ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ
******************************
BÙI THỊ THU TRANG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG THANH NIÊN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Hồng
HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 4
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .................................................................. 6
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………7
3.1. Mục đích .............................................................................................. 7
3.2. Nhiệm vụ ............................................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 8
4.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................... 8
4.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 8
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ........................... 8
1.3.5. Công tác tổ chức các phong trào cách mạng của thanh niên và xây dựng
Đoàn vững mạnh ........................................................................................... 56
Tiểu kết chương 1:...................................................................................... 64
Chương 2: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG THANH NIÊN CỦA ĐẢNG
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 ............................................................................ 65
2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về công tác vận động thanh
niên giai đoạn 2006 - 2010 ........................................................................ 65
2.1.1. Bối cảnh lịch sử ................................................................................... 65
2.1.2. Chủ trương của Đảng về công tác vận động thanh niên giai đoạn
2006 - 2010 ……………………………………………………...………..71
2.2. Quá trình chỉ đạo công tác vận động thanh niên của Đảng giai đoạn
2006 - 2010 ............................................................................................... 80
2.2.1. Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức, lý tưởng, truyền thống
cách mạng cho thanh niên ............................................................................. 80
2.2.2. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh để cho thanh niên phát triển
toàn diện ........................................................................................................ 82
2
2.2.3. Công tác giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm, bồi dưỡng, phát huy tài
năng trẻ, nâng cao thu nhập cho thanh niên ................................................... 87
2.2.4. Công tác quản lý Nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên ....... 94
2.2.5. Công tác tổ chức các phong trào hành động cách mạng của thanh niên
và xây dựng Đoàn vững mạnh....................................................................... 96
Tiểu kết chương 2 ..................................................................................... 103
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ........................ 105
3.1. Một số nhận xét ................................................................................ 105
3.1.1. Ưu điểm ............................................................................................. 105
3.1.2. Hạn chế .............................................................................................. 107
Liên tục, trong suốt 80 năm qua, đặc biệt là mấy chục năm gần đây, Đảng
ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về công tác thanh niên. Gần đây nhất,
trong nhiệm kỳ Đại hội VII, đã có Nghị quyết 4, trong nhiệm kỳ Đại hội IX có
4
Nghị quyết 25 bàn sâu về thanh niên, công tác thanh niên tạo ra một bƣớc
chuyển biến quan trọng trong công tác thanh niên của Đảng ta trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công tác vận động thanh niên nói riêng.
Các Nghị quyết về thanh niên của Đảng là sự tiếp tục suy nghĩ, đánh giá cao của
Đảng ta về trọng trách của thanh niên, tầm quan trọng của bản thân công tác
thanh niên.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc vào năm 1986; đặc biệt là
từ khi bƣớc vào thế kỷ XXI thanh niên của nƣớc ta có nhiều chuyển biến, tiếp
tục phát triển về số lƣợng, năng lực sáng tạo, trình độ học vấn có bƣớc trƣởng
thành mới. Thanh niên tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp
chung của đất nƣớc. Những ƣu điểm này phải tiếp tục phát huy để đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và theo
đó, công tác vận động thanh niên của Đảng cũng phải đƣợc đổi mới và nâng
cao chất lƣợng. Mặt khác, bƣớc vào thời kỳ phát triển kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, bƣớc vào thời kỳ hội nhập trực tiếp, ngày càng sâu
rộng về kinh tế, về giao lƣu, hợp tác quốc tế trên rất nhiều lĩnh vực, bên cạnh
mặt tích cực là chính, thì mặt tiêu cực của kinh tế thị trƣờng, của toàn cầu hoá
cũng tác động vào thanh niên nhanh nhất, nhiều nhất, với tƣ cách nhƣ là bộ
phận nhạy cảm nhất trong cộng đồng dân tộc. Đặc biệt, trong tình hình đất
nƣớc có sự chuyển biến mạnh mẽ nhƣ hiện nay, những diễn biến phức tạp của
cuộc sống đã tác động đến tƣ tƣởng, tình cảm của thanh niên, đặt thanh niên
trƣớc những thử thách mới. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tập trung tác
động diễn biến hoà bình nhiều mặt, nhiều phƣơng diện đối với thanh niên.
Cho nên, về mặt tƣ tƣởng, tình cảm, nhận thức, hoạt động xã hội, bên cạnh
niên: Tổng quan tình hình sinh viên và công tác Hội Sinh viên và nhiều đề tài
khoa học, chuyên đề khoa học về thanh niên, phong trào thanh niên… Năm
6
2009, Viện nghiên cứu thanh niên có chuyên đề khoa học: Vai trò lãnh đạo
của Đảng trong việc định hướng các phong trào thanh niên. Công trình
nghiên cứu đƣợc in thành sách: "Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác vận
động thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước" (2001), Nxb Chính trị quốc gia, do tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng, Ban Dân
vận Trung ƣơng, làm chủ biên; Hồ Chí Minh (2003), Về giáo dục và tổ chức
thanh niên, Nxb. Thanh niên, Hà Nội; Đặng Cảnh Khanh - Nguyễn Hồng
Thanh (1997), Tập hợp đoàn kết thanh niên thông qua phong trào hành động
cách mạng trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số bài viết, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo
Đảng và Nhà nƣớc, một số đề tài nghiên cứu có liên quan, nhƣ “Đổi mới nhận
thức và tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ đối với thanh niên và công tác
thanh niên" (1999), Phạm Gia Cƣ, Tạp chí Tƣ tƣởng Văn hoá, (7); Tăng
cường sự lãnh đạo đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước (2008), Phùng Hữu Phú, Báo Điện tử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi định hƣớng nghiên
cứu và cung cấp những kiến thức cần thiết trong quá trình thực hiện đề tài.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm rõ chủ trƣơng và các biện pháp chỉ đạo thực hiện công tác vận
động thanh niên của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010;
qua đó khẳng định thành tựu, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm
trong công tác vận động thanh niên của Đảng.
- Luận văn khai thác chủ yếu nguồn tƣ liệu từ các Văn kiện, Nghị quyết
Đại hội Đảng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng, Hội nghị Bộ Chính trị,
Ban Bí thƣ, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, Đảng Đoàn Quốc Hội và các tác
phẩm, các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc; kế
thừa có chọn lọc công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến
công tác vận động thanh niên; những tài liệu báo cáo tổng kết thực tiễn công
tác Đoàn, Hội và phong trào thanh niên…
- Luận văn kết hợp phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp lôgích, kết hợp
tổng hợp, phân tích, so sánh để dựng lại quá trình vận động thanh niên từ năm
2001 đến 2010 của Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Tái hiện những nét chính yếu quá trình lãnh đạo thực hiện công tác
vận động thanh niên của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010.
- Góp phần tổng kết công tác vận động thanh niên từ năm 2001 đến năm 2010.
- Bƣớc đầu rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất cho công tác vận động
thanh niên trong giai đoạn hiện nay của Đảng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,
nội dung luận văn gồm 3 chƣơng, 7 tiết.
Chƣơng 1: Công tác vận động thanh niên của Đảng giai đoạn 2001 - 2006.
Chƣơng 2: Công tác vận động thanh niên của Đảng giai đoạn 2006 - 2010.
Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm.
9
Chương 1
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG THANH NIÊN CỦA ĐẢNG
niên của Đảng nhằm đưa thanh niên vào những hành động cách mạng, trở
thành đội quân xung kích cách mạng, đội dự bị tin cậy của Đảng, kế thừa
trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Những luận điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề thanh
niên và công tác thanh niên.
Thanh niên và công tác thanh niên là một trong những tƣ tƣởng quan
trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin; có thể khái quát trên 3 luận điểm sau:
Một là, Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rõ vị trí, vai trò to lớn của
tầng lớp thanh niên trong xã hội; xác định cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, sự nghiệp của thanh niên.
Cuối thế kỷ XIX, trong bối cảnh của xã hội tƣ bản, C.Mác cho rằng,
cần phải giải thoát cho thanh, thiếu niên khỏi sự tác động có tính chất phá
hoại của hệ thống hiện đại. Chính Mác đã gọi thanh niên là cội nguồn sự sống
của dân tộc và giai cấp công nhân là bộ xƣơng của mỗi cơ thể dân tộc.
Ăngghen nhấn mạnh rằng: thanh niên không bao giờ thỏa mãn với lý tƣởng
trƣớc đây, họ muốn đƣợc tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập chiến
công và vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời mình. Thanh niên sẽ
có đủ sức lực và tài năng để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong
đời sống đất nƣớc.
