Những thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm khi Việt Nam gia nhập WTO - Pdf 33

PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................
............................................................................................................................................................
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM RỦI RO
1.1. Một số vấn đề chung về bảo hiểm
1.1.1. Bảo hiểm rủi ro và nguyên tắc hoạt động
1.1.1.1. Khái niệm
1.1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm rủi ro
1.1.1.3. Nguyên tắc hoạt động
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm rủi ro
1.2. Thị trường bảo hiểm.
1.2.1. Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm
1.2.2. Các yếu tố trong hợp đồng bảo hiểm
1.2.3. Các sản phẩm của bảo hiểm rủi ro
1.2.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm
1.2.3.2. Phân loại dựa vào tính chất nghiệp vụ của các loại bảo hiểm
CHƯƠNG II: THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
2.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
2.2. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến
bảo hiểm
2.2.1. Nội dung các cam kết
2.2.1.1. Những cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tại WTO
2.2.1.2. Các cam kết của Việt Nam tại Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
2.2.2. Những ảnh hưởng đến bảo hiểm Việt Nam của các cam kết trên.
2.2.2.1. Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
2.2.2.2. Về các cam kết hiện diện thương mại
2.2.2.3. Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc
2.2.2.4. Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau
2.3. Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay
2.3.1. Trước khi Việt Nam gia nhập WTO
2.3.2. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Với hình thức kinh doanh là loại hình bảo hiểm rủi ro, các công ty bảo hiểm không chỉ
giúp hạn chế những thiệt hại không mong muốn mà còn mang lại cảm giác yên tâm cho
các cá nhân, tổ chức trong cuộc sống cũng như trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay làm thế nào để cho mọi người hiểu biết rõ về Bảo Hiểm rủi
ro và thấy được lợi ích to lớn của nó, từ đó thu hút được nhiều người tham gia là một vấn
đề đang gặp nhiều khó khăn. Để làm được điều đó cần phải được sự quan tâm chung của
các tổ chức xã hội, không chỉ riêng ngành Bảo Hiểm. Xuất phát từ những suy nghĩ đó nên
nhóm chúng tôi sẽ đi phân tích đề tài “ Đánh giá xu hướng phát triển của thị trường
bảo hiểm rủi ro sau khi Việt Nam gia nhập WTO”.

2


CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM RỦI RO
1.1. Một số vấn đề chung về bảo hiểm
1.1.1. Bảo hiểm rủi ro và nguyên tắc hoạt động
1.1.1.1. Khái niệm.
Bảo hiểm rủi ro là một loại hình bảo hiểm có lịch sử phát triển khá sớm. Khi giao
lưu hàng hóa được mở mang giữa các nước, rủi ro xảy ra cũng khá nhiều, đồng thời
trong quá trình của sống con người,nhiều yếu tố ngẫu nhiên cũng xảy ra đe dọa trực tiếp
đến tính mạng tài sản của họ. Để đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất và đời sống
các nước đã có nhiều cách bảo hiểm khác nhau,bảo hiểm rủi ro là một trong các hình
thức đó, cho đến nay bảo hiểm rủi ro còn gọi là bảo hiểm thương mại và ở nước ta còn
gọi là bảo hiểm nhà nước.
Mục đích chính của bảo hiểm rủi ro là bồi thường những thiệt hại về của cải hay
sức khỏe tính mạng con người bằng cách đảm nhận những rủi ro đó.
Từ đó có thể hiểu: bảo hiểm rủi ro là hệ thống các quan hệ kinh tế gắn liền với
việc huy động các nguồn lực tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá
nhân tham gia bảo hiểm để lập quỹ bảo hiểm, phân phối và sử dụng chúng để trả bồi
thường cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ.

Để thực hiện nguyên tắc này các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bảo hieemr những rủi ro
không lường trước được chứ không bảo hiểm những rủi ro chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đã
3


xảy ra, đồng thời phải chủ động tìm kiếm khách hàng, đổi mới hoạt động kinh doanh,
mở rộng các nghiệp vụ…
- Nguyên tắc an toàn tài chính.
An toàn tài chính là một trong những nguyên tắc quan trọng đặc biệt của hoạt động bảo
hiểm rủi ro. Yêu cầu của nguyên tắc này là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải
đảm bảo năng lực tài chính để thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, có biện pháp ngăn ngừa
rủi ro làm mất khả năng chi trả dẫn đến nguy cơ phá sản.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm rủi ro
Vai trò của bảo hiểm rủi ro cũng chính là vai trò của các doanh nghiệp bảo hiểm trong
nền kinh tế. trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm có vai
trò rất to lớn.
Thứ nhất, góp phần ổn định sản xuất và đời sống.
Thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo
hiểm tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi bồi thường. Từ đó, hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp sẽ cao hơn đồng thời cũng mang lại sự an toàn chung cho xã
hội.
Thứ hai, góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm rủi ro không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho kinh
doanh và đời sống của con người mà còn hoạt động với tư cách là các tổ chức tài chính
trung gian để đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Doanh nghiệp được phép sử dụng nguồn
vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư nhưng phải tuân theo các nguyên tắc đã được quy định
của pháp luật.
Thứ ba, tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện
một nội dung trong các biện pháp rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế mức thấp nhất những

thường tổn thất.
- Người được bảo hiểm: là người vì tính mạng, sức khỏe của người đó khiến người tham
gia bảo hiểm đi đến kí kết hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm.
- Người được chỉ định hưởng bồi thường bảo hiểm: là người được tham gia bảo hiểm chỉ
định bằng văn bản với người bảo hiểm là người đó sẽ được nhận bồi thường bảo hiểm khi
có sự cố xảy ra hoặc khi người dược bảo hiểm bị chết.
1.2.2. Các yếu tố trong hợp đồng bảo hiểm.
- Đối tượng bảo hiểm: là những cái gì mà người tham gia bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm
hoặc do pháp luật quy định bắt buộc phải baỏ hiểm, có thể là thân thể con người, tài sản,
trách nhiệm dân sự…
- Rủi ro bảo hiểm: là mức độ hay khả năng xảy ra sự cố bảo hiểm, là một trong những sự
cố dự tính trong những điều kiện bảo hiểm mà khi những sự cố này xảy ra thì người bảo
hiểm bắt buộc phải tiến hành trả tiền bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm.
- Tai nạn bảo hiểm: Là sự cố bảo hiểm đã xảy ra kéo theo trách nhiệm của người bảo
hiểm phải bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm.
- Giá trị bảo hiểm: là giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm kí hợp đồng bảo hiểm.
- Số tiền bảo hiểm: là số tiền tính cho từng loại tài sản được bảo hiểm mà trong giới hạn
đó người bảo hiểm phải tiến hành trả bồi thường tổn thất khi tai nạn bảo hiểm xảy ra đối
với bảo hiểm tài sản hoặc là số tiền phải trả cho đời sống và sức khỏe đối với bảo hiểm
thân thể.
- Phí bảo hiểm: là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải đóng góp cho người bảo hiểm
về các đối tượng bảo hiểm.
1.2.3. Các sản phẩm của bảo hiểm rủi ro.
1.2.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm.
- Bảo hiểm tài sản: là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là giá trị tài sản. Đây là
hình thức bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu dài. Mục đích của loại bảo hiểm này là thỏa
mãn nhu cầu về vật chất cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự cố bất ngờ như thiên
tai, hỏa hoạn, trộm cắp…làm cho tài sản của họ bị hư hỏng, mất mát hoặc bị tiêu hủy
toàn bộ.
Mức tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm cao hay thấp tùy thuộc vào tính chất

Mục đích: nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu cầu phải bồi thường
tổn thất cho người khác do những hành vi hoạt động của chính họ gây ra.
Phân loại:
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ hang hang không…
1.2.3.2. Phân loại dựa vào tính chất nghiệp vụ của các loại bảo hiểm
- Bảo hiểm bắt buộc: là hình thức bảo hiểm bắt buộc phảo bảo hiểm của pháp luật nhà
nước.
Đối tượng: cả người bảo hiểm lẫn người được bảo hiểm.
Đặc trưng: được thiết lập theo nguyên tắc trách nhiệm tự động,loại trừ khả năng lựa chọn
của người tham gia bảo hiểm.
Bảo hiểm bắt buộc gắn liền với việc tăng cường vai trò quản lí của Nhà nước đối với đối
tượng bảo hiểm có lien quan tới lợi ích và an toàn chung của xã hội. vì khi xảy ra rủi ro
với đối tượng bảo hiểm không chỉ gây hại cho cá nhân người được bảo hiểm mà còn gây
thiệt hại chung cho toàn xã hội.Loại bảo hiểm này có nhiều thuận lợi cho các nhà doanh
nghiệp bảo hiểm trong việc triển khai nghiệp vụ. Nguyên tắc số đông bù số ít được phát
huy tác dụng một cách triệt để bảo đảm doanh thu cho hoat động bảo hiểm.
Phân loại:
+ Bảo hiểm trách nhiệm của lái xe cơ giới
+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ thầu đối với công trình xây dựng
+ Bảo hiểm tai nạn hành khách đi lại trên các phương tiện giao thong
+ Bảo hiểm cho một số loại tài sản
- Bảo hiểm tự nguyện: là hình thức bảo hiểm dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, hợp đồng
bảo hiểm được kí kết theo những quy định và điều kiện của bảo hiểm đã được pháp luật
quy định.
Loại bảo hiểm này trước hết gắn với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, tùy theo
nhu cầu của bản thân để lựa chọn loại bảo hiểm phù hợp. Về phía người bảo hiểm cũng
phải chủ động linh hoạt trong hoạt động kinh doanh: xây dựng các phương án bảo hiểm
6

