ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐỖ QUỐC VIỆT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỀN VỮNG NƯỚC THẢI
CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG AN I HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Hà Nội - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐỖ QUỐC VIỆT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỀN VỮNG NƯỚC THẢI
CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG AN I HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: 8900201.03QTD
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thành
những lợi ích về kinh tế - xã hội, môi trường cũng chịu một số áp lực lớn, sự gia
tăng một lượng lớn nước thải, khí thải và chất thải rắn từ quá trình phát triển
công nghiệp, đô thị, nông nghiệp, dịch vụ, các hoạt động giao thông vận tải, sự
1
gia tăng dân số….đe doạ gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm
đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Việc quản lý môi trường và kiểm soát nguồn
nước thải từ đơn vị này luôn là vấn đề được ưu tiên hàng đầu.
Đang trên đà phát triển công nghiệp, một trong những thách thức lớn nhất
của KCN Đồng An 1 nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chúng là thực hiện mục
tiêu phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế- xã hội với nhiệm vụ bảo vệ môi
trường. Vì vậy, việc nghiên cứu và và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm nước
thải của KCN Đồng An 1 là vấn đề cần thiết và cấp bách. Chính vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng quản lý môi trường và đề xuất giải
pháp kiểm soát bền vững nước thải của KCN Đồng An 1 hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững” là luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tình hình quản lý môi trường của KCN Đồng An 1.
- Công tác thu gom, xử lý nước thải sau hệ thống xử lý nước thải tập trung
của KCN Đồng An 1.
- Đề xuất giải pháp kiểm soát bền vững nước thải của KCN Đồng An 1
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
3. Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Đánh giá thực trạng đầu tư hạ tầng kỹ thuật các công trình thu gom, xử
lý nước thải của KCN Đồng An 1.
- Đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường của chủ đầu tư KCN Đồng An 1.
- Tìm ra các tồn tại, bất cập, khó khăn, thuận lợi trong công tác quản lý
môi trường, xử lý nước thải phát sinh trong quá trình xây dựng và phát triển khu
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ cách trung tâm Thành phố
Hồ Chí Minh 30 km theo đường Quốc lộ 13. Bình Dương có diện tích tự nhiên
là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích
miền Đông Nam Bộ); dân số 1.802.500 người (Tổng cục Thống kê - tháng
10/2014); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã
Dĩ An, thị xã Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu
Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (48
xã, 41 phường, 02 thị trấn).
1.1.2. Tình hình phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bình Dương có khoảng 28 khu công nghiệp trong đó có 26 khu công
nghiệp đang hoạt động, nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích.
Nhằm tăng sự thu hút các dự án đầu tư, tỉnh này đang tập trung hoàn thiện các
cơ chế, chính sách, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông để phát triển công nghiệp.
Bảng 1.1. Danh sách các KCN tại tỉnh Bình Dương
TT
Tên
Chủ đầu tƣ
Năm
thành
lập
Địa điểm
Diện
tích (ha)
Dĩ An
16,5
Đã xây dựng
3
Sóng Thần
2
Công ty Cổ phần
Đại Nam
1996
Dĩ An
279,27
Đã xây dựng
TNHH MTV
XNK Thanh Lễ
4
Năm
TT
Dĩ An
164,12
Đã xây dựng
2004
Dĩ An
25,9
Đã xây dựng
1996
Thuận An
137,9
Đã xây dựng
1998
Thuận An
36,06
Đã xây dựng
Đã xây dựng
thành
lập
Địa điểm
Công ty CP ĐT
KD BĐS Dapark
1997
Công ty TNHH
Phú Mỹ
Công ty Cổ phần
6
Bình An
Dệt may Bình
An
Công ty Cổ phần
7
Đồng An
đầu tư Hưng
Công ty TNHH
Kim Huy
12
13
14
Công ty TNHH
Việt Remax Phú Gia và Công
(Phú Gia)
ty cổ phần Việt
R.E.M.A.X
Đại Đăng
Công ty Cổ phần
Đại Đăng
2005
Thủ Dầu Một
274,36
Đã xây dựng
Sóng Thần
Tên
Chủ đầu tƣ
Singapore
II (VSIP II)
doanh TNHH
KCN Việt Nam
Diện
Hệ thống xử
tích (ha)
lý nƣớc thải
Thủ Dầu Một
74,87
Đã xây dựng
thành
lập
Địa điểm
Đất Cuốc
Công ty CP KS
Xây dựng Bình
Dương
2008
Tân Uyên
212,84
Đã xây dựng
18
Nam Tân
Uyên
2005
Tân Uyên
331,97
Đã xây dựng
19
Mỹ Phước
2
Becamex IDC
2005
Bến Cát
477,39
Đã xây dựng
22
Mỹ Phước
3
Becamex IDC
2006
Bến Cát
977,71
Đã xây dựng
23
Rạch Bắp
Công Ty Cổ
Phần Công
2004
Bến Cát
278,61
Đã xây dựng
thị Mapletree
(Việt Nam)
Công ty Cổ phần
KCN Nam Tân
Uyên
6
Năm
TT
Tên
Chủ đầu tƣ
27
Thới Hòa
Becamex IDC
2006
Bến Cát
202,4
Tân Bình
Công ty Cổ phần
Cao su Phước
2011
Phú Giáo
28
Chưa đi vào
hoạt động
352,4971 Đang xây dựng
Hòa
II. CỤM CÔNG NGHIỆP
3
Bình Chuẩn
Becamex IDC
Thuận An
67,5
Chưa xây dựng
4
Tân Đông
Hiệp
Becamex IDC
Dĩ An
58
Chưa xây dựng
5
An Thạnh
Chưa xây dựng
6
Cổ Phần Lâm
Sản Và Xuất
Uyên Hưng Nhập Khẩu Tổng
Hợp Bình
Dương
7
Phú Chánh
Công ty
TNHH Cheng
Chia Wood
8
Thanh An
Công ty TNHH
Cửu Long
7
1.2. Tổng quan về quản lý môi trƣờng khu công nghiệp
1.2.1. Khái niệm về quản lý môi trường
Bảng 1.2. Đặc trưng về thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp
(trước xử lý)
Ngành công nghiệp
Chất ô nhiễm chính
Chất ô nhiễm phụ
Sản xuất bột ngọt
BOD, SS, pH, NH4
Độ đục, NO3-, PO43-
Cơ khí
COD, dầu mỡ, SS, CN-, Cr, Ni
SS, Zn, Pb, Cd
Thuộc da
BOD5, COD, SS, Cr, NH4+, dầu mỡ,
phenol, sunfua
N, P, tổng Coliform
Dệt nhuộm
(SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng
(biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng.
b) Khí thải:
Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai
nguồn: quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất (nguồn
điểm) và sự rò rỉ chất ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất (nguồn diện). Mỗi
ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từng
loại hình công nghệ. Rất khó xác định tất cả các loại khí gây ô nhiễm, nhưng có
thể phân loại theo từng nhóm ngành sản xuất chính tại các KCN như Bảng 1.4.
9
Bảng 1.3. Phân loại từng nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm
Loại hình sản xuất công nghiệp
Thành phần khí thải
Tất cả các ngành có lò hơi, lò sấy cung cấp hơi, Bụi, CO, SO2, NO2,CO2, VOCs, muội
điện, nhiệt cho quá trình sản xuất
khói,…
Nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống
Bụi, H2S
Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm nhựa, cao su SO2, hơi hữu cơ, dung môi cồn,…
Chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, dinh dưỡng
động vật
Bụi, H2S, CH4, NH3
0,2
0,3
0,3
0,3 0,2
Sản
Kim
Thiết
phẩm
loại cơ
bị vận
kim
bản
tải
loại
0,1
40
10
Acid
0,3
1
0,1
1
50,2
3,4
4
10
40,1 80,3
40,2
8
6
Chất thải phản ứng
0
0
0
4
8
0
2
2
5
7
0,1
1
5
3
Chất thối rữa
200
5
1
5
10
0
0
tổng diện tích trên 78.000 ha; 242 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung,
đạt tỷ lệ 88,3%; 191 KCN đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên
tục, đạt tỷ lệ 78,9% [15]. Tổng lượng nước thải phát sinh từ các KCN khoảng
trên 635.000 m3/ngày đêm. Trong đó có 450.194 m3/ngày.đêm nước thải được
xử lý tại các các hệ thống xử lý tập trung trước khi xả ra môi trường, phần còn
lại được các cơ sở trong KCN tự xử lý trước khi xả trực tiếp ra môi trường.
Các KCN trong cả nước phát sinh khoảng 3.927.371 tấn chất thải
rắn/năm, trong đó có gần 543.865 tấn là chất thải nguy hại. Chất thải rắn và chất
thải nguy hại phát sinh được từng cơ sở trong KCN, CCN ký hợp đồng trực tiếp
với đơn vị có chức năng được cấp phép để thu gom, vận chuyển và xử lý đúng
quy định. Chất thải nguy hại phát sinh ở các cơ sở đều phải đăng ký chủ nguồn
thải theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Các địa phương khu vực
miền Trung, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nam Bộ hiện nay
chưa có cơ sở thu gom, xử lý chất thải nguy hại tại chỗ, khoảng cách vận chuyển
11
xa, nên các KCN tại khu vực này gặp khó khăn trong việc ký hợp đồng xử lý
chất thải nguy hại với các đơn vị có chức năng thực hiện [12].
1.2.2.4. Việc xây dựng và triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường đối với các KKT, KCN
Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua vào ngày 23 tháng 6
năm 2014, trong đó đã có các điều khoản riêng quy định về bảo vệ môi trường
đối với các khu kinh tế, khu công nghiệp (sau đây viết tắt là KCN), (Điều 66 và
Điều 67), đồng thời giao Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng các quy định
chi tiết các quy định bảo vệ môi trường đối với các KCN.
Để hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, các Nghị
quyết của Quốc hội và các Luật liên quan, Chính phủ đã ban hành 14 Nghị định,
Thủ tướng Chính phủ ban hành 12 Quyết định, Bộ Tài nguyên và Môi trường và
các Bộ, ngành liên quan đã ban hành 45 Thông tư và Thông tư liên tịch.
đêm. Lượng nước thải được thu gom, xử lý tại các HTXLNTT trước khi xả ra
môi trường là 450.000 m3/ngày đêm, chiếm 71% lượng nước thải phát sinh.
Lượng nước thải do các cơ sở tách đấu nối, tự xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia trước khi xả ra môi trường hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng
xử lý là 185.000 m3/ngày đêm, chiếm 29%. Các KCN tại khu vực Đông Nam Bộ
có tỷ lệ phát sinh nước thải từ các KCN cao nhất nước (chiếm 50%), tỷ lệ nước
thải được thu gom, xử lý tại HTXLNTTT cao nhất nước (chiếm khoảng 90%).
Trên cơ sở tính toán số liệu tổng lượng nước thải phát sinh hàng ngày và công
suất xử lý của HTXLNTTT, hiệu suất sử dụng của các HTXLNTTT trên toàn
quốc là 48%. Số lượng cơ sở thứ cấp trong KCN tách đấu nối là 281 cơ sở. Các
KCN tại đồng bằng sông Cửu Long có số lượng cơ sở tách đấu nối lớn nhất (133
cơ sở, chiếm 47,33%).
Hiện tại có 26 địa phương có tỷ lệ 100% KCN đang hoạt động có
HTXLNTT là Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải
Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Bình Thuận, Quảng
Nam, Đắk Lắk, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa -
13
Vũng Tàu, Tây Ninh, Hậu Giang, Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Tiền Giang,
Vĩnh Long.
Số KCN đã đi vào hoạt động chưa có HTXLNTTT là 32 KCN, tập trung
tại các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Phú Thọ, Hưng Yên, Ninh Bình, Ninh Bình,
Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng,
Bình Phước, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Tháp. Các nguyên nhân, khó khăn trong
việc 18 KCN chưa xây dựng HTXLNTTT là do tỷ lệ lấp đầy thấp; chưa giải
phóng được mặt bằng phần diện tích quy hoạch xây dựng HTXLNTTT hoặc
chưa có nguồn vốn để đầu tư. Các KCN chưa xây dựng HTXLNTTT tập trung
chủ yếu tại các địa phương có khó khăn về thu hút đầu tư và nguồn vốn ngân
tục, chiếm 78,9% (năm 2017 là 54%), 51 KCN còn lại đang trong lộ trình lắp
đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, chiếm 11,1%. Các địa phương như
Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An,
Bắc Ninh đạt 100% KCN có lắp đặt thiết bị quan trắc tự động và truyền dữ liệu
về Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm soát. Hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh
và Đồng Nai đã chủ động lắp đặt thiết bị quan trắc tự động đồng bộ do Sở Tài
nguyên và Môi trường quản lý tại các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường cao trong đó có KCN để kiểm soát.
Kết quả thanh tra, kiểm tra từ năm 2016 đến năm 2018 tại 53 KCN cho
thấy các lỗi vi phạm chủ yếu là: các công trình bảo vệ môi trường khi xây dựng
có sai khác so với báo cáo đánh giá tác động môi trường; thiếu báo cáo giám sát
chất thải định kì; lưu giữ và chuyển giao chất thải; vẫn có các trường hợp xả
nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải theo quy định.
1.2.3. Tổng quan về kiểm soát nước thải công nghiệp
1.2.3.1. Định nghĩa.
Theo Khoản 7 Điều 2 Nghị định 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm
2014 của Chính phủ quy định về thoát nước và xử lý nước thải thì nước thải là
“Nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của
con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường”. Cách phân loại phổ
biến và được sử dụng rộng rãi nhất là dựa trên ngồn gốc phát sinh của nước thải,
15
theo đó, nước thải bao gồm: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước
thải tự nhiên, nước thải đô thị.
1.2.3.2. Tác động tiêu cực của nước thải đến môi trường và con người.
Nước thải làm ô nhiễm nguồn nước, khi mà lượng nước này chưa qua xử
lý đổ ra các con sông, làm cho nước sông đổi màu và gây ra mùi khó chịu trong
không khí. “Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại trong nước thải thông qua vòng
Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao
trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”.[19, tr.122]
1.2.5. Tiêu chí đánh giá mức độ kiểm soát bền vững nước thải
- Các tiêu chí đánh giá mức độ kiểm soát bền vững nước thải:
+ Loại hình hoạt động, công nghệ sản xuất, mức độ phát thải của doanh
nghiệp trong khu công nghiệp.
+ Số lượng doanh nghiệp thứ cấp có HTXLNT đạt tiêu chuẩn tiếp nhận
nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp.
+ Cơ sở hạ tầng thu gom, kiểm soát chất lượng nước thải của các DN.
+ Việc đầu tư, công suất, công nghệ xử lý và quá trình vận hành hệ thống
XLNT tập trung của KCN.
+ Chất lượng nước thải sau xử lý đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
nước thải.
+ Hệ thống giám sát, kiểm soát chất lượng nước thải sau xử lý; các giải
pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố của HTXLNT.
+ Mức độ ảnh hưởng đến nguồn tiếp nhận nước thải, môi trường sống dân
cư xung quanh và các phản ảnh của người dân chịu tác động.