11
Ăngghen là ngƣời đầu tiên đƣa ra các quan niệm nhƣ: “đội quân xung
kích quyết định của đạo quân vô sản quốc tế”, “đội hậu bị của Đảng” để gắn
với thanh niên. Vào năm 1853, khi “Đảng của Mác” đã khẳng định vị trí của
mình trên vũ đài lịch sử, trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại những đạo
luật đặc biệt của Bítxmác, Ăngghen đã viết “chính thế hệ trẻ sẽ là nguồn bổ
sung dồi dào nhất cho Đảng”. Luận thuyết của Mác-Ăngghen cũng khẳng
họ đối với cách mạng, ngay từ thuở thiếu thời. Cuộc đấu tranh để giành giật
thanh niên không chỉ diễn ra gay gắt giữa giai cấp vô sản với giai cấp tƣ sản,
giữa Đảng Cộng sản với các thế lực phản động, mà còn diễn ra giữa những
ngƣời cộng sản chân chính và bọn cơ hội chủ nghĩa trong phong trào công nhân.
Hai là, Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt ra cho Đảng Cộng sản cần quan tâm,
chăm sóc, giáo dục, đào tạo thanh niên thông qua sự nghiệp đấu tranh cách
mạng của Đảng, thông qua lao động, sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu
và trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân; đấu tranh chống chủ
nghĩa cơ hội trong vấn đề thanh niên.
Khi nói về vai trò giáo dục của thanh niên, Mác đã nhấn mạnh: “Công
tác giáo dục sẽ làm cho những ngƣời trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh
chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn”[60, tr. 475]. Tƣ tƣởng của
Mác là phải tổ chức giáo dục các tầng lớp thanh niên để họ nắm vững kỹ
năng, kỹ xảo, quy trình quản lý sản xuất, sẽ hỗ trợ cho việc phát triển toàn
diện những năng lực của tất cả các thành viên của xã hội đƣợc xây dựng trên
cơ sở những nguyên lý cộng sản chủ nghĩa. Việc giáo dục đó phải làm thƣờng
xuyên, liên tục, giáo dục ở trƣờng, lớp và giáo dục trong thực tế lao động.
Ăngghen đã nêu rõ rằng: thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, chính
hiện thực cuộc sống đã, đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị.
Ngay khi mới 19-20 tuổi, trong các thƣ gửi cho bạn bè, Ăngghen đã chế nhạo
cái nguyện vọng của những chàng trai, cô gái muốn sống bình lặng, muốn
13
“giam mình trong vƣơng quốc của điền viên”, với thái độ “mũ ni che tai”,
bàng quan trƣớc thời cuộc. Vào năm 1845, Ăngghen đã viết rằng, chính thanh
niên Đức đòi hỏi phải thực hiện cuộc cách mạng trong tƣơng lai ở nƣớc này.
Nguyên tắc của giáo dục thế hệ trẻ là gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp học và
hành. Việc hình thành thế giới quan khoa học cho thanh niên thông qua sự
thanh niên, thực hiện lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản.
Trong bài diễn văn tại Đại hội III của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga,
Lênin đã chỉ rõ: “thanh niên phải học chủ nghĩa cộng sản trong một trƣờng
học riêng của mình, trong một tổ chức độc lập – đó là Đoàn Thanh niên cộng
sản”. Lênin viết: “Chỉ khi nào Đoàn Thanh niên cộng sản gắn liền từng bƣớc
học tập, huấn luyện và giáo dục của mình với cuộc đấu tranh chung của tất cả
những ngƣời lao động chống lại bóc lột, thì lúc đó mới xứng đáng với danh
hiệu là đoàn thể của thế hệ trẻ cộng sản chủ nghĩa”[43, tr. 360-363]. Nói
chuyện với đoàn viên thanh niên cộng sản, Lênin yêu cầu, cần giáo dục thanh
niên thông qua thực tế trong hoạt động sản xuất, trong học tập, công tác,
chiến đấu và trong cuộc sống sinh động của quần chúng. Ngƣời nhấn mạnh:
“Trƣớc mắt các đồng chí là nhiệm vụ xây dựng và các đồng chí có thể làm
tròn nhiệm vụ đó, khi đã nắm vững đƣợc tất cả những kiến thức hiện đại, biết
biến chủ nghĩa cộng sản từ những công thức, những lời dạy, những phƣơng
pháp, những chỉ thị, những cƣơng lĩnh có sẵn và học thuộc lòng thành cái
thực tế sinh động, là cái kết hợp với công tác trực tiếp của các đồng chí”[43,
tr. 365-366].
Phát triển những luận điểm của Mác và Ăngghen về tập hợp, đoàn kết
các tầng lớp thanh niên với vai trò cách mạng to lớn của thanh niên, Lênin
thƣờng xuyên nhắc nhở những ngƣời bạn chiến đấu của mình phải kiên trì đấu
tranh để hợp nhất phong trào học sinh, sinh viên thành một trào lƣu chung
15
theo tinh thần của chủ nghĩa Mác cách mạng. Lênin cho rằng, thành công của
phong trào thanh niên chính là ở chỗ biết gắn liền nhận thức lý luận của chủ
nghĩa Mác, tri thức khoa học với sự tham gia trực tiếp của họ vào cuộc đấu
tranh chính trị của giai cấp vô sản. Ngƣời yêu cầu Đoàn Thanh niên Cộng sản
phải tổ chức các phong trào cách mạng cho thanh niên để vừa là trƣờng học
lịch sử của thanh niên. Theo Hồ Chí Minh, thanh niên là ngƣời chủ hiện tại
quan trọng của đất nƣớc không chỉ vì họ chiếm khoảng một phần ba dân số, mà
chủ yếu vì thanh niên là bộ phận trẻ, khỏe, xung kích, sáng tạo, giàu ý chí, nghị
lực và ƣớc mơ; vì thanh niên là những đội quân xung kích trên các mặt trận.
Hồ Chí Minh coi Thanh niên là ngƣời tiếp sức cách mạng cho thế hệ
thanh niên già, đồng thời là ngƣời phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tƣơng lai,
Thanh niên là ngƣời xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa,
Thanh niên là lực lƣợng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ. Và
trong mọi công việc, thanh niên là lực lƣợng có khả năng thực hiện khẩu hiệu
“Đâu cần thanh niên có, việc khó thanh niên làm”[53, tr. 322]. Ngƣời tổng
kết: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì
thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc đƣợc giải phóng, thanh niên mới đƣợc tự
do”[50, tr. 398]. Vì vậy thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của
dân tộc. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò Thanh niên là ngƣời chủ tƣơng
lai của nƣớc nhà. Trong thƣ gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp
Tết nguyên đán năm 1946, Ngƣời viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một
đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.
Việc thành lập tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên” (với hạt
nhân là cộng sản Đoàn) ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng để
chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và sáng lập tờ báo
17
cách mạng mang tên “Thanh niên” thể hiện Hồ Chí Minh có một tầm nhìn
chiến lƣợc, khi Ngƣời biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể nắm vai trò là
những ngƣời châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nƣớc ta.
Hồ Chí Minh khẳng định: đất nƣớc thịnh hay suy phần lớn tùy thuộc
vào thanh niên, và muốn “hồi sinh” dân tộc, trƣớc hết phải “hồi sinh” thanh
niên. Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, phần phụ lục “Gửi
Nam… và cuối cùng chỉ còn lại một Lý Tử Trọng là ngƣời thanh niên cộng sản
Việt Nam đã anh dũng hy sinh cho cách mạng. Từ chỗ chỉ có một Lý Tử
Trọng, đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn Thanh niên lao động
hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất
Tổ quốc. Tiến bộ đó làm cho Bác rất vui sƣớng và trẻ lại. Nó làm cho lòng Bác
phơi phới nhƣ hoa nở trong mùa xuân” [53, tr. 304-305]. Đến năm 1958,
Ngƣời đã đặt rõ nhiệm vụ quan trọng bậc nhất “trồng ngƣời”: “Vì lợi ích
mƣời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngƣời” [52, tr.
222] trong buổi Ngƣời nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp
II và III toàn miền Bắc.
Sau này, Hồ Chí Minh luôn căn dặn “phải uốn cây từ lúc cây non”, phải
trồng ngƣời từ lúc con ngƣời còn ấu thơ; phải gieo những hạt giống cho sự
nghiệp cách mạng; giáo dục, rèn luyện và đào tạo nhiều thế hệ trẻ nƣớc ta trở
thành những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cách mạng ƣu tú vừa “hồng”, vừa
“chuyên” thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến lúc sắp về thế giới bên kia
với Các Mác và Lênin, tƣ tƣởng “trồng ngƣời”, bồi dƣỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau vẫn đƣợc Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc.
Nhân ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã căn dặn 5
điều đối với thanh niên, thể hiện rất rõ mong muốn của Ngƣời là: trong việc
giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ
19
XHCN, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất. Đây là một luận điểm rất
quan trọng của Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên.
Hồ Chí Minh dạy thanh niên phải sống có lý tƣởng và chỉ rõ rằng lý
tƣởng của thanh niên ta ngày nay là độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và chủ
nghĩa xã hội, phải “Trung với nƣớc, hiếu với dân” và làm cho dân giàu nƣớc
mạnh để ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đƣợc học hành. “Nhiệm vụ của
Chí Minh với học sinh các trƣờng trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trƣng
Vƣơng Hà Nội ngày 18/12/1954). Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu thanh niên
phải ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và
quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân. Hồ Chí Minh
nhấn mạnh phải đào tạo, bồi dƣỡng họ thành những ngƣời có khả năng hoạt
động thực tiễn, không nên đào tạo ra những con ngƣời chỉ thuộc sách làu làu.
Trong cảnh nƣớc mất, nhà tan, Hồ Chí Minh vạch rõ: Phải thức tỉnh
thanh niên để thức tỉnh cả dân tộc. Nhƣng sau khi nhân dân ta giành đƣợc
chính quyền dƣới sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Chính phủ
phải lo các công việc giúp đỡ thanh niên để anh chị em thanh niên góp phần
kháng chiến và kiến quốc. Ngƣời thƣờng xuyên đòi hỏi: Từ nay, Trung ƣơng
và các cấp Đảng bộ địa phƣơng sẽ săn sóc hơn nữa đến công tác của Đoàn.
Trong di chúc, Ngƣời nêu rõ rằng Đảng và Nhà nƣớc phải có chính
sách bồi dƣỡng, đào tạo thanh niên thành những ngƣời vừa “hồng”,
vừa “chuyên”… Hồ Chí Minh khẳng định: Chăm lo đào tạo, giáo dục, bồi
dƣỡng thanh niên, phát huy vai trò của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc là trách nhiệm của Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội.
21
Là nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phƣơng pháp giáo
dục thanh niên. Ngƣời cho rằng: “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời
sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng
cố”[52, tr. 293]. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Công cuộc xây dựng đất
nƣớc là trƣờng học rất tốt cho chúng ta rèn luyện đạo đức cách mạng”[52, tr.
293] và Ngƣời căn dặn: giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên
hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh xã hội.
Trong một dịp nói chuyện với đoàn viên thanh niên, Bác dạy: Thanh
niên phải biết xây dựng cái gì và chống lại cái gì. Ngƣời rất quan tâm đến vấn
Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế thanh niên cộng sản
lần thứ IV (1924), Ngƣời dốc sức tiến hành công tác tổ chức, lập ra Việt Nam
Thanh niên cách mệnh Đồng chí Hội. Hồ Chí Minh là ngƣời trực tiếp tuyển
chọn, bồi dƣỡng đồng chí hội; trực tiếp tuyển chọn, bồi dƣỡng những hạt
giống đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản nƣớc ta. Sau một thời gian do
Ngƣời trực tiếp chuẩn bị và đề nghị với Trung ƣơng Đảng, ngày 26-3-1931,
Thanh niên Cộng sản Đoàn ra đời. Đó là thời điểm mang nhiều ý nghĩa đặc
biệt trong phong trào thanh niên yêu nƣớc theo xu hƣớng tiến bộ ở nƣớc ta.
Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh chỉ thị trực
tiếp cho các xứ ủy, tỉnh ủy, thành ủy tổ chức các Đại hội Đoàn Thanh niên
Cứu quốc và thống nhất hệ thống Đoàn từ cơ sở lên đến Trung ƣơng. Tháng
6-1946, Ngƣời chủ trƣơng lập Mặt trận thanh niên rộng rãi (do Đoàn Thanh
niên Cứu quốc làm nòng cốt), lấy tên là Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và
trực tiếp dự Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn tại chiến khu Việt Bắc.
23
Hồ Chí Minh là ngƣời sáng lập các tổ chức thanh niên Việt Nam; trực tiếp
cho ý kiến cụ thể về dự thảo Điều lệ Đoàn (trình Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III
năm 1961). Ngƣời khẳng định vai trò, vị trí của Đoàn trong hệ thống chính trị của
đất nƣớc; khẳng định những chức năng cơ bản của Đoàn Thanh niên Cộng sản.
Hồ Chí Minh chỉ rõ Đoàn Thanh niên là tổ chức thanh niên cộng sản, là
đội hậu bị tin cậy của Đảng, là ngƣời đại diện của thanh niên, là hạt nhân
đoàn kết, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; là ngƣời phụ trách, dìu dắt thiếu niên, nhi đồng. Tất
cả những điều đó đƣợc thể hiện ở huy hiệu Đoàn. Hồ Chí Minh kết
luận: “Huy hiệu của thanh niên ta là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý
nghĩa của nó là thanh niên phải xung phong làm gƣơng mẫu trong công tác,
trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành