THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN TẠI
SGD NH ĐT&PTVN
2.1. KHÁI QUÁT VỀ SGD NH ĐT&PTVN
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của SGD
Gắn liền với sự ra đời và phát triển của Ngân hàng ĐT&PT VN là quá trình hình
thành và phát triển của SGD:
Ngày 26/04/1957,Ngân hàng ĐT&PT VN khai trương hoạt động với tên gọi là Ngân
hàng Kiến thiết Việt Nam, lúc này ngân hàng có nhiệm vụ chủ yếu là thanh toán và
quản lý vốn do nhà nước cấp cho kiến thiết cơ bản, mục đích là để thực hiện các kế
hoạch phát triển kinh tế- xã hội, hỗ trợ sự nghiệp bảo vệ tổ quốc.
Ngày 21/06/1981, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 259-CP, chuyển Ngân hàng
kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt
Nam. Theo đó, Ngân hàng có nhiệm vụ mới là thu hút và quản lý các nguồn vốn dành
cho đầu tư xây cơ bản, các công trình không do ngân sách cấp hoặc không đủ vốn tự có,
làm đại lý thanh toán và kiểm soát các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch hội đồng bộ trưởng ra quyết định thành lập Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Lúc này, ngân hàng có chức năng huy động vốn trung và
dài hạn ở trong và ngoài nước, đồng thời nhận vốn từ ngân sách nhà nước để cho vay
các dự án chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư. Kể từ ngày 1/1/1995, NH ĐT&PT VN hoạt
động với đầy đủ nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại.
SGD NH ĐT&PT VN được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 28/03/1991.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của SGD
Hiện nay, SGD có 14 phòng với tổng số cán bộ là 217. Các phòng của Sở giao dịch
gồm có:
Phòng tín dụng 1.
Phòng tín dụng 2.
Phòng tín dụng 3.
Phòng thanh toán quốc tế.
Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân.
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp.
Phòng tiền tệ kho quỹ.
doanh, có công nghệ tinh vi...vì vậy, với thực lực tài chính còn mỏng, công nghệ còn lạc
hậu, năng lực quản trị điều hành của các ngân hàng thương mại còn hạn chế.. thì chúng
ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh.
• Tiến trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước cũng như hệ thống tài chính ngân
hàng diễn ra chậm, nhiều ngành kinh tế gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập,
ngân sách nhà nước do các bộ ngành bố trì không kịp thời tiến độ đầu tư dẫn đến tình
trạng nợ tồn đọng, chiếm dụng vốn lẫn nhau của các doanh nghiệp.
• Một số cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm nên đôi lúc còn chưa đáp ứng được yêu cầu
của công việc.
Mặc dù có không ít khó khăn nhưng hoạt động của Sở vẫn đạt được kết quả rất tốt:
Năm 2003, SGD đã có những đóng góp đáng kể, góp phần tạo nên những sự kiện
quan trọng trong kết quả hoạt động của NH ĐT&PTVN:
Hoàn thành kế hoạch kinh doanh tổng tài sản đạt 95.000 tỷ, doanh số phục vụ đầu tư
phát triển đạt 28.000 tỷ đồng.
Hoàn thành giai đoạn đầu tư đề án cơ cấu lại - vốn điều lệ đạt 3.650 tỷ đồng.
100% đơn vị thành viên BIDV được cấp chứng chỉ ISO 9001.2000.
Thương hiệu BIDV đạt giải “Sao vàng đất Việt”.
Là thành viên chính thức của tổ chức thể quốc tế Visa international.
Triển khai thành công dự án hiện đại hóa Ngân hàng giai đoạn 1.
Năm 2004, ta thấy được kết quả hoạt động kinh doanh qua một số mặt sau:
2.1.3.1. Công tác huy động vốn
Hoạt động huy động vốn của SGD trong thời gian qua đạt kết quả tốt, SGD đã huy
động khách hàng gia hạn một lượng tiền gửi tương đối lớn như: quỹ hỗ trợ phát triển,
Bảo hiểm xã hội (BHXH)...huy động mới từ nhiều khách hàng như Công ty đầu tư và
phát triển khu đô thị Nam Thăng Long 150 tỷ...Các khách hàng mới trong khối doanh
nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) rất được chú ý, quan tâm ví dụ như công ty cổ
phần Hàm Rồng, công ty cổ phần may Hồ Gươm. Hoạt động này góp phần quan trọng
trong sự tăng trưởng nguồn vốn của SGD.
Trong năm 2004, nguồn huy động ngắn hạn là 3.849 tỷ đồng, trung và dài hạn là
5.275 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ tương ứng trong tổng nguồn là 42,2% và 57,8%. So với năm
• Để tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho các cán bộ, SGD đã không ngừng cải tiến,
nâng cấp các thiết bị kỹ thuật, hạ tầng công nghệ...
• Luôn phát động các cuộc thi đua như: phong trào phụ nữ đảm việc nhà, giỏi việc ngân
hàng; phong trào nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến cải tiến nâng cao hiệu suất công
tác; phong trào đền ơn đáp nghĩa... trong những dịp quan trọng như ngày quốc tế phụ
nữ, ngày thành lập ngành... nhờ đó đã tạo ra “mảnh đất” tốt cho các sáng kiến cải tiến,
sáng tạo nẩy nở, khơi dậy và phát huy nội lực của mỗi cá nhân và tập thể.
2.2. THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNN
TẠI SGD NHĐT&PT VN
2.2.1. Những quy định chung về hoạt động tín dụng trung và dài hạn
2.2.1.1. Nguyên tắc vay vốn
• Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: trong hoạt
động của ngân hàng luôn có những quy định của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn
không những cho ngân hàng mà còn cho nền kinh tế. Hoạt động của các ngân hàng sẽ
có mục đích và phạm vi riêng, mục đích đó thường được ghi trong các hợp đồng tín
dụng nhằm đảm bảo là ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và nó
không trái với cương lĩnh của ngân hàng.
• Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
2.2.1.2. Điều kiện vay vốn
• Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: mục đích này không trái với những quy định của
pháp luật và không trái với những điều đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với ngân
hàng.
• Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, hoạt động kinh doanh có
hiệu quả (có lãi), trường hợp bị lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo
trả nợ trong thời hạn cam kết.
• Có dự án, phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả; hoặc có
dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống kèm phương án trả nợ khả thi.
2.2.1.3. Lãi suất cho vay
• Lãi suất cho vay cụ thể do Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận: có thể áp dụng lãi suất
cho vay cố định trong suốt thời gian vay vốn hoặc lãi suất cho vay có điều chỉnh.
vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó SGD hoặc một tổ chức tín
dụng khác làm đầu mối thu xếp.
• Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành và hướng dẫn của Tổng Giám đốc.
Việc thẩm định dự án, phương án vay vốn, quyết định tham gia đồng tài trợ của ngân
hàng thực hiện theo quy chế này.
Các phương thức cho vay khác:
Ngoài các phương thức cho vay nêu trên, SGD cho khách hàng vay vốn theo các
phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với Quy chế cho vay của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng và đặc điểm của từng loại khách hàng vay.
2.2.1.5. Các biện pháp bảo đảm tiền vay
Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: