đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng tu nam 1930 den nam 1939 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN XUÂN CHIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG
TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TỪ NĂM 1930
ĐẾN NĂM 1939.
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Tung

Hà Nội, 2008

1


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...................................................................................................6
1.Lý do chọn đề tài:................................................................................................. 6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. ......................................................... 8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................ 11
4. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................... 12
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. ...................................................... 12
5.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng, các văn kiện, nghị quyết về công
tác vận động quần chúng nói riêng và các văn kiện, nghị quyết chỉ đạo cách

1.1.3.Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hình thành đường lối vận động
quần chúng của Đảng khi mới thành lập. .......................................................... 25
1. 2. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931............. 31
1. 2. 1. Đường lối vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam. ......... 31
1.2.2 Qúa trình lãnh đạo và tổ chức quần chúng đấu tranh giai đoạn cao trào
cách mạng 1930- 1931. ...................................................................................... 34
1. 2. 3 Những chủ trương vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Đông
Dương từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930: .............................. 39

3


1.2. 4 Phong trào cách mạng 1930 – 1931 từ sau Hội nghị Trung ương tháng 10.
1930. ................................................................................................................... 41
1. 3. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932- 1935. ............ 48
1.3.1Đấu tranh trong các nhà tù thực dân .......................................................... 49
1.3.2 Cuộc đấu tranh để giữ gìn cơ sở, khôi phục tổ chức và phong trào cách
mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương ............................................................. 52
Chương 2 ................................................................................................................. 58
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG .................................. 58
NHỮNG NĂM 1936-1939. ..................................................................................... 58
2.1. Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới.
............................................................................................................................... 58
2.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước. .............................................................. 58
2.1.2. Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng. ........ 62
2.1.3 Nội dung chuyển hướng chỉ đạo công tác vận động quần chúng của Đảng.
............................................................................................................................ 63
2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đoạn 1936- 1939. ...... 71
Chương 3 .................................................................................................................. 97
Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM. ............................................................................. 97

ngoại xâm lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần. Để giữ vững được độc lập cho đất
nước và chủ quyền cho dân tộc,` cách duy nhất là phải củng cố khối đoàn kết toàn
dân, huy động toàn thể nhân dân tham gia vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Đại Việt sử ký toàn thư có ghi việc tháng 6 năm 1300, vị tướng già Trần Quốc
Tuấn ốm nặng, vua Trần ngự tới thăm, có hỏi về kế sách giữ nước nếu lại bị nước
ngoài xâm lược, sau khi trình bày kinh nghiệm đánh giặc một cách rõ ràng và tỉ mỉ,
Trần Quốc Tuấn đã khẳng định: khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là
thượng sách giữ nước.
Cũng trên lập trường thân dân, Nguyễn Trãi nhận thức rất rõ về vai trò và sức
mạnh của nhân dân. Thay mặt vua Lê, trong Chiếu răn dạy Thái tử, ông viết: Mến
người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân; thuyền bị lật mới
tin rằng dân như nước.
Những bài học kinh nghiệm của cha ông cũng như những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng hết sức sáng tạo vào sự nghiệp cách mạng
của Đảng và nhân dân ta do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin ngay từ khi bắt đầu sáng lập ra Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh đã nêu ra một nguyên lý có tính chất dẫn
đường cho toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, đây là nguyên nhân của
mọi thắng lợi sau này của cách mạng Việt Nam, nguyên lý này là: công nông là gốc
cách mạng.
Quả thật như vậy, nhìn lại lịch sử cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam
từ khi người Pháp xâm lược cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặc biệt là
giai đoạn 1930- 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta đều phát hiện ra một đặc
điểm nổi trội, một sự khác biệt giữa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam với
6


phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trong khu vực Đông nam Á đó là sự
tham gia đông đảo tích cực của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cứu nước
chung của toàn dân tộc.