1.2.6. Các yếu tố tác động đến tính bền vững của phát triển KCN
1.2.6.1. Hệ thống pháp luật.
Hiện nay, Việt Nam chưa có luật riêng cho KCN, tuy nhiên đã có rất
nhiều Văn bản dưới Luật quy định liên quan đến hoạt động của KCN quy định
17
cụ thể về mô hình KCN, KCX, có khung pháp lý đặc thù chuyên ngành như luật
Đầu tư, luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai. Trước đây, việc quản lý KCN được
thực hiện theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của
lãngphí nguồn lực, thực hiện tốt vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng
thu hút đầu tư, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đẩy nhanh tiến độ lấp đầy
KCN, cung cấp nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng
các dịch vụ cần thiết cho hoạt động của KCN, thúc đẩy xây dựng các cơ sở hạ
tầng kỹ thuật , cơ sở hạ tầng xã hội, tạo sự phát triển bền vững của KCN. Nếu
chính sách đối với KCN không phù hợp, không thống nhất, thiếu ổn định sẽ
không thu hút được các nhà đầu tư có năng lực, có trình độ công nghệ phù hợp
với xu thế tiến bộ.
1.2.6.4. Mô hình tổ chức hoạt động của BQL các KCN.
Quá trình phát triển các khu công nghiệp gắn liền với quá trình đổi mới,
hoàn thiện cơ chế, chính sách, mô hình quản lý đầu tư nói chung và mô hình
quản lý khu công nghiệp nói riêng. Tại Nghị định 36/CP của chính phủ đã bao
quát nhiều khía cạnh trong thực tiễn hoạt động của khu công nghiệp như cơ chế
xây dựng kinh doanh hạ tầng; quyền hạn, trách nhiệm của ban quản lý KCN.
Chủ trương của nhà nước là xây dựng KCN thành một mô hình đột phá để đóng
góp vào phát triển kinh tế đất nước bằng những chính sách mới, đơn giản thủ tục
hành chính triển khai cơ chế ủy quyền cho BQL khu công nghiệp thực hiện quản
lý nhà nước đối với KCN trên các lĩnh vực hoạt động. Nghị định 29/2008/NĐCP ngày 14/3/2008 đã cụ thể hóa chủ trương tăng cường phân cấp, ủy quyền cho
UBND cấp tỉnh và BQL KCN thực hiện đầu mối QLNN KCN trên các lĩnh vực
và thực hiện triệt để cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, tại chỗ.
1.2.6.5. Năng lực nội tại của khu công nghiệp về trình độ công nghệ, trình
độ lao động và ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp.
- Về trình độ phát triển công nghệ: phản ánh khả năng cạnh tranh công
nghệ của các DN trong nội bộ KCN, giữa các KCN trong địa phương hay giữa
các KCN trong cả nước. Nó còn phản ánh khả năng duy trì hoạt động SXKD
hiệu quả của DN và xu hướng HĐH, vận dụng các thành tựu khoa học công
nghệ vào SXKD.
19
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
c
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
KCN của Thái Lan là mô hình KCN tập trung tổng hợp, bao gồm KCN, KCX và
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
các khu dịch vụ. Các KCN Thái Lan có thể do Nhà nước, tư nhân sở hữu hoặc
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
thông qua một Tổng Công ty Nhà nước là Industrial Estates Authority of
v
c
v
c
c
v
c
v
c
Thailand (IEAT) hoặc Cơ quan đầu tư Thái Lan-Board of Investment (BOI);
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
v
v
v
v c
v
c
v
phát triển hạ tầng.
Chính sách quản lý nhà nước các KCN nhất quán, có sự phân cấp cho các
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
vùng và địa phương. Các phương án quy hoạch KCN được thực thi bằng các
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
chính sách ưu đãi khác nhau theo từng vùng. Khi đầu tư vào các KCN Thái Lan,
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế, phí, giá và cơ chế quản lý một cửa.
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
20
c
v
c
v
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
tài chính được tập trung nhiều nhất cho vùng III. Vùng III là vùng ưu đãi nhất.
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
Đồng thời, Thái Lan cũng quy hoạch ngành theo vùng ưu đãi đầu tư. Nhiều
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
ngành công nghiệp không được phép đầu tư vào Vùng I mà chỉ được phép đầu tư
v c
v c
v c
v
c
v c
v c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
sản xuất thức ăn gia súc, dầu thực vật; nước uống coca, đường ăn, sản phẩm may
v
c
v
c
v c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
mặc thông thường, lưới đánh cá,... phải đặt ở vùng III. Nhìn chung, các ngành
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
cần nhiều lao động giản đơn, dễ gây ô nhiễm, cần sử dụng nguyên liệu ngành
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
nông nghiệp được quy hoạch xa Bangkok và 5 tỉnh lân cận. Đây cũng là kinh
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
nghiệm đối với Việt Nam nói chung và các địa phương như Hà Nội nói riêng
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
trong việc thu hút đầu tư theo quy hoạch và bố trí các KCN. Thái Lan quan tâm
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
ngay từ đầu việc cung cấp đầy đủ cơ sở hạ tầng cơ bản có lợi cho các KCN, nhất
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v c
v
c
c
c
c
c
c
c
c
v
v
v
chuyển giao khoa học công nghệ giữa các nhà công nghiệp. [7, tr.46].
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
- Tại Singapore: Là một trong năm con rồng Châu Á, Singapore rất coi
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị và công nghiệp đồng bộ
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường. Hai mục tiêu phát triển cùng được quan tâm
v
c
v
c
v c
v c
v c
đồng thời, đó là phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong sạch. Những năm
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
1960 Singapore khuyến khích phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động
v
c
v
c
v
c
v
c
v
nhằm giải toả tình trạng thất nghiệp. Những năm 1970 phát triển công nghiệp
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
21
v
c
v
v
v
v
v
v
v
c
c
c
c
c
c
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
thuật hạ tầng đến các xí nghiệp công nghiệp. Các nhà máy xí nghiệp công
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
nghiệp đều có thể thuê mặt bằng có sẵn để sản xuất. Chính phủ Singapore rất chú
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
người lao động, đảm bảo tiết kiệm thời gian tăng năng suất lao động. Các KCN
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
được quy hoạch phân tán quanh trung tâm thành phố. Một đặc điểm khác biệt
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
của Singapore là đa số các ngành công nghiệp đều nhập nguyên liệu từ nước
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
ngoài vào để sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đi nước ngoài bằng một hệ thống
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
cảng biển được đầu tư hiện đại bậc nhất thế giới, đường hàng không, đường bộ
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
đều rất thuận lợi. Nét nổi bật trong quản lý nhà nước các KCN tại Singapore là
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
quy hoạch KCN không chỉ giải quyết vấn đề về hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v c
v
v c
v c
v c
c
c
v
v
v
v
v
v
v
v
v
v
v
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v c
v c
v c
1.3.1. Một số công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài
v c
v c
v
c
triển bền vững các khu công nghiệp
v c
c
v
trường-du lịch đồng bộ và hỗ trợ cho nhau [7,tr.78].
1.3. Một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý phát
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v c
v c
v c
v
c
v
c
v c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
v
v
v
Park, Joon and Ahn, Kun-hyuck (2003),“How did immigrant workers
v
c
c
c
c
c
v
c
v
c
change residential area near industrial estate in Korea” đã tiến hành nghiên
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
tăng nhanh chóng của dân cư trong khu vực buộc Wongok phải mở rộng khu dân
v c
v
c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
bằng cách khuyến khích các DN trong KCN cải tiến công nghệ sản xuất vừa
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
v
v
v
v
v
v
v
v
nâng cao năng suất vừa giảm ô nhiễm môi trường [21].
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002),“Khu công nghiệp và KCX ở các tỉnh phía
v
c
c
c
c
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
Nam” giới thiệu KCN, KCX ở các tỉnh phía nam và các dự án đầu tư trực tiếp
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
nước ngoài đã đầu tư vào đây, đồng thời đề tài nghiên cứu cấp bộ “Nghiên cứu
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
mô hình tổ chức quản lý nhà nước về KCN, KCX ở Việt Nam” đã đề xuất một số
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
tác quản lý nhà nước đối với các KCN nhằm tiếp tục phát triển các loại hình
v
c
v
c
v
c
c
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
v
v
v
KCN [15].
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
c
v
v
v
v
v