UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ HOÀNG VĂN THỤ
TIỂU LUẬN
Cuối khoá lớp trung cấp chính trị
Khoá III năm 2009 – 2010
Đề tài: Công tác vận động thanh niên phòng chống tệ nạn
xã hội ở xã Thái Bình – huyện Đình Lập – Tỉnh Lạng Sơn
Họ và tên: Bế Văn Hảo
Đơn vị công tác: Đảng uỷ xã Thái Bình
Giảng viên hướng dẫn: GV Phạm Anh Tuấn
Chức vụ: Phó Trưởng khoa dân vận
Đình lập, tháng 10 năm 2010
MỞ ĐẦU
Từ khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, đất nước ta
dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nước ta đã và đang tiến hành công cuộc đổi
mới. Sau 25 năm đổi mới với những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và
Nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của nước ta phát triển một cách mạnh
mẽ, vị trí của đất nước ngày càng được khẳng định với bạn bè trên thế giới, đời
sống của nhân dân ta ngày càng được nâng cao rõ rệt, an ninh quốc phòng và trật tự
an toàn xã hội luôn được giữ vững.
Bên cạnh những thành quả những mặt đã đạt được, những mặt trái của kinh
tế thị trường đã tác động bằng nhiều cách đến đời sống xã hội, gây nguy hại không
nhỏ đến nếp sống, thuần phong mỹ tục, làm băng hoại đạo đức, phẩm chất của con
người. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong những năm qua
tệ nạn xã hội, tội phạm của nước ta nói chung, địa phương nói riêng diễn biến phức
tạp. Những tệ nạn xã hội và tệ nạn tội phạm này đang là vấn đề nóng bỏng, nó ảnh
hưởng sâu đến đời sống an toàn của xã hội, vi phạm pháp luật, đạo đức phong tục
tập quán tốt đẹp của dân tộc. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh mặc dù có
nhiều cố gắng ngăn chặn, song các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, nhất là tệ
nạn nghiện hút, cờ bạc, mại dâm, trộm cắp, tham nhũng, nhất là tệ nạn nghiện hút,
chẽ… nên chúng đang lan nhanh và diễn biến phức tạp.
Vậy tệ nạn xã hội chính là những biểu hiện cảu sai lệch xã hội, những hiện
tượng tiêu cực xuất hiện song song với sự phát triển của xã hội loài người, trái với
pháp luật và các chuẩn mực đạo đức của xã hội, làm cho xã hội ngày càng tồi tệ
hơn. Những tệ nạn này ngày càng gia tăng và kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Một vấn đề đáng lo ngại là những tệ nạn xã hội này thường tấn công trực
diện vào tầng lớp thanh niên, tầng lớp dễ thâm nhập bởi các luồng văn hóa đó, do
sự hứng khởi với những cái mới với nhận thức chưa có chọn lọc, chưa phù hợp với
thuần phong mỹ tục của một bộ phận thanh niên, tạo ra một nếp sống sa đoạ, chỉ
biết ăn chơi hưởng thụ mà quên đi nghĩa vụ là học tập, sự hăng hái lao động và
nhiệt huyết, sự cầu tiến cống hiến cho xã hội, cho nhân loại, làm huỷ hoại cả một
thế hệ nắm trong tay tương lai của đất nước. Không chỉ dừng lại ở đó, các tệ nạn xã
hội này đã làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội như: buôn gian bán lận, bạo lực
xã hội suy thoái đạo đức, tệ nạn lây nhiễm HIV/AIDS… mà gánh nặng này buộc
chủ nhân của nó phải giải quyết nếu muốn xã hội ấy tốt đẹp và đi đúng hướng của
những nhà quản lý xã hội mong muốn.
Vậy phải làm gì để tìm ra những giải pháp tốt nhất và tiến tới chấm dứt tình
trạng đáng lo ngại này? Đó là câu hỏi được đặt ra không chỉ đối với thanh niên, mà
cả xã hội cùng chia sẻ và quan tâm. Để tìm ra những tiếng nói chung nhất nhằm
xây lên nét sống đẹp, sống có ích cho xã hội.
Qua khóa học Trung cấp Lý luận Chính trị trong đó có bộ môn "Dân vận"
đã giúp bản thân tôi hiểu rõ về những quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng về
công tác vận động quần chúng trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, trong đó có bài
công tác vận động thanh niên, tổ chức và hoạt động của Đoàn thanh niên ở cơ sở để
thực hiện được nhiệm vụ đã đặt ra. Với cương vị công tác là một Bí thư Đoàn
Thanh niên cơ sở xã Thái Bình, với nhận thức của mình, tôi chọn đề tài này nhằm
mục đích làm rõ hơn về thực trạng, vấn đề, nguyên nhân và các giải pháp cho
"Công tác vận động Thanh niên tham gia phòng chống tệ nạn xã hội tại xã Thái
Bình - huyện Đình Lập - tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay". Do điều kiện
có hạn nên trong phạm vi viết Tiểu luận này, tôi tìm hiểu và nghiên cứu về tệ nạn
về vận động thanh niên mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho công tác thanh niên và
phong trào thanh niên với những lý luận khoa học cách mạng hết sức sâu sắc được
Đảng ta luôn vận dụng phát triển một cách sáng tạo qua từng thời kỳ cách mạng.
Hồ Chủ tịch còn khẳng định "Thanh niên là bộ phận quan trọng của dân tộc".
