu...................................................................24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................................26
3.1. Đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu....................................................26
Đa số điều dưỡng và hộ sinh sau khi tốt nghiệp đã được đào tạo về vệ sinh bàn tay
với tỷ lệ 96,3%;..............................................................................................28
3.2. Kiến thức về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh......................28
3.3. Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh.........................33

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế 13
Bảng 2.1. Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu 22
Bảng 3.1. .Phân bố tuổi, giới của điều dưỡng và hộ sinh 26
26
27
Bảng 3.2. Phân bố thực trạng đào tạo về VST của điều dưỡng và hộ sinh 28
Bảng 3.3. .Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức về 5 thời điểm vệ sinh tay thường
quy 28
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% điều dưỡng và hộ sinh đều có kiến thức đúng về 5
thời điểm vệ sinh tay thường quy. 28
Bảng 3.4. .Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức đúng về tác dụng của vệ sinh tay
thường quy 28
Bảng 3.5. Tỷ lệ kiến thức của điều dưỡng và hộ sinh về dung dịch vệ sinh tay phù hợp
nhất 30
Bảng 3.6. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi tiếp xúc với người bệnh 33
Bảng 3.7. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi làm thủ thuật vô khuẩn 33
Bảng 3.8. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với người bệnh 34
Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ VST sau khi tiếp xúc với người bệnh chiếm 82,6%.
34
Bảng 3.9. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 34
Bảng 3.10. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt xung quanh
người bệnh 34
Bảng 3.11. Tỷ lệ sử dụng phương thức vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh
36
Bảng 3.12. Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ đúng đủ các bước của quy trình vệ sinh
tay thường quy 36
92,7% điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ đúng đủ bước 1 và 78,0% điều dưỡng và hộ sinh
tuân thủ đúng đủ bước 2. Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh bỏ qua bước 5 là 9,2%, bỏ qua

1.3.Giới thiệu về Bệnh viện Phụ sản Trung ương 15
Hình 3.1: Phân bố trình độ chuyên môn của điều dưỡng và hộ sinh 26
Hình 3.2: Phân bố thâm niên công tác của điều dưỡng và hộ sinh 27
Hình 3.3: Phân bố điều dưỡng, hộ sinh theo đơn vị công tác của điều dưỡng và hộ sinh 27
Hình 3.4: Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh sắp xếp đúng thứ tự các bước trong quy trình vệ sinh
tay thường quy 30
Hình 3.5: Tỷ lệ phân loại kiến thức chung về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ
sinh 33
Hình 3.6: Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh 38
Hình 3.7: Phân bố thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh theo thời
điểm quan sát 39


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AH1N1

Cúm AH1N1

BVĐK

Bệnh viện đa khoa

CDC
ĐTNC

Trung tâm phòng ngừa kiểm soát bệnh Hoa Kỳ
Đối tượng nghiên cứu

ĐD,HS


Tuân thủ rửa tay

VST

Vệ sinh tay

VSBT

Vệ sinh bàn tay

VSTTQ

Vệ sinh tay thường quy

VSV

Vi sinh vật


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV)
là các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện và
không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
Có nhiều tác nhân gây NKBV như nấm, vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng [1].
NKBV là một trong những thách thức và mối quan tâm rất lớn tại Việt
Nam cũng như trên toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy NKBV làm tăng
tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều

thực hiện. Nếu bàn tay người điều dưỡng mà nhiễm khuẩn thì người bệnh sẽ
có nguy cơ cao mắc nhiễm khuẩn bệnh viện.
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về
lĩnh vực Sản phụ khoa. Bệnh viện là tuyến cao nhất có chức năng khám, cấp
cứu, điều trị và phòng bệnh, mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận hàng nghìn người
bệnh đến khám, điều trị và sinh con tại viện…Điều này đồng nghĩa với tần
suất chăm sóc và thăm khám đỡ đẻ của điều dưỡng, hộ sinh trên người bệnh
rất nhiều, vì vậy khi điều dưỡng, hộ sinh thực hành tốt VSTTQ sẽ làm giảm
nguy cơ NKBV. Bệnh viện đã và đang triển khai các chương trình VST theo
hướng dẫn của Bộ Y Tế. Tuy nhiên bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh
giá khảo sát về kiến thức và thực hành VST của điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh
viện. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến
thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến vệ sinh tay thường quy của
điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa, ,bệnh viện Phụ sản Trung ương” với 2
mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức và thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng,
hộ sinh tại 4 khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành vệ sinh
tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa được nghiên cứu.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy
- Bệnh viện: Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), bệnh viện là một
bộ phận của một tổ chức mang tính y học và xã hội, có chức năng đảm bảo
cho nhân dân được chăm sóc sức khỏe toàn diện cả về y tế, phòng bệnh và
chữa bệnh. Công tác điều trị ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận gia đình nằm

Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
NVYT hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm
sóc người bệnh, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu,
dịch tiết sinh học, dịch tiết của người bệnh. Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh
nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa
các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [1]. 5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay củaNVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- Vệ sinh tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật [1].

