Tác giả nho học tân học và những đóng góp đối với thể loại tiểu thuyết quốc ngữ việt nam đầu thế kỷ XX (qua một số tác giả tiêu biểu) - Pdf 62

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI
VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX
(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI THỊ LAN HƯƠNG

TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỐI
VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX
(QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Vũ Thanh
2. PGS. TS. Trần Thị Hoa Lê

Tác giả luận án

Bùi Thị Lan Hương


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................3
5. Đóng góp mới của luận án.............................................................................6
6. Cấu trúc của luận án......................................................................................6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU.................................................................................................7
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.................................................................................7
1.1.1. Lý thuyết loại hình học văn học...........................................................7
1.1.2. Lý thuyết tự sự học..............................................................................11
1.2. GIỚI THUYẾT TÁC GIẢ NHO HỌC – TÂN HỌC...............................13
1.3. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU................................................17
1.3.1. Những công trình nghiên cứu về các tác giả Nho học - Tân học.....18
1.3.1.1. Những nghiên cứu về tác giả Nguyễn Chánh Sắt...............................18
1.3.1.2. Những nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh................................................21
1.3.1.3. Những nghiên cứu về Tản Đà.............................................................24
1.3.1.4. Những nghiên cứu về Nguyễn Trọng Thuật.......................................27
1.3.1.5. Những nghiên cứu về Ngô Tất Tố......................................................28
1.3.2. Những công trình nghiên cứu thể loại tiểu thuyết giai đoạn giao
thời và tiểu thuyết Quốc ngữ của tác giả Nho học - Tân học.....................31
1.3.3. Nhận xét chung....................................................................................36

3.2. TỔ CHỨC KẾT CẤU CỐT TRUYỆN....................................................91
3.2.1. Kết cấu cốt truyện vay mượn.............................................................92
3.2.2. Kết cấu cốt truyện sáng tạo................................................................99
Tiểu kết Chương 3........................................................................................102
Chương 4: TÁC GIẢ NHO HỌC- TÂN HỌC VỚI TIỂU THUYẾT
QUỐC NGỮ ĐẦU THẾ KỶ XX TRÊN PHƯƠNG DIỆN XÂY DỰNG
HỆ THỐNG NHÂN VẬT, GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ..................104
4.1. XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHÂN VẬT................................................104


4.1.1. Một số loại hình nhân vật tiêu biểu..................................................104
4.1.1.1. Nhân vật là con người đạo đức, có tình có nghĩa.............................105
4.1.1.2. Nhân vật là con người tài tử mang ảo mộng thoát ly.......................109
4.1.1.3. Nhân vật là con người bị áp bức, bóc lột đến cùng cực...................113
4.1.1.4. Nhân vật là con người bị tha hóa và tầng lớp quan lại, địa chủ.......115
4.1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật.........................................................118
4.1.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và nhân thân nhân vật.....................118
4.1.2.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật...................................................123
4.2. GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT..............................................................126
4.2.1. Giọng điệu triết lí, giáo huấn............................................................127
4.2.2. Giọng điệu bình luận thế sự..............................................................130
4.2.3. Giọng điệu cảm thương.....................................................................132
4.2.4. Giọng điệu hài hước, đả kích............................................................134
4.3. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT................................................................137
4.3.1. Xu hướng giảm dần câu văn biền ngẫu và từ Hán - Việt đến sự
gia tăng của ngôn ngữ đời sống..................................................................137
4.3.1.1. Xu hướng giảm dần của câu văn biền ngẫu......................................137
4.3.1.2. Sự giảm dần của lượng từ ngữ Hán - Việt........................................139
4.3.1.3. Sự gia tăng của ngôn ngữ đời sống..................................................141
4.3.2. Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm........................145

sự hình thành và phát triển của văn học đương thời, đặc biệt cho sự duy trì và tiếp
nối những thành tựu và ảnh hưởng của văn học quá khứ với nền văn học mới, trong
một bối cảnh khi mà đa số người sáng tác đã quay lưng hoặc tìm cách xóa bỏ dấu
vết của nền “cựu học”. Loại hình tác giả này, từ trước tới nay mới được các nhà
khoa học tiến hành nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ là những nhà văn riêng lẻ, độc
lập, hoặc tìm hiểu họ trên những phương diện khác mà chưa phải với tư cách là một
loại hình tác giả. Đôi khi những đặc điểm mang tính loại hình của họ như sự duy trì
trạng thái tiếp nối truyền thống trên các phương diện như đề tài, chủ đề, cảm hứng
tư tưởng hay những thủ pháp nghệ thuật, ngôn từ, cách xây dựng hình tượng nghệ
thuật lại chỉ được coi là những hạn chế rơi rớt từ quá khứ. Những thành tựu của loại
hình tác giả Nho học - Tân học ở nhiều trường hợp lại bộc lộ ngay trong sự thể hiện

1


những vấn đề tưởng như đã cũ so với thời đại. Chính những thành tựu to lớn, cũng
như những vấn đề còn để ngỏ của nghiên cứu văn học đầu thế kỷ XX đã gợi ý cho
chúng tôi triển khai đề tài về các tác giả Nho học - Tân học và những đóng góp (cũng
như hạn chế) của họ cho sự hình thành và phát triển của văn học giai đoạn giao thời.
1.2. Lý do thực tiễn
Các tác giả trên, cũng như văn học đầu thế kỷ XX là đối tượng nghiên cứu và
giảng dạy của chúng tôi bấy lâu trong nhà trường đại học. Riêng sáng tác của Hồ
Biểu Chánh, Tản Đà và Ngô Tất Tố đã từ lâu được đưa vào chương trình ngữ văn từ
bậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông. Do vậy, đây là một đề tài rất thiết
thực, giúp cho chúng tôi cơ hội được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các hiện tượng văn
học quá khứ, nhất là văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX.
Với những lí do khoa học và lý do thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn đề tài
“Tác giả Nho học - Tân học và những đóng góp đối với thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ
đầu thế kỷ XX (qua một số tác giả tiêu biểu)” làm nội dung nghiên cứu trong luận án
của mình.

Tân học cho thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX từ tiếp cận thể
loại trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập trung tìm hiểu loại hình tác giả Nho học - Tân học giai đoạn giao thời
đầu thế kỷ XX và các sáng tác của họ ở thể loại tiểu thuyết, luận án đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
- Lý giải nguyên nhân, điều kiện lịch sử - văn hóa, xã hội và văn học ở giai
đoạn giao thời giữa hai thế kỷ đã góp phần hình thành nên loại hình tác giả Nho học
- Tân học và những đóng góp của họ cho sự phát triển văn học dân tộc. Đây sẽ là
bối cảnh có ý nghĩa quan trọng, góp phần hình thành một kiểu loại nhà văn mới
mang đặc trưng của giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kỳ, hai phạm trù văn học.
Từ đó, luận án bước đầu nhận diện một số đặc điểm mang tính loại hình quy định
đến sự lựa chọn cuộc đời, sự nghiệp, cũng như con đường mà các nhà văn đến với
sáng tác tiểu thuyết Quốc ngữ; những đổi thay trong quan niệm văn học, quan niệm
thẩm mỹ của họ cũng cho thấy sự khác biệt giữa tác giả Nho học - Tân học so với
các kiểu loại tác giả khác đương thời.
- Nhận diện các sáng tác tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ của tác giả Nho học
- Tân học trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật cơ bản: hệ thống đề tài - chủ
đề, kết cấu cốt truyện; xây dựng nhân vật, giọng điệu nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau đây:

3


4.1. Phương pháp loại hình học và nghiên cứu văn học theo thể loại
Loại hình học văn học hướng tới việc xác định và chỉ ra những đặc điểm chung
mang tính loại hình tác giả và thể loại tác phẩm văn học. Tuy nhiên, để tránh sơ lược
hóa và khiên cưỡng vấn đề, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi luôn


mệnh nghệ thuật riêng, đồng thời tham gia kiến tạo những điểm chung của hệ thống đó.
Giữa các tác giả Nho học - Tân học, cũng như giữa các tiểu thuyết Quốc ngữ của họ sẽ
cùng mang những đặc điểm chung của loại hình tác giả, tác phẩm song vẫn có những
điểm riêng ít nhiều độc đáo. Đây chính là điểm bổ sung cho tiếp cận từ lý thuyết cũng
như phương pháp loại hình sẽ được chúng tôi bàn kĩ hơn ở Chương 1 của luận án.
4.4. Phương pháp so sánh – đối chiếu
So sánh văn học có thể đồng thời vừa được hiểu là phương pháp, vừa được
hiểu là thao tác tiếp cận trong nghiên cứu văn học. Vì thế, so sánh văn học đã phát
huy hiệu quả đáng kể trong nghiên cứu của chúng tôi ở luận án này. Trong quá trình
triển khai các nội dung, khi cần thiết chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp so sánh văn
học để nhìn nhận tác giả Nho học - Tân học trong tương quan với loại hình nhà nho
khác; so sánh các tác giả Nho học - Tân học và so sánh các tiểu thuyết Quốc ngữ
của các tác giả Nho học - Tân học với nhau. Cũng đồng thời, trong một số trường
hợp khác, khi cần thiết, chúng tôi cũng tiến hành so sánh các tiểu thuyết Quốc ngữ
của cùng một tác giả Nho học - Tân học để thấy được quá trình vận động của phong
cách nghệ thuật ở mỗi tác giả. Phương pháp và thao tác so sánh cùng đồng thời sẽ
kết hợp với phương pháp và thao tác đối chiếu để từng bước nhận diện và luận giải
thỏa đáng đặc điểm loại hình tác giả Nho học – Tân học trong tương quan với các
loại hình tác giả khác; đặc điểm tiểu thuyết của họ với tiểu thuyết của các loại hình
tác giả khác cùng thời kỳ.
4.5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Vận dụng phương pháp này cho phép chúng tôi nhìn nhận đối tượng nghiên cứu
trong mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Việt Nam bối cảnh giai đoạn giao thời.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành được vận dụng để tiếp cận văn học từ góc nhìn
văn hóa. Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi thấy được những nền tảng hình thành và
quá trình vận động, phát triển của các tác giả Nho học - Tân học trong bối cảnh lịch
sử, xã hội và tư tưởng, văn hóa lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, những nội dung được phản
ánh trong thể loại tiểu thuyết của các tác giả Nho học - Tân học cũng đồng thời là sự
phản ánh sinh động đời sống văn hóa lúc bấy giờ. Vì thế, việc tiếp cận tiểu thuyết của

lý thuyết và tổng quan vấn đề nghiên cứu (31trang, từ trang 7 đến trang 37); Chương 2: Điều kiện hình thành và đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học
giai đoạn đầu thế kỉ XX (33 trang, từ trang 38 đến trang 70); - Chương 3: Tác giả
Nho học - Tân học với tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX trên phương diện hệ
thống đề tài - chủ đề và tổ chức kết cấu cốt truyện (33 trang, từ trang 71 đến trang
103); - Chương 4: Tác giả Nho học - Tân học với tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ
XX trên phương diện xây dựng hệ thống nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ (47
trang, từ trang 104 đến trang 150).

6


Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong chương này, chúng thôi sẽ điểm qua một số cơ sở lý thuyết có liên quan
trực tiếp đến quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, bao gồm lý thuyết về loại hình học
văn học, lý thuyết tự sự và những công trình nghiên cứu đi trước có liên quan, làm cơ
sở cho việc đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo.
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1.1. Lý thuyết loại hình học văn học
Trước khi có những giới thuyết khái quát về lý thuyết loại hình học văn học,
trên cơ sở tham bác ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra cách
hiểu về khái niệm loại hình và khái niệm loại hình tác giả như sau:
Chữ loại hình (tiếng Anh và tiếng Pháp: type) cũng có nghĩa là kiểu, loại.
Loại hình là tập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào
đó, cùng có quan hệ cộng đồng về mặt giá trị.
Khái niệm loại hình tác giả dùng để chỉ tập hợp những tác giả văn học có một số
đặc điểm tương đồng về điều kiện hình thành, sự lựa chọn con đường lập nghiệp, sự hấp
thu nền học vấn và các học thuyết tư tưởng – chính trị hay đạo đức xã hội; hệ thống đề
tài - chủ đề trong sáng tác; hình tượng nghệ thuật, các vấn đề về thể loại và ngôn ngữ
trong sáng tác… Dù sự rạch ròi loại hình tác giả ở đây không phải lúc nào cũng rành

vấn đề, các hiện tượng của văn học dựa trên những tiêu chí, những cơ sở tương đối có
thể chấp nhận. Từ đây, các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến
một bộ phận không nhỏ tác giả, tác phẩm trong đời sống văn chương dân tộc thời
trung đại, cũng như thời cận hiện đại sau này.
Về vấn đề tác giả, loại hình học đã giúp các nhà nghiên cứu đề xuất những tiêu
chí xếp loại, xác định được đặc điểm của đội ngũ tác giả cũng như thời điểm hình
thành và đóng góp của họ cho lịch sử văn học dân tộc. Kể từ Trương Tửu với trường
hợp tác giả cụ thể là Nguyễn Công Trứ, việc ứng dụng lí thuyết loại hình học liên tục
được kế thừa và tỏ ra ưu việt trong nghiên cứu đội ngũ tác giả trong văn học trung
cận đại ở nước ta. Điều đó được thể hiện bằng hàng loạt công trình mang tính khái
quát của Trần Đình Hượu như: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930
[90], Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [88]… Có thể nói, bằng phương
pháp loại hình, Trần Đình Hượu đã đề xuất một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng cho
văn học trung cận đại. Ông đã chỉ ra tính quy luật của đội ngũ tác giả nhà nho và mối
quan hệ giữa loại hình tác giả nhà nho với văn chương Nho giáo thời trung cận đại.
Việc phân loại mẫu hình tác giả nhà nho đã tạo tiền đề cơ sở để tiến hành nghiên cứu
chuyên sâu và khu biệt được những nội dung tư tưởng cũng như đặc sắc nghệ thuật

8


của các mẫu hình nhà nho thời trung đại. Đó là văn học nhà nho (qua Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Đào Tấn, Nguyễn
Thông…); văn học nhà chí sĩ - kiểu nhà nho tiếp thu tư tưởng tư sản, tiên phong đi
làm cách mạng (qua Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, đặc biệt qua Phan Bội
Châu…); văn học nhà nho tài tử trong xã hội tư sản (qua Tản Đà); văn học giai đoạn
giao thời (qua sáng tác của nhiều kiểu nhà nho trong bối cảnh chuyển hướng từ văn
học Hán - Nôm sang văn học bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX); văn học hiện
đại qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông nhìn từ góc độ
tính liên tục của lịch sử (qua trường hợp Tự lực văn đoàn)… Tiếp nối Trần Đình

hình, loại thể của văn học. Khi tư duy nghiên cứu hướng tới yêu cầu tổng hợp, phân
loại các hiện tượng văn học dựa trên những hệ tiêu chí khả dĩ có thể khái quát và thâu
tóm thành một “cộng đồng thẩm mỹ” nhất định, nói lên tư cách tồn tại của chúng, khi
ấy loại hình học văn học ra đời. Vận dụng lý thuyết loại hình học vào đề tài nghiên cứu
được chúng tôi cụ thể hóa qua những vấn đề sau:
- Về vấn đề tác giả: Loại hình học cho phép chúng tôi bước đầu nhận diện
đội ngũ tác giả Nho học - Tân học. Đây là những tác giả có những đặc điểm chung
ở sự tiếp nhận cả hai mô hình giáo dục là mô hình giáo dục theo kiểu Nho học và
mô hình giáo dục Tây học. Họ là những trí thức sinh ra trong bối cảnh giao thoa,
chuyển giao giữa hai thế kỉ, phải chứng kiến sự giao tranh giữa văn hóa truyền
thống với văn hóa phương Tây hiện đại;
- Về vấn đề tác phẩm: Vận dụng lý thuyết loại hình để nghiên cứu thể loại
tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX qua sáng tác của các tác giả này. Đây vốn là
một thể loại có quy mô phản ánh hiện thực tương đối rộng lớn trên cả hai phương
diện nội dung và nghệ thuật:
+ Ở phương diện thể hiện nội dung tư tưởng: lý thuyết loại hình học giúp
chúng tôi chỉ ra được sự tương đồng trong việc nhà văn thể hiện mối quan tâm đến hệ
thống các đề tài, chủ đề cũng như hệ thống hình tượng nghệ thuật trung tâm trong
sáng tác của tác giả Nho học - Tân học. Mặc dù có những điểm khác nhau mang cá
tính sáng tạo riêng nhưng về cơ bản, sự lặp lại mang tính phổ biến ở một số đề tài chủ đề và hình tượng nghệ thuật trung tâm cho thấy sự gặp gỡ của các tác giả về nhu
cầu phản ánh hiện thực cũng như những thông điệp nhân sinh khác mà những tác giả
Nho học - Tân học muốn gửi gắm tới người đọc.
+ Ở phương diện thể hiện một số đặc điểm nghệ thuật: lý thuyết loại hình
giúp chúng tôi tổng hợp và từ đó sẽ chỉ ra sự tương đồng về mô hình tổ chức kết cấu
cốt truyện, về giọng điệu nghệ thuật cũng như ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Quốc
ngữ của các tác giả Nho học - Tân học.
Trong quá trình vận dụng lí thuyết, như các nhà nghiên cứu đi trước đã nhắc đến,
việc tuyệt đối hóa hay cực đoan ở bất kể chiều hướng nào đều sẽ dẫn đến những kết luận
không thỏa đáng, không phù hợp với thực tiễn của quá trình vận động, phát triển văn học
dân tộc. Vì thế, trong quá trình vận dụng lí thuyết loại hình, chúng tôi sẽ có sự kết hợp

nhất. Cùng một nội dung phản ánh, cùng một câu chuyện song cách tự sự, nghệ thuật
tự sự khác nhau sẽ mang lại những hiệu ứng khác nhau với người tiếp nhận. Tự sự có
trong các thể loại như tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn... và cũng có trong cả một
số thể loại khác như thơ trữ tình hay kịch (chúng ta vẫn nói tới cái gọi là tự sự trong
thơ hay kể chuyện trong thơ chẳng hạn). Có điều, với tư cách là một phương thức tái

11


hiện, phản ảnh đời sống thông qua các biến cố, các sự kiện, tình tiết, suy nghĩ, tâm
trạng... của nhân vật thì tự sự vẫn được vận dụng soi chiếu phổ biến hơn cả.
Khái niệm tự sự (narratology) vốn có thể được hiểu: hoặc là lý thuyết nghiên
cứu hình thức, quy luật vận động, tính chất của các tác phẩm tự sự với các chất liệu
khác nhau, nghiên cứu năng lực tự sự của chủ thể sản sinh và đối tượng tiếp nhận
tác phẩm tự sự. Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm nội dung của câu chuyện ra
sao và hình thức trần thuật của nó như thế nào, trong mối quan hệ của chúng với
nhau; tự sự cũng được hiểu là một biểu đạt văn tự đối với sự kiện câu chuyện (nghĩa
là theo hướng này, người nghiên cứu sẽ ít quan tâm đến bản thân câu chuyện mà
quan tâm chủ yếu là diễn ngôn tự sự. Như thế, trong hướng tập trung thứ nhất của tự
sự học, người nghiên cứu sẽ quan tâm đến tác phẩm tự sư trong tính trọn vẹn của
chỉnh thể tác phẩm. Các phương diện của nội dung cũng như nghệ thuật của tác
phẩm tự sự sẽ được quan tâm luận giải thỏa đáng trong mối quan hệ qua lại giữa
chúng. Còn trong hướng tập trung thứ hai, nhà nghiên cứu sẽ hạn định sự quan tâm
của mình vào biểu đạt ngôn từ (tức sẽ đi sâu vào lời văn) mà bỏ qua các yếu tố
thuộc về nội dung tác phẩm, thậm chỉ bỏ qua nhiều phương diện khác của nghệ
thuật tác phẩm. Dù sao thì việc cực đoan một trong hai chiều hướng này đều khiến
cho việc nghiên cứu với những trường hợp cụ thể chưa thật thỏa đáng. Tự sự học,
thực chất là khoa học nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan
như chúng tôi đã nhắc phía trên. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, nhìn chung, tự
sự học tìm cách phân biệt giữa việc kể “cái gì” và “kể như thế nào”, và từ đó làm

nho tân học thì các tác giả này, trước hết phải là nhà nho đã. Trong bối cảnh lịch sử
xã hội, cũng như tư tưởng văn hóa Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
khái niệm “nhà nho” đã dần mờ nhạt. Việc gọi những tác giả này là nhà nho có thể
đã không còn chính xác nữa. Đó là lí do chúng tôi mạnh dạn sử dụng thuật ngữ
“Tác giả Nho học - Tân học” để chỉ loại tác giả chịu ảnh hưởng của hai hệ tư tưởng
là Nho học và Tân học mà chúng tôi sẽ bàn kĩ hơn dưới đây. Thuật ngữ Nho học Tân học, theo chúng tôi là có thể ít nhiều tránh được sự chủ quan trong quá trình
nghiên cứu đề tài luận án này.
Nhà nho (cũng có thể viết là nhà Nho - chữ Nho viết hoa) chỉ những người
theo học khoa cử chữ Hán một cách trường quy lẫn phi trường quy, chịu ảnh hưởng
của hệ thống giáo dục, của hệ tư tưởng, giáo lý Nho giáo. Những khái niệm như nhà
nho, Nho học, Nho gia hay Nho giáo đều có liên quan mật thiết đến ý thức hệ, tư
tưởng, giáo lý, giáo dục Nho giáo thời trung đại. Nhà nho là một loại hình nhân cách
của Nho giáo, mang ý nghĩa khu vực bởi sự lan tỏa ảnh hưởng của nó từ Trung Hoa
đến các nước lân cận như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Những nhà nho này khi
sáng tác thì văn học của họ thuộc bộ phận văn chương Nho giáo (hay văn học mang

13


tư tưởng Nho giáo) và họ được gọi là tác giả nhà nho (để phân biệt với tác giả Thiền
sư, tăng lữ; tác giả vua chúa - quý tộc…).
Với loại hình tác giả nhà nho, nhiều nhà nghiên cứu đã mặc nhiên phân loại và
thừa nhận sự tồn tại hai loại hình nhà nho đại diện cho hai thế năng ứng xử cơ bản
của Nho giáo là nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật. Trong đó, nhà nho hành đạo
xuất hiện sớm hơn, cùng với quá trình hình thành quốc gia phong kiến độc lập Việt
Nam và đội ngũ cũng đông đảo hơn so với nhà nho ẩn dật. Nhà nho ẩn dật xuất hiện
muộn hơn, vào khoảng cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, vận động và phát triển từ đó
cho đến hết thế kỷ XIX. Nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật được coi như một “cặp
song sinh” tuy sớm muộn có khác ít nhiều và họ có những đóng góp quan trọng đối
với quá trình hình thành và phát triển của văn chương Nho giáo riêng, văn học dân

nhiều năm theo đòi chữ nghĩa thánh hiền và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền học vấn
này như Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Bá
Học… Do những biến thiên của thời cuộc, những nhà nho này đã chuyển sang viết
văn bằng chữ Quốc ngữ dưới tác động của một quan niệm văn học mới, một phương
thức sáng tác mới nhưng vẫn duy trì một cách ít nhiều có ý thức những ảnh hưởng
của cách viết và những quan niệm nghệ thuật truyền thống trung đại.
Trên cơ sở như vậy, chúng tôi quan niệm như sau, tác giả Nho học - Tân học,
trước hết là những nhà văn được học hành và chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng
Nho học và nền học vấn truyền thống. Do hoàn cảnh lịch sử buổi giao thời, họ đồng
thời cũng được học tập và chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và nền học vấn mới
ảnh hưởng của phương Tây, tuy mức độ ảnh hưởng ở mỗi tác giả là khác nhau. Từ đó
hình thành một thế hệ các nhà cầm bút mới - những con người của hai thế kỷ, mang
trong mình đặc trưng của thời kỳ quá độ, giao thời giữa cái cũ và cái mới. Đây là một
kiểu loại tác giả chứa đựng trong họ rất nhiều yếu tố phức tạp mang tính thời đại,
mang đặc trưng của sự chuyển giao loại hình từ kiểu tác giả nhà nho sang tác giả văn
học hiện đại. Đội ngũ tác giả Nho học - Tân học, một mặt vẫn mang những khát vọng
có phần phi thực tế như các nhà nho trước đó: muốn thực hiện giấc mộng “kinh bang
tế thế” và “cải cách xã hội” bằng văn chương, họ đề cao vai trò cải tạo xã hội, thay
đổi xã hội của văn chương; song mặt khác, họ cũng nhìn thấy được những đổ vỡ của
luân lý Nho giáo trong thời buổi bấy giờ, từ đó hướng ngòi bút của mình đến sự phản
ánh hiện thực. Dưới đây, chúng tôi xin được làm rõ một số điểm cơ bản theo quan
niệm của chúng tôi về tác giả Nho học - Tân học như sau:
- Thứ nhất, tác giả Nho học - Tân học trước hết phải là những người theo
Nho học, ở họ có sự kết hợp của hai ý thức hệ tư tưởng là ý thức tư tưởng Nho giáo
và ý thức tư tưởng mới (tiếp thu từ văn hóa tư tưởng phương Tây được truyền vào

15


Việt Nam đầu thế kỷ XX). Tác giả Nho học - Tân học hiểu một cách đơn giản nhất

cũng như những vấn đề mà xã hội quan tâm lúc bấy giờ.

16


Trên đây là quan niệm cũng như những kiến giải bước đầu của chúng tôi về
loại hình tác giả Nho học - Tân học. Chúng tôi sẽ có những luận giải kĩ hơn về nội
dung này ở chương 2, tiểu mục 2.3.2 - Nhận diện loại hình tác giả Nho học - Tân học
đầu thế kỷ XX. Với quan niệm như vậy, phần tiếp theo của chương này, chúng tôi sẽ
điểm qua những công trình nghiên cứu cơ bản về loại hình tác giả Nho học - Tân học
cũng như về sự đóng góp của họ đối với quá trình hình thành, phát triển thể loại tiểu
thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX.
1.3. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước quan tâm trên nhiều phương diện và từ đây cũng đã xuất hiện nhiều
công trình khoa học đáng chú ý. Nhưng tùy theo từng thời điểm, giai đoạn, hoàn cảnh
lịch sử xã hội mà vấn đề này được quan tâm ở mức độ này hay mức độ khác. Và cũng
cần phải khẳng định rằng dù đã được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh nhưng cho đến
nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu và thật đầy đủ về loại hình tác giả Nho học Tân học và đóng góp của họ cho quá trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX. Thông
thường các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một tác giả (như Tản Đà, Hồ Biểu
Chánh…), một tác phẩm (như Giấc mộng con, Quả dưa đỏ…), mà thiếu một cái nhìn
cặn kẽ, đầy đủ, thấu triệt về loại hình các tác giả Nho học - Tân học trong nền văn xuôi
Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Tuy vậy, tình hình nghiên cứu văn học Quốc ngữ nói chung và
tiểu thuyết của các tác giả Nho học - Tân học nói riêng không phải không có những công
trình mang tính “khơi dòng”. Nếu nhìn từ góc độ không gian địa lý thì có thể chia các
công trình nghiên cứu thành hai khu vực: Ở trong nước và ở nước ngoài; nếu căn cứ vào
thời gian lịch đại thì có thể chia thành các mốc thời gian cụ thể như sau: trước năm 1945,
từ năm 1945 đến năm 1986, từ sau năm 1986 đến nay; nếu căn cứ ở đối tượng nghiên
cứu có thể phân chia thành: các công trình chung về văn xuôi Quốc ngữ giai đoạn đầu
thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về tác giả và loại hình tác giả Nho học - Tân học

bức và đề cao khát vọng hạnh phúc gia đình, công bằng xã hội. Tư tưởng ấy xuất phát
từ lập trường đạo đức - một thứ đạo đức có tính chất nhị nguyên, vừa mang màu sắc
phong kiến vừa mang màu sắc dân gian” [72]…
Trong Từ điển Văn học (Bộ mới), Nguyễn Huệ Chi đưa ra những đánh giá xác
đáng về sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt: “Là người có vốn Hán học sâu rộng, lại quen
dịch truyện Tàu, sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt ảnh hưởng khá rõ thể loại truyện chí
thông tục của Trung Quốc, lấy cốt truyện theo tuyến tính làm đường dây phát triển, lấy
hành động của nhân vật thay cho khắc họa tâm lý tính cách. Phần lớn các truyện đều
kết cấu theo hình thức chương hồi, nhưng không có truyện nào thật dài” [162, tr.1122].

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status