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng ta luôn tổ chức nghiên cứu thực tiễn để nhìn
nhận, đánh giá tiềm năng, vai trò, vị trí của thanh niên một cách khách quan, khoa
học để từ đó luôn đặt niềm tin vững chắc vào thanh niên lớp người đã được Đảng
và chế độ đào tạo, bồi dưỡng lâu dài với mặt mạnh cơ bản và trình độ học vấn cao.
Tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thời cuộc sẽ nhanh chóng thực hiện được các mục
tiêu của Đảng và Nhà nước nói chung là vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội nói
4
riêng. Để cho các tệ nạn xã hội không thâm nhập sâu vào tầng lớp thanh niên và lấy
thanh niên làm lực lượng nòng cốt trong việc ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội
ra khỏi đời sống, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công tác vận động thanh niên tham
gia phòng chống các tệ nạn xã hội với việc nâng cao tưng tưởng cho thanh niên để
ngăn chặn những tệ nạn nảy sinh, tạo cho thanh niên một đời sống văn hóa lành
mạnh, tạo cho họ những thu nhập và việc làm ổn định mà từ đó cống hiến sức mình
cho đất nước mà tiêu biểu là các chiến dịch "Mùa hè xanh tình nguyện" hay
phong trào "Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên".
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thanh niên.
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về việc tăng cường công tác thanh niên,
đặc biệt là giáo dục lý tưởng cách mạng nhằm "Hình thành một lớp thanh niên
nam, nữ ưu tú vững vàng và chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa"
"Có lý tưởng cao đẹp". Sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh
thần quốc tế chân chính, biết để nuôi dưỡng hòa bão lớn, tự cường dân tộc, theo tư
tưởng chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ là đòi hỏi và nhiệm vụ đặt ra rất cần thiết và cấp
bách.
Nhận thức được vấn đề nêu trên, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công tác đấu
tranh phòng, chống tệ nạn xã hội là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của mọi cấp,
mọi ngành và khẳng định rằng đây là trách nhiệm của toàn xã hội. Nghị quyết 04
núi, mật độ dân cư sống thưa thớt và dải rác, trong đó diện tích đất nông nghiệp là:
5.026 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là: 7.500 ha, đất chưa sử dụng là: 2.218 ha.
2. Điều kiện xã hội.
Xã có 01 Trường Mầm non, 02 Trường Tiểu học và 01 Trường Phổ thông cơ
sở, có 01 Trạm Y tế xã, 4/9 thôn bản đã được bê tông hóa đường giao thông nông
thôn, xã có 9 thôn bản với 460 hộ = 2.152 nhân khẩu, xã gồm có 4 dân tộc: Kinh,
Tày, Nùng, Dao cùng chung sống lâu đời, có nhiều đặc điểm giống nhau về phong
tục tập quán. Trong đó số nhân khẩu sản xuất nông nghiệp là 1.572 người, số hộ
nông nghiệp là 437 hộ, số hộ phi nông nghiệp 25 hộ = 87 người. Mật độ dân số là
102 người/km
2
. Tỉ lệ tăng dân số là 0,83%.
Lao động việc làm toàn xã có 1.437 người chiếm 68,44% dân số. Nhân dân
chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, mật số ít sống bằng nghề buôn bán nhỏ lẻ, sơ
chế biến chè khô như ở Thôn Bình Thái, Thôn Khe Cháy, số lao động chính của
toàn xã là: 1.020 đối với lao động nông nghiệp làm theo thời vụ, sau thời vụ chuyển
sang làm thuê, chăm sóc đồi chè, đồi thông, keo hoặc cây ăn quả. Còn một số hộ
chủ yếu có việc làm, một số hộ đã xác định làm kinh tế vườn rừng, kết hợp với
chăn nuôi gia súc, gia cầm và trở thành hộ sống bằng nghề lâm nghiệp, trồng rừng
nguyên liệu giấy, trồng cây ăn quả tạo thêm công ăn việc làm để tăng thêm thu
nhập nâng cao đời sống.
Toàn Đảng bộ xã Thái Bình có 77 đảng viên sinh hoạt ở 13 Chi bộ, các đoàn
thể như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội
Nông dân được thành lập ở các thôn bản trong toàn xã. Đảng bộ, Chính quyền và
các đoàn thể nhiều năm đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh.
Thu nhập bình quân đầu năm 2005 là 180.000đ/người; Năm 2006 là
200.000đ/người; Năm 2007 là 270.000đ/người; Năm 2008 là 350.000đ/người; Năm
2009 là 400.000đ/người.
6
Tỷ lệ người lao động chưa qua đào tạo còn ở mức cao trong độ tuổi thanh
Một số ít thanh niên chưa quan tâm đến các vấn đề xã hội, trình độ văn hóa
thấp, thích ăn chới đua đòi, thiếu việc làm, bàng quan trước cuộc sống, thiếu sự
quan tâm của gia đình, nên đã sa ngã vào sự cám dỗ của “cái chết trắng” trượt dài
trên con đường tội lỗi.
Là một xã miền núi thuộc vùng III, kinh tế chưa phát triển, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân chưa được cao, trình độ dân trí chưa đồng đều còn ở
mức thấp, sống còn dải rác ở các rừng núi không tập chung, còn nhiều hộ nghèo
đói, đặc biệt là ở các Thôn: Khe Đa II, Bình Thái, Bản Piềng nạn trộm cắp trâu, bò,
7