BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
HOÀNG THỊ HUYỀN CHÂM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề
tài khác; những phát hiện đưa ra trong Luận văn là kết quả nghiên cứu của tác giả
luận văn.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Huyền Châm
DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ, cụm từ cần viết tắt
Nhà xuất bản
Chính phủ
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ủy ban nhân dân
Ký hiệu
NXB
CP
Bộ TN&MT
UBND
Nghị định
NĐ
Nghị quyết
NQ
Thông tư
TT
Quyết định
QĐ
2.1.2. Các hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ................42
2.1.3. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai ........................................................................................................................45
2.1.4. Giải quyết khiếu nại về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ..54
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai tại thành phố Hải Phòng ............................................................................56
2.2.1. Tổng quan chung tình hình xử lý vi phạm hành chính về đất đai trên địa
bàn thành phố Hải Phòng .......................................................................................56
2.2.2. Một số nhận định, đánh giá về tình hình xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng ...............................................63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................77
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI .................................................78
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai ................................................................................................................78
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai .................................................79
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai ........................................................................................................................79
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai ....................................................................................88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................94
KẾT LUẬN ..............................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................97
MỞ ĐẦU
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu)
để xử lý, đảm bảo tính răn đe với những hành vi vi phạm về đất đai chưa đến mức
nguy hiểm phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong những năm gần đây, thành phố Hải Phòng là một trong những điểm
sáng của cả nước với tốc độ tăng tổng sản phẩm toàn thành phố 16,25%, gấp 2,4 lần
bình quân chung cả nước; thu nhập bình quân đầu người đạt 4.277 đô la Mỹ; chỉ số
sản xuất công nghiệp tăng 25,01%, gấp 2,5 lần bình quân chung cả nước; tổng vốn
đầu tư toàn xã hội ước đạt gần 96.500 tỷ đồng, tăng 28,08%, chỉ số năng lực cạnh
tranh xếp thứ 9/63 tỉnh, thành phố, tăng 12 bậc so với năm trước đó; chỉ số cải cách
hành chính xếp từ thứ 2/63 đến thứ 5/63 tỉnh, thành phố và chỉ số đo lường sự hài
lòng của nhân dân và doanh nghiệp xếp thứ 8/63 tỉnh, thành phố. Kết cấu hạ tầng
tiếp tục có những phát triển đột phá, hạ tầng đô thị được nâng cấp, đầu tư mạnh mẽ,
các khu đô thị mới văn minh, hiện đại, đồng bộ được hình thành. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá; mô hình tăng
trưởng chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; khai thác tốt tiềm năng, lợi thế,
giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội; có nhiều đóng góp cho phát triển chung
của cả nước cũng như tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, liên kết
vùng và phát triển kinh tế đối ngoại.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa thì luôn tiềm ẩn những quan hệ pháp luật, những hành vi vi phạm cần
được điều chỉnh. Mặc dù hệ thống pháp luật về đất đai đã được ban hành tương đối
đầy đủ, đồng bộ nhưng trong quá trình áp dụng, triển khai trên thực tế không tránh
khỏi những bất cập, chồng chéo, không thống nhất, đồng bộ do sự thay đổi nhanh
chóng về các quan hệ dân sự, kinh tế qua các thời kỳ dẫn đến tình trạng vi phạm
pháp luật về đất đai diễn ra phức tạp, tinh vi, có nhiều trường hợp lợi dụng chính
sách để trục lợi.
2
Thanh Oai, thành phố Hà Nội.” Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý
đất đai, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015;
- Trần Thị Hương, “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên”, Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Khoa học
xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2018.
Nhìn chung, các công trình khoa học được công bố nêu trên đã đề cập tới vi
phạm pháp luật nói chung, vi phạm hành chính trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhưng các đề tài đều tập trung
nghiên cứu theo hệ thống pháp luật đất đai trước đây (Luật Đất đai năm 1993, 2003)
mà chưa có hoặc rất hạn chế tiếp cận theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành;
Đồng thời, các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn của việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
cũng như thực trạng áp dụng hệ thống pháp luật này trên thực tế để phát hiện ra
những khó khăn, vướng mắc, các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất,
thiếu khả thi để đưa ra các giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả quản lý và hoàn
thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ trung ương
đến địa phương, mà đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trên cơ sở kế thừa phương pháp nghiên cứu, cách thức tiếp cận vấn đề và
một phần kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố về vi
phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, luận văn đi
sâu tìm hiểu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành
phố Hải Phòng trên cả hai phương diện: phương diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai hiện hành để đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hạn chế các hành
4
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước
ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, về quản lý nhà
nước đối với đất đai, trong đó có xử lý vi phạm hành chính về đất đai nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của Triết học Mác - Lênin; kết
hợp với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả của Luận văn nhằm bổ sung những vấn đề lý luận về vi phạm hành
chính cũng như xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai dưới góc độ tiếp
cận từ thực tế của thành phố Hải Phòng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Đưa ra những đề xuất, giải pháp với các nhà hoạch định, xây dựng pháp
luật, quản lý Nhà nước nước và những người thi hành nhiệm vụ, công vụ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để tham khảo trong trong quá trình việc
xử lý công việc được giao. Đồng thời đây cũng là tài liệu có tính chất phục vụ cho
công tác nghiên cứu để các sinh viên đại học và học viên sau đại học nghiên cứu,
tìm hiểu về hệ thống pháp luật vi phạm hành chính nói chung và các quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm ba chương. Cụ thể như sau:
6
Chương 1: Những vấn đề lí luận về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về
chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp như sau: "Xử phạt vi phạm hành
chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá
nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính" [34, khoản 2 Điều 1], [35, khoản 2, Điều 1]. Kế thừa các quy
định của Pháp lệnh Xử phạt/xử lý vi phạm hành chính năm 1989, 1995, 2002,
khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 định nghĩa: “Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của
8
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân,… đã nêu được sự cần thiết phải đưa ra được
một khái niệm chính thức về vi phạm hành chính, bởi nó chính là cơ sở, căn cứ để
đưa ra các quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các vi
phạm hành chính [1, tr.336]. Trên cơ sở các khái niệm vi phạm hành chính đã được
thể hiện tại các văn bản pháp luật từ trước tới nay, các giáo trình phân tích, làm rõ
khái niệm vi phạm hành chính đã được “luật định”. Bên cạnh cách định nghĩa như
trên, thì cũng có ý kiến lại tiếp cận vấn đề dưới góc độ không hoàn toàn phụ thuộc
vào khái niệm đã được “luật định”. Có thể kể đến, Giáo trình Luật Hành chính Việt
Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt biên soạn, tác giả đưa ra khái niệm về vi phạm
hành chính như sau:
“Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái
pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành
chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và xã hội, trật tự
quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và
lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải
Đối với khái niệm tại giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS
Nguyễn Cửu Việt biên soạn, việc tác giả định nghĩa vi phạm hành chính mà không
nêu ra dấu hiệu nhận biết “không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật
phải bị xử lý vi phạm hành chính” là không đầy đủ, thiếu đi một dấu hiệu quan
trọng để phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm
pháp luật hình sự nói riêng.
Từ những phân tích nêu trên, theo học viên có thể rút ra kết luận về khái
niệm vi phạm hành chính như sau:
Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp
luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính
hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý Nhà nước, các quan hệ xã hội,
10
quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ mà không phải là tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính.
- Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai hiện hành
không định nghĩa cụ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, các
văn bản có hiệu lực trước đó bao gồm Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004
của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định
105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai có quy định: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy
định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm
các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [11, khoản 1 Điều 1]; “Vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý
của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về
đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu
chính” để chỉ các biện pháp phi hình sự như xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm
hành chính. Tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 có sử dụng khái
niệm “xử phạt vi phạm hành chính” chỉ các biện pháp xử phạt thông dụng như cảnh
cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm… Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 1995, 2002 không nêu định nghĩa mang tính lý luận về xử lý vi
phạm hành chính, mà chỉ đưa ra quy định: Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử
phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác [37, khoản 1 Điều
1], [38, khoản 1 Điều 1]; đồng thời, các pháp lệnh này quy định trực tiếp những
hình thức, biện pháp thuộc nội hàm của các chế định này.
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định cụ thể về xử lý vi
phạm hành chính, tuy nhiên, tại Điều 1 Luật này quy định về phạm vi điều chỉnh
như sau: “Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý
hành chính”, đồng thời, Luật này cũng định nghĩa:
12
“2. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp
dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực
hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính.
3. Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi
phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao
gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.” [30, khoản 2,3
Điều 2].
Có thể thấy, bản chất của hoạt động xử lý vi phạm hành chính là áp dụng
một số biện pháp cưỡng chế hành chính do pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ
chức vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý hành chính và khắc phục hậu quả do
hành vi vi phạm của mình gây ra. Theo cách định nghĩa tại các giáo trình, sách
hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được quy định cụ thể trong nghị
định xử phạt chuyên ngành, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
phải căn cứ trên các hành vi cụ thể được quy định tại các nghị định quy định về xử
phạt này.
Thứ hai, xử lý vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật do các chủ
thể có thẩm quyền quản lý hành chính thực hiện. Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 và Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính nói chung và chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
Thứ ba, xử lý vi phạm hành chính phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định. Việc tiến hành xử lý vi phạm hành chính đòi hỏi phải đúng
các quy định về trình tự, thủ tục. Kết quả xử lý vi phạm hành chính phải được thể
hiện bằng quyết định xử lý vi phạm hành chính đã có hiệu lực pháp luật. Xử lý vi
phạm hành chính được áp dụng theo trình tự do các quy phạm thủ tục của pháp luật
hành chính quy định (trình tự hành chính) chứ không phải trình tự, thủ tục tư pháp,
14
tố tụng. Việc áp dụng trình tự này có nhiều điểm khác biệt so với trình tự áp dụng
cưỡng chế hình sự và cưỡng chế kỷ luật.
Thứ tư, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạt động mang
tính quyền lực Nhà nước do các chủ thể được pháp luật trao quyền tiến hành và
được bảo đảm bằng mệnh lệnh Nhà nước. Điều này thể hiện qua quyền ra các quyết
định xử phạt vi phạm hành chính; quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;
quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có
thẩm quyền.
Thứ năm, hoạt động xử lý vi phạm hành chính bị kiểm soát bởi Nhà nước và
xã hội. Mối quan hệ trong xử lý vi phạm hành chính là mối quan hệ pháp luật giữa
người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị
xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành
chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;
- Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành
chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện
hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ
chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan phải xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai
Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [31, Điều 35]. Khoản 1 Điều 54 Hiến
pháp năm 2013 cũng quy định: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn
lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.” Trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đất đai còn là nguồn lực to lớn để phát triển
16
đất nước; các quan hệ đất đai tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã
hội. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng.
Đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đơn thuần là tư liệu
sản xuất mà còn là tài sản có giá trị lớn. Vì thế, các vi phạm pháp luật về đất đai
cũng tăng nhanh cả về chất và về lượng. Đặc biệt, hậu quả của vi phạm pháp luật về
đất đai đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế thường rất nghiêm trọng, có tác
động tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của
Nhà nước, công dân. Do vậy, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là yêu
cầu khách quan, cấp bách hiện nay. Yêu cầu này được thể hiện trên những điểm sau đây:
Một là, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai gây mất ổn định an ninh,
+ Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến nhóm hành vi chuyển mục đích sử
dụng đất không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
+ Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến nhóm hành vi xâm phạm quyền sử
dụng đất của người khác;
+ Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến nhóm hành vi về thực hiện quyền
của người sử dụng đất, quyền tài sản gắn liền với đất;
+ Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến nhóm hành vi xâm phạm đến hoạt
động quản lý Nhà nước về đất đai.
- Căn cứ trình tự, thủ tục áp dụng, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai có thể được chia thành các trường hợp như sau:
+ Xử lý vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản;
+ Xử lý vi phạm hành chính theo thủ tục có lập biên bản;
- Căn cứ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai có thể được phân loại thành các trường hợp như sau:
+ Xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân các cấp;
+ Xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Thanh tra chuyên ngành
đất đai;
18
+ Xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan khác.
Như vậy, đối với mỗi tiêu chí trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính thì
có thể phân chia thành các nhóm khác nhau. Căn cứ vào mục đích, tính chất công
việc có thể lựa chọn các tiêu chí khác nhau để phân loại.
1.1.4. Mục đích, ý nghĩa của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai nói riêng là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước nhằm
duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của cơ quan công quyền. Đây
cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền tài sản, cuộc sống hàng ngày của nhân