khác, đó là cuộc vận động vì các quyền dân sinh dân chủ, đây là những cuộc tập
dượt lần lượt từ thấp đến cao, tập dượt cho sự hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc
khi thời cơ đến đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng tháng Tám diễn
7


ra trong một thời gian ngắn với hình thái chủ yếu là biểu tình của hàng vạn quần
chúng đã làm suy sụp chính quyền địch. Một câu hỏi đặt ra: tại sao những chính
đảng khác, những tổ chức yêu nước khác cũng được sự ủng không nhỏ của quần
chúng mà không thể duy trì được sức bền của phong trào quần chúng, và cuối cùng
phong trào yêu nước của họ đã thất bại, trong khi Hồ Chí Minh và những người
cộng sản đã thành công trong việc huy động được quần chúng tham gia phong trào
mà còn giác ngộ quần chúng, nhân bội sức mạnh quần chúng đi đến lật nhào ách
thống trị của thực dân Pháp, của Nhật, phong kiến và tạo đà cho toàn dân tộc Việt
Nam vượt qua hai cuộc trường chinh để đến thắng lợi cuối cùng. Đó chính là bí
quyết của Đảng với đường lối lãnh đạo sáng suốt với phương pháp cách mạng khoa
học được chỉnh sửa tùy theo từng thời kỳ của thực tiễn, học được từ chính những
sai lầm của mình để cuối cùng thành công trong cuộc vận động tuyên truyền, vận
động tổ chức quần chúng đấu tranh. Đó chính là những lý do khoa học cũng như
thực tiễn, lý do lý luận cũng như học thuật để tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc
sỹ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ đặc biệt mang tính chiến lược
trong các phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo từ khi thành lập đến nay, đặc
biệt trong các giai đoạn cách mạng từ khi thành lập Đảng đến khi cách mạng tháng
Tám thắng lợi, vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học và tác phẩm lý luận của
nhiều tác giả, bao gồm cả các nhà khoa học và các nhà lý luận, các nhà chính trị
nghiên cứu về vấn đề này như:
* Nhóm công trình của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà Nước:

cấp công nhân Việt Nam, tập 2. Nxb Sử học Viện Sử Học, HN. 1962; Giai cấp
công nhân Việt Nam, tập 3. Nxb Sử học Viện Sử Học, HN. 1963; Giai cấp công
nhân Việt Nam - sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp” tự mình” đến
giai cấp “cho mình”, Nxb Sự Thật, HN, 1958) đã cung cấp bức tranh sinh động về
quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam từ lúc mới hình
thành, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, những đặc trưng chủ yếu, những cống
hiến to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam đối với sự phát triển của phong trào
cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm vận
động, lãnh đạo giai cấp công nhân không chỉ đi đầu trong quá trình đấu tranh cách
mạng mà còn là trụ cột cho sự đoàn kết rộng rãi của dân tộc. Những cuốn sách này
là sự mở đầu tốt đẹp cho những công trình tiếp theo của những nhà khoa học Việt
Nam nghiên cứu về giai cấp công nhân.
- Tác giả Nguyễn Công Bình trong cuốn Mặt trận dân tộc thống nhất (Nxb
Khoa học, Hà Nội, 1963) đã nghiên cứu một cách hệ thống quá trình tập hợp lực
lượng dân tộc trước khi đảng của giai cấp công nhân ra đời, các hình thức mặt trận
dân tộc thống nhất qua các thời kỳ lịch sử từ khi Đảng thành lập, thời kỳ vận động
cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền
Bắc sau năm 1954, kháng chiến chống Mỹ.
- Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lịch sử Mặt trận dân tộc
thống nhất Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007. Gồm ba quyển,
9


Quyển 1: từ năm 1930 đến năm 1954; Quyển 2: từ năm 1954 đến năm 1975; Quyển
3: từ năm 1975 đến năm 2004. Đặc biệt, trong Quyển 1(1930-1954): trình bày lịch
sử Mặt trận từ khi thành lập (1930) đến khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng với quá
trình đấu tranh gian khổ trong công tác vận động quần chúng cách mạng để thành
lập Mặt trận Dân tộc thống nhất, qua các phong trào Mặt trận, tiến tới thành lập
Mặt trận Việt Minh, đoàn kết toàn dân làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi, tiến
hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn

+ Phạm Hồng Tung: Các cuộc vận động bầu cử và tranh cử trong cuộc đấu
tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936-1939), Nghiên cứu lịch sử, số 10 (366),
2006, tr. 39-46. Tác giả đã góp phần làm sáng tỏ hơn một loại hình đấu tranh cách
mạng sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta, phù hợp của với hoàn cảnh lịch sử trong thời
kỳ đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam từ 1936- 1939, loại hình “
đấu tranh nghị trường”. Chính thông qua các cuộc vận động bầu cử này đã vận
động được sự tham gia của hàng triệu quần chúng vào phong trào do Đảng ta lãnh
đạo. Uy tín chính trị của Đảng do vậy được củng cố và tăng cường thêm.
+ Phạm Hồng Tung: Về quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
Cộng sản Đông Dương trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ 1936-1939
ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử, số 2 (358), 2006, tr. 3-14. Tác giả trình bày những
điều kiện khách quan và chủ quan cũng như quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược và sách lược của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ
1936- 1939, từ đó làm sáng tỏ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, từ những thành công
và cả những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ sôi nổi, phong
phú, được coi là cuộc “Tổng diễn tập lần thứ hai” cho thắng lợi của cách mạng
tháng Tám năm 1945.
Các tác giả nói trên dù là những nhà lãnh đạo hay những nhà khoa học đều đã cố
gắng trình bày công trình của mình theo những cách thể hiện riêng biệt và để đạt
được những hiệu quả ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, những tác phẩm của
những nhà lãnh đạo thường nặng về chính trị vận động nên tính khoa học chưa thực
sự nổi bật, còn những công trình của những nhà khoa học thường chi tiết hóa trong
những vấn đề nghiên cứu riêng. Mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập ở mức độ
khác nhau nhưng cho đến nay, nhìn chung, chưa có một công trình chuyên khảo
nào nghiên cứu toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần
chúng từ 1930 đến 1939. Trong những năm gần đây, việc công bố bộ Văn kiện
Đảng Toàn tập đã cho phép nghiên cứu đầy đủ, cụ thể hơn về vấn đề này. Đây là
một thuận lợi, một chỗ dựa rất căn bản của Luận văn.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, luận văn sẽ làm rõ công tác vận động
quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta với những thành công và hạn chế trong

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng, các văn kiện, nghị quyết về
công tác vận động quần chúng nói riêng và các văn kiện, nghị quyết chỉ đạo
cách mạng của Đảng nói chung trong giai đoạn từ 1930- 1939.
5.2 Đề tài thuộc vấn đề lịch sử nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và lôgic. Ngoài ra luận văn còn phối
hợp sử dụng các cách tiếp cận khác của khoa học chính trị, phương pháp phân tích,
đồng đại, lịch đại, tổng hợp, so sánh, khái quát, rút ra kết luận để làm rõ hơn hai
phương pháp trên.
6. Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 chương, 7 tiết.

12


Chương 1: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930-1935.
1.1. Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng.
1.2. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931.
1.3. Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932- 1935.
Chương 2: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1936-1939.
2.1. Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới.
2.2. Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đọan 1936-1939.
Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm.
3.1 Ý nghĩa.
3.2 Một số kinh nghiệm.

13


NỘI DUNG

thần đoàn kết của dân tộc Việt chống ngoại xâm ngay từ thuở xa xưa. Hình ảnh
Gióng ra trận là một chỉnh thể của sự đoàn kết của nhân dân, sự đóng góp của nhân
dân nuôi Gióng khôn lớn, trang bị cho Gióng ngựa sắt, roi sắt, kể cả lũy tre, kể cả
dân làng cũng xung trận...tất cả nói lên tinh thần đoàn kết đấu tranh bất khuất của
dân tộc.
Nhìn lại lịch sử dựng nước chống ngoại xâm từ đầu đến giữa thế kỷ XIX
chúng ta đều thấy rõ một chân lý, sáng rõ một sự thật lịch sử hiển nhiên: khi nào,
triều đại nào, lãnh tụ nào huy động được sức dân đoàn kết một lòng thì triều đại đó
đứng vững, lãnh tụ đó giành thắng lợi.
Triều Trần trong thế kỷ XIII sở dĩ đã thắng được quân Nguyên đông hơn
mình, mạnh hơn mình nhiều lần bởi vì đã biết dùng kế ‘‘thanh dã’’, biết tranh thủ
sức dân. Tâm đắc với nguyên nhân thành công của đời mình và cũng thể hiện nhãn
quan chính trị sáng suốt đến cuối đời mình Trần Quốc Tuấn còn dặn lại vua Trần,
nếu muốn duy trì nghiệp lớn của cha ông cần: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ
bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”.
Cuối triều Trần, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, Hồ Quý Ly đã
thể hiện tài năng trị nước của mình với những chính sách cải cách mang một tầm
nhìn vượt thời đại, tuy nhiên những cải cách của ông chưa mang lại hiệu quả thì đã
vấp phải một trở ngại khách quan – sự xâm lược của nhà Minh- mặc dù đã có
những sự chuẩn bị nhất định nhưng nhà Hồ vẫn không thể vượt qua được thử thách
của lịch sử. Nguyên nhân của thất bại này nằm ngay trong lời than của con trai Hồ
Quý Ly – Hồ Nguyên Trừng : không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo. Nói như
Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo : Vừa rồi,
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
để trong nước lòng dân oán hận!
Không được lòng dân dẫn đến việc để mất nước là một thất bại có tính chất tất yếu.
Nhận thức được giá trị sâu xa của quy luật đó nên sau này Nguyễn Trãi đã tổng kết
một cách sâu sắc: dân như nước, chở thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là
dân.
Sang thế kỷ XVIII, nhận thấy sự phức tạp của tình hình chính trị, xã hội ở cả

của Nguyễn Trung Trực trước giặc Pháp: "Bao giờ người Tây làm hết cỏ đất này
thì người Nam mới hết chống Tây". Ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu với những
bài thơ, văn tế, hịch tràn đầy tính nhân văn, đậm đà chính nghĩa là người tiêu biểu
trong cuộc đấu tranh dùng dùng ngòi bút để đánh giặc. Trong Văn tế nghĩa sỹ Cần
Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định tinh thần vì nghĩa của nhân dân mà xả
thân mình để chiến đấu: vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn
binh ; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Sau sự biến ở kinh thành Huế, nhân dân cả nước đi theo hưởng ứng phong
trào Cần Vương khá mạnh mẽ, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tuy nhiên, do
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt do lực lượng lãnh đạo đã không đưa
ra được những chính sách phù hợp, không biết tổ chức phong trào đấu tranh của
đông đảo quần chúng cho tập trung, thống nhất nên phong trào Cần Vương đã thất
bại.
16


Bên cạnh phong trào Cần Vương, lúc ấy còn có hàng loạt các cuộc đấu tranh
tự phát của nông dân, họ vùng đậy với mọi thứ khí thô sơ giới có trong tay gậy tầy,
giáo mác, đinh ba, dao quắm…tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Yên Thế do
Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Tuy nhiên, do không thể tự mình tập hợp được lực
lượng trong cả nước, thiếu cơ bản về năng lực lãnh đạo và tổ chức cũng như đường
lối đúng đắn để chỉ đạo đấu tranh nên những phong trào nổi đạy tự động của nông
dân cũng đi vào bế tắc và thất bại.
Con đường cứu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến cũng như
những nhận thức về vai trò quần chúng và cách thức tuyên truyền, vận động, tổ
chức chỉ đạo quần chúng đấu trah theo thế giới quan phong kiến đã không đáp ứng
được những yêu cầu của lịch sử và dãn đến thất bại.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng về cơ cấu kinh
tế, xã hội, trên cơ sở phức hợp những tác động của tư tưởng dân chủ tư sản từ Pháp,
Nhật Bản và Trung Quốc dội vào Việt Nam với những biến chuyển trong nước nên

sắc thái, quan điểm chính trị khác nhau, cũng chính vì vậy mà công tác vận động
quần chúng những năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng có những nét đặc
trưng so với các thời kỳ trước.
Một loạt các hoạt động yêu nước sôi nổi của quần chúng đã diễn ra dưới nhiều
hình thức phong phú như: phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều, giành lại thị trường
buôn bán của tư sản người Việt (1919), đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn
(1923), dùng báo chí để đấu tranh, thành lập Đảng Lập hiến (1923), phong trào đòi
ân xá Phan Bội Châu (1925), phong trào đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh
(1926), cuộc “đón tiếp” Bùi Quang Chiêu từ Pháp về, phong trào đấu tranh đòi thả
nhà ái quốc Nguyễn An Ninh...
Năm 1926, một tôn giáo có tính dung hợp, tương đối mới, mang tinh thần phản
kháng xã hội đã xuất hiện ở Việt Nam, đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài là tên ngắn gọn,
tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Sự xuất hiện này là một hệ quả của một
phong trào cách mạng quốc gia phát triển trong những năm 1925- 1926 của lực
lượng tư sản và địa chủ bất lực và bất mãn chống lại chính quyền thực dân. Đạo
Cao Đài thờ biểu tượng “một con mắt” (thiên nhỡn) và là sự pha trộn của nhiều tôn
giáo, tín ngưỡng đương thời như: Thiên Chúa giáo, tục đồng bóng, đặc biệt là Phật
giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Tôn chỉ đầu tiên của Cao Đài ghi rõ : “tam giáo quy
nguyên, ngũ chi phục nhất” tức là về giáo lý, Cao Đài là sự kết hợp của ba tôn giáo
trên và có năm chi phái cấu thành (Minh đạo, Minh đường, Minh sư, Minh tân và
Minh thiện). Những năm 20 của thế kỷ XX, đạo Cao Đài phát triển khá mạnh, gây
một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống chính trị - tư tưởng nhân dân Nam Bộ.
Đặc biệt, trong những năm từ 1926 đến 1932, “tuy không có con số thống kê chính
thức nhưng số tín đồ của nó đã vượt lên con số hàng triệu. Ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Campuchia, tuy cũng có tín đồ Cao Đài nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở Nam
Kỳ”.{58; 120}. Mặc dù vậy, những ảnh hưởng của đạo Cao Đài theo thời gian
không được phát triển thêm hơn, không lôi cuốn được nhiều hơn nữa sự tham gia
của quần chúng thực hiện những mục tiêu khác ngoài tôn giáo, vì nhiều lý do:
Trước hết, do sự phân liệt, tranh giành quyền lực khá sớm của đội ngũ đứng đầu
đạo Cao Đài nên không tạo cho tôn giáo này sự lôi cuốn mạnh mẽ đối với quần

binh lính, sỹ quan người Việt trong quân đội Pháp.
Về đường lối, ban đầu chủ trương chính trị của Việt Nam Quốc dân đảng chưa
rõ ràng, phần nhiều nghiêng biện pháp bạo động làm khuynh hướng hoạt động chủ
yếu. Càng về sau, ảnh hưởng của tư tưởng “Tam dân” của Tôn Trung Sơn đến Việt
Nam Quốc dân đảng càng rõ nét. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi tồn tại, Việt
Nam Quốc dân đảng có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng địa bàn hoạt động, xây
dựng và phát triển cơ sở đảng, tuy nhiên, ngoài một số chi bộ ở Lào, Nam kỳ, địa
bàn hoạt động chính của Việt Nam Quốc dân đảng là Bắc Kỳ. “Tính đến đầu năm
19


1929, riêng Bắc Kỳ đã có 120 chi bộ với khoảng 1.500 đảng viên, trong đó có 120
người là cai, đội và lính khố đỏ.”{35; 277]. Trong chủ trương của mình, Việt Nam
Quốc dân đảng định thành lập các tổ chức quần chúng như: Đoàn phụ nữ, Đoàn
công nhân, Đoàn nông dân, học sinh, quân sự…đây là lực lượng cảm tình của
Đảng, sẽ hỗ trợ hành động cho Đảng…Trong quá trình tồn tại, Việt Nam Quốc dân
đảng có những cố gắng nhất định trong việc liên kết, phối hợp hành động với các tổ
chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng nhưng
không có kết quả.
Đầu năm 1930, trong bối cảnh bị động, các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân
đảng tiến hành cuộc bạo động với chủ trương như Nguyễn Thái Học nói trước cuộc
khởi nghĩa: “Âu là chết đi để thành cái gương phấn đấu cho người sau nối bước.
Không thành công thì cũng thành nhân”{35; 287}. Xem xét những nguyên nhân
dẫn đến thất bại của Việt Nam Quốc dân đảng có những yếu tố chủ quan và khách
quan: Thực dân Pháp còn rất mạnh; tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời; cuộc bạo
động diễn ra trong bối cảnh không thuận lợi; sự yếu đuối của tư sản Việt Nam cả về
cơ sở kinh tế và vị thế chính trị; sự yếu kém trong công tác tổ chức đảng…nhưng
trong đó nổi lên một nguyên nhân quan trọng có tính chất quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của đảng này chính là Việt Nam Quốc dân đảng không nhận được sự
ủng hộ, giúp đỡ và tham gia của đông đảo quần chúng, nguyên nhân dẫn đến tình

hiện một tổ chức tiến bộ và cách mạng- Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niênmột tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào năm 1925. Đây là tổ chức
cách mạng mới kết hợp được chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam.
Trăn trở với vận mệnh của dân tộc, chứng kiến những cuộc đấu tranh cứu nước
ở dạng thử và sai của các bậc tiền bối. Ngày 5- 6- 1911, người thanh niên Nguyễn
Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Anh đã trải qua nhiều nghề khác nhau để
được đến nhiều miền khác nhau trên thế giới khảo nghiệm và học tập.
Cuối năm 1917, Anh từ nước Anh trở lại Pháp. Năm 1919, Anh gia nhập Đảng
Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó tại Pháp. Tháng 6 năm 1919, với
tên gọi Nguyễn Ái Quốc – Anh đã gửi tới Hội nghị Véc xai Bản yêu sách của nhân
dân Việt nam gồm 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 7 năm 1920, Người đã đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lê Nin đăng trên báo Nhân Đạo của
Đảng Xã hội Pháp, Người đã tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Từ
đây, Người hoàn toàn tin theo Lê Nin và Quốc tế thứ ba.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở thành
phố Tua , Nguyễn Ái Quốc đã tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và gia nhập
Quốc tế thứ ba. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đã đến với chủ nghĩa cộng sản,
Người đa tìm thấy trong đó con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Sau một quá trình hoạt động, học tập, rèn luyện tại Pháp, Liên Xô, tháng 11 năm
1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người đã tiếp xúc
với những người Việt Nam yêu nước đang hoạt động tại đây, đặc biệt với tổ chức
Tâm tâm xã. Người đã lựa chọn một số thanh niên tích cực trong tổ chức này và
tháng 6 năm 1925 lập ra nhóm Cộng sản đoàn làm hạt nhân cho một tổ chức cách
21


mạng lớn hơn. Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên. Đây chưa phải là đảng cộng sản nhưng đường lối chính trị,

Nhờ vậy, phong trào công nhân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân
ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi.
22


Sang những năm 1928, 1929, phong trào tham gia Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên ngày càng mạnh mẽ, số hội viên chính thức và cảm tình đã lên đến con
số hàng nghìn. Tính đến giữa năm 1929, trong cả nước đã có 1.800 hội viên, trong
đó đông nhất là ở Bắc và Trung Kỳ. Thông qua việc tăng cường phát triển tổ chức,
mở rộng địa bàn hoạt động, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã góp phần
truyền bá tư tưởng Mác- Lê Nin, phổ biến chủ trương, đường lối của Hội trong
nhân dân, tích cực thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam chuyển nhanh theo xu
hướng cách mạng vô sản.
Từ thực tiễn cách mạng có những biến chuyển quan trọng, những người lãnh
đạo trong Kỳ bộ Bắc kỳ đã nhận thức được đòi hỏi của thực tế cách mạng cần có
một Đảng Cộng sản để thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhằm tiếp
tục đưa cách mạng Việt Nam tiến lên. Những động thái để thành lập chính đảng
Cộng sản của nhóm Thanh niên Bắc Kỳ đã không được phần còn lại trong Hội tán
thành.
Ngày 17-6-1929 các đại biểu ưu tú của Kỳ bộ Bắc Kỳ đã nhóm họp tại 312
Khâm Thiên (Hà Nội) tuyên bố thành lập Đông Dương cộng sản đảng. Thông qua
Tuyên ngôn, Điều lệ, quyết định xuất bản báo Búa Liềm làm cơ quan ngôn luận.
Bên cạnh công tác truyên truyền, Đảng còn tích cực xây dựng và phát triển cơ sở ở
các địa phương trong cả nước. Nhờ vậy, sau một thời gian ngắn, đến tháng 8 năm
1929, nhiều thành, tỉnh bộ Đông Dương Cộng sản đảng đã lần lượt ra đời ở Hà Nội,
Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh. Ngày 28 tháng 7 năm 1929, Đảng quyết định
thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ do Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu. Tại Nam Kỳ,
Đông Dương Cộng Sản Đảng đã cử người đến các tỉnh để xây dựng và phát triển
cơ sở đảng. Bởi vậy, khi đoàn đại biểu Kỳ bộ Nam Kỳ về tới Sài Gòn thì đã xuất
hiện nhiều cơ sở của Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Đúng vào lúc khó khăn nhất, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện kịp thời.
Ngày 23-12-1929, Nguyễn Ái Quốc dưới danh nghĩa một thương nhân người Hoa
đã từ Xiêm qua Trung Quốc và đến Hồng Công để chuẩn bị triệu tập hội nghị hợp
nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 – 2 – 1930, tại bán đảo Cửu Long (Hương
Cảng), Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành dưới sự chủ trì
của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị gồm có 6 đại biểu, hai đại biểu của Đông Dương
Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh) và hai đại biểu của An Nam
Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu) và hai đại biểu ngoài nước. Tại
Hội nghị, các đại biểu đã nhất trí hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An
Nam Cộng sản Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thông qua Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ tóm tắt do
Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Đó là Cương lĩnh và Điều lệ đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
24


Sau Hội nghị hợp nhất đảng, ngày 24- 2- 1930, theo đề nghị của Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn. Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã chấp thuận kết nạp tổ chức cộng sản này vào Đảng. Như vậy phải
tính đến ngày 24-2-1930, việc hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản thành một chính
đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam mới được hoàn tất trên thực tế.
1.1.3. Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hình thành đường lối vận động quần
chúng của Đảng khi mới thành lập.
a. Bối cảnh lịch sử.
* Tình hình thế giới.
- Ngay khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất chưa kết thúc, ngay tại châu Âu
đã diễn ra một phong trào đấu tranh giai cấp và cách mạng quyết liệt. Tháng 11
năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, nhà nước chuyên
chính vô sản đầu tiên trên thế giới ra đời. Tiếp theo đó, phong trào đấu tranh của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status