Trong một nghiên cứu được thực hiện trên 77 bàn tay của NVYT tại
bệnh viện Chợ Rẫy - TP. Hồ Chí Minh cho kết quả, trung bình có 267,378 vi
khuẩn/cm2 trong đó: Bàn tay bác sĩ có chứa 275,110 vi khuẩn/cm 2; bàn tay
điều dưỡng chứa 126,875 vi khuẩn/cm2[1].
Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT [9]:
+ Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm
nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt catherter lòng
mạch. Cần VST bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với
thời gian đủ dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này.
+ Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi
bàn tay bị nhiễm bẩn từ người bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi
trường bệnh viện trong qua trình chăm sóc và điều trị. Vi khuẩn vãng lai gồm


5

mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh
trùng) và là thủ phạm chính gây lên NKBV, có thể loại bỏ hầu hết các vi


vị tổ chức cho cán bộ, nhân viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng
dẫn mới và treo Quy trình VST bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để
NVYT thực hiện theo quy định [11]. Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông
tư 18/2009/TT - BYT: “Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các
cơ sở khám chữa bệnh”. Thông tư quy định: “Thầy thuốc, nhân viên y tế, học
sinh, sinh viên thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ VST đúng
chỉ định và đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y Ttế. Người bệnh và người
nhà người bệnh, khách đến thăm phải VST theo quy định và hướng dẫn của cơ
sở khám, chữa bệnh” [7].
Các thời điểm nhân viên y tế bắt buộc phải vệ sinh bàn tay bao gồm:
+ Trước khi tiếp xúc với người bệnh
+ Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
+ Sau khi tiếp xúc với người bệnh
+ Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh
Quy trình VSTTQ của NVYT với nước và xà phòng hoặc với dung dịch
sát khuẩn tay chứa cồn gồm 6 bước như hình vẽ sau:

Hình 1.1: Quy trình rửa tay thường quy


7

1.1.2. Nhiễm khuẩn bệnh viện
* Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện:
Theo TCYTTG, NKBV là “các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ
khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ
bệnh tại thời điểm nhập viện” [12].
* Tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện

chia làm hai loại khác nhau là lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp (trực tiếp
với các tác nhân gây bệnh) và lây qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung
gian truyền bệnh). Nhiễm khuẩn huyết cũng được coi là một dạng đặc biệt của
lây truyền qua tiếp xúc bởi các phương tiện dụng cụ có chứa vi khuẩn xâm
nhập vào đường máu.
* Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với người bệnh
cũng như các NVYT. Các hậu quả của NKBV bao gồm:
(a) Tăng chi phí và tăng ngày điều trị:
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội
năm 2008 cho biết, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4
đến 24,3 ngày và tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 đến 32,3 triệu đồng [15].
Đây là số tiền lớn so với mức thu nhập bình quân của người dân Việt Nam tại
thời điểm năm 2008 là 1024 USD, tương đương gần 16 triệu đồng [16].
Theo thống kê của CDC năm 2009, ước tính hàng năm Hoa Kỳ phải chi
một số tiền cho việc điều trị NKBV là từ 28 đến 48 tỷ đô la mỹ [17]. Nhiều
nghiên cứu tiến hành tại các bệnh viện ở Mỹ cho thấy, NKBV kéo dài thêm
thời gian nằm viện trung bình từ 7,4 đến 9,4 ngày [18].


9

(b) Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật
Nhiễm khuẩn bệnh viện không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm
sàng, kinh tế mà còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của VSV, làm
xuất hiện những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh là nguyên nhân dẫn đến
tử vong trong các bệnh viện. Tại Mỹ, tháng 10/2010, CDC công bố số người
chết do MRSA (tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin) đã vượt quá số người
chết do AIDS. Trong số các bệnh viện được khảo sát, MRSA được tìm thấy ở
176 người bệnh, chiếm 45%, trong đó 7,7% bị lây khi đang nằm viện. Tại

đúng, tỷ lệ có thái độ tích cực về VST là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm
NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với các nhóm khác. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ TTRT của NVYT tại thời
điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau chăm sóc đạt 72,5% [22].
Nghiên cứu của Khaled và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại
học Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức VST tốt hơn
bác sĩ nhưng các bác sĩ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%), tuy nhiên,
tỷ lệ VST đúng của họ chỉ là 11,6% [23].
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh
viện khu vực phía Bắc vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về VST
chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ NVYT có
nhận thức tốt về VST chỉ đạt 41,2% [16].
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư và cộng
sự thực hiện năm 2005 cho thấy: Trước can thiệp tỷ lệ tuân thủ VST của
NVYT chỉ đạt 6,3%. Sau 4 tháng tổ chức chiến dịch vận động NVYT tăng
cường VST, tỷ lệ TTRT đã tăng lên 65,7% [25].


11

Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà năm 2010 về kiến thức và thực
hành vệ sinh bàn tay tại một số bệnh viện ở Hưng Yên trên đối tượng bác sỹ,
điều dưỡng và kĩ thuật viên cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức của nhân viên y tế
là 35,9%, tỷ lệ tuân thủ rửa tay chung là 39% trong đó cao nhất là nhóm điều
dưỡng và nữ hộ sinh 10,9% (p
về kiến thức và thực hành về rửa tay thường quy của điều dưỡng - hộ sinh
BVĐK Tịnh Biên cho thấy 84,4% điều dưỡng - hộ sinh có kiến thức chung
đúng về VST. 73,3% điều dưỡng, hộ sinh thực hành chung đúng về VST [31].
Nghiên cứu củaNguyễn Thị Mai Hương (2017) tại bệnh viện Trung ương
Quân đội 108 cho thấy tỷ lệ học viên và nhân viên y tế bệnh viện có kiến thức
đúng về những nội dung cần vệ sinh tay đúng chiếm tỷ lệ khá cao (>95%).
Thực hành rửa tay của nhân viên y tế và người đi học còn rất hạn chế.
Thực hành vệ sinh tay khi tiếp xúc với người bệnh lần 1 của các đối tượng
nghiên cứu còn hạn chế (12,1 - 53,4%),thực hành vệ sinh tay trước khi thực
hiện thủ thuật sạch/vô khuẩn lần 1 (12,8 - 71,5%), thực hành vệ sinh tay khi
tiếp xúc dịch cơ thể lần 1 (6 - 58,3%) [36].
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên
y tế
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ VST ở NVYT gồm thiếu phương
tiện, thiếu kiến thức, thiếu NVYT (quá tải), lạm dụng găng, thiếu kiểm tra
giám sát và thiếu các biện pháp tạo dựng thói quen VST (Bảng 1.1).


13

Bảng 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế
Các yếu tố thu được qua giám sát trực tiếp:
- Bác sỹ: Tuân thủ kém hơn điều dưỡng.
- Hộ lý: Tuân thủ kém hơn điều dưỡng.
- Nam: Tuân thủ kém hơn nữ.
- Làm việc ở khu vực cấp cứu, hồi sức tích cực.
- Thời gian làm việc trong tuần (không phải ngày cuối tuần).
- Mang găng tay.
- Các thực hành chăm sóc có nguy cơ lây nhiễm cao.
- Khu vực chăm sóc đòi hỏi tần suất VST cao.

niệm vệ sinh tay. Tuy nhiên, chỉ có 73,3% ĐTNC cho rằng vệ sinh tay là biện
pháp quan trọng và đơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện.
20,8% các bác sỹ, điều dưỡng có kiến thức chưa đúng về thời gian thích hợp
để vệ sinh tay. Chỉ có 48,5% ĐTNC có kiến thức đúng về vị trí vi khuẩn được
tìm thấy nhiều nhất trên bàn tay.
Các điều dưỡng có tỷ lệ kiến thức đúng về vệ sinh tay thường quy, tác chính
nhân gây NKBV và thái độ đúng về 5 thời điểm vệ sinh tay cao hơn nhiều so với
bác sỹ (p 40 có kiến
thức chung đúng thấp nhất: 50%. Giới nam có kiến thức chung đúng 83,3%
tương đương với nữ 84,8% có kiến thức chung đúng. Trình độ cao đẳng, đại
học 100% có kiến thức chung đúng cao hơn trình độ trung học 81,6% có kiến
thức chung đúng.
Nhóm tuổi < 30 thực hành chung đúng là 72,7%. Nhóm tuổi từ 30 –
40 thực hành chung đúng là 73,1%. Nhóm tuổi > 40 thực hành chung đúng là
75%, các tỷ lệ là tương đương nhau. Giới nam thực hành chung đúng là
83.3% cao hơn nữ thực hành chung đúng là 69,7%. Trình độ cao đẳng, đại học
thực hành chung đúng chiếm 85,7% cao hơn trình độ trung học thực hành


15

chung đúng là 71,1%. Theo thống kê cho thấy tỷ lệ giữa các nhóm tuổi, giới
tính, trình độ có kiến thức chung đúng và thực hành chung đúng không có sự
khác biệt nhiều, và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 [31].


16

tiêu 1060 giường bệnh, với 1391 cán bộ công nhân viên chức và người lao
động trong đó có 228 bác sỹ, 648 điều dưỡng và hộ sinh còn lại là kỹ thuật
viên. Trong 14 khoa lâm sàng có các khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Sản nhiễm
khuẩn, khoa Sản bệnh lý là những nơi tập trung nhiều người bệnh nặng nhất
viện, hơn nữa người bệnh thường có bệnh lý kèm theo nên sức đề kháng của
người bệnh kém; khoa Đẻ là nơi tập trung các sản phụ đến sinh, hàng ngày số
lượng sản phụ vào sinh rất đông nên tần suất hoạt động của hộ sinh tại khoa
Đẻ nhiều nhất viện. Vì vậy nếu điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa trên không
tuân thủ rửa tay thường quy sẽ dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao, kéo dài
thời gian điều trị đặc biệt có thể gây tử vong cho người bệnh. Đây là đặc điểm
quan trọng để lựa chọn các khoa trên tham gia trong nghiên cứu này.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status