Petrolimex (PJICO), Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC), Công ty liên doanh
bảo hiểm Việt Nam (VIA), các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài…Các công ty
bảo hiểm đã triển khai được rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm trong đó có nhiều nghiệp vụ
mới như: bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nhân thọ…
Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt
động bảo hiểm. Ngược lại chính sự phát triển mạnh mẽ của ngành bảo hiểm đã khuyến
khích sự phát triển chung của nền kinh tế.
Quy mô hoạt động của bảo hiểm rủi ro Việt Nam ngày càng được mở rộng thể hiện qua
sự tăng trưởng của doanh thu từ hoạt động này. Mục tiêu của ngành bảo hiểm trong vài
năm trước là hoàn thành hơn nữa các nghiệp vụ bảo hiểm, mở rộng thị phần bảo hiểm và
tăng mức đóng góp vào GDP từ 0,58% như hiện nay lên 1,5% hoặc 2%.
2.2. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến bảo hiểm .
2.2.1. Nội dung các cam kết.
2.2.1.1. Những cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tại WTO
- Doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài được phép cung cấp vào Việt Nam các dịch vụ
bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài và người nước ngoài tại Việt
Nam. Ngoài ra họ còn được cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, vận tải quốc tế, môi giới bảo
hiểm, tư vấn, tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường cho thị trường bảo hiểm
Việt Nam.
- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo
hiểm bắt buộc cho đến ngày 01/01/2008 thì bãi bỏ hạn chế này.
Theo cam kết trên có thể hiểu các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và bảo hiểm
nhân thọ không bị hạn chế được đối xử quốc gia (doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam được
làm gì thì họ được làm cái đó). Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài chỉ bị hạn
chế sản phẩm bảo hiểm bắt buộc đến 01/01/2008 nhưng thực tế doanh nghiệp bảo hiểm
Việt Nam hưởng lợi không nhiều vì mới có sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới, sản phẩm bảo hiểm bắt buộc người kinh doanh vận tải hành khách
và hàng dễ cháy dễ nổ trên đường thuỷ nội địa. Các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc khác
như cháy nổ, người Việt Nam du lịch lữ hành quốc tế, xây dựng – lắp đặt, người sử dụng
8

nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam đã biết được các cam kết này và đã có thời
gian chuẩn bị ít nhất là 5 năm vừa qua.
2.2.2. Những ảnh hưởng đến bảo hiểm Việt Nam của các cam kết trên.
Thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường bảo hiểm
Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh cả về quy mô, chất lượng và cả sự ổn định trong thị
trường tài chính nói chung.
Theo Bộ Tài chính, tác động của các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong việc Việt
Nam cam kết gia nhập WTO có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh, tác động tích cực và
tiêu cực.
Quá trình hội nhập sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ được nâng cao, năng
lực thị trường được mở rộng, công nghệ quản lý mới được chuyển giao, trình độ đội ngũ
cán bộ được nâng cao...
Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn đến các khả năng gây bất ổn định nói chung
của thị trường tài chính, mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống
quy định quản lý chưa theo kịp được với mức độ mở cửa thị trường...
9


2.2.2.1. Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, các doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm
vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết
khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các
dự án, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không cần thành lập
pháp nhân tại Việt Nam.
Trong thời gian đầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số loại hình bảo
hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm đối tượng người nước ngoài và các dự án có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ trong nước (xét về mặt uy tín và năng lực tài chính) thì các cam kết này

10


Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực trên, điều kiện thị trường bảo
hiểm với sự có mặt của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cũng sẽ đặt ra một số
vấn đề như cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh để kiểm soát
hoạt động đa dạng của các doanh nghiệp này, song các vấn đề này có thể được kiểm soát
tốt nếu có những bước đi phù hợp trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của
thị trường.
2.2.2.3. Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc
Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật định gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với
hành khách; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Bảo hiểm cháy, nổ
và các loại bảo hiểm khác được quy định theo điều kiện phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt buộc khá lớn trong
tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ trọng phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm
bắt buộc này sẽ giảm tương đối qua thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị
trường được khai thác tốt hơn do các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành về năng lực
vốn cũng như trình độ chuyên môn. Do đó, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm có
vốn đầu tư nước ngoài cung cấp các dịch vụ này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến thị
trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng đến thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt
động trên thị trường và chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ.
2.2.2.4. Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau 1 năm
Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài
đều phải thực hiện tái bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với Tổng công ty cổ phần tái bảo
hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE). Vì vậy, thực hiện cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm
bắt buộc này sẽ có tác động kép, trước tiên là ảnh hưởng tới hoạt động của VINARE,
đồng thời ảnh hưởng đến tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.
Đối với những doanh nghiệp khác trên thị trường, cam kết này nếu được áp dụng chung

Hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế
Đến cuối năm 2006, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại nền kinh tế
là 34.400 tỉ đồng, chiếm 4,07% GDP và cũng có tốc độ tăng đáng kể nếu so với năm
2001, con số này chỉ là 1,06% GDP.
Đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu chính phủ, tiền gửi ngân
hàng. Phần còn lại là góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán và đầu tư trực tiếp vào các
cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống.
Tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể hiện tính chuyên
nghiệp. Hiện nay, mới chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm thành lập công ty quản lý quỹ và
2 doanh nghiệp bảo hiểm được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Điều này làm giảm
khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện vẫn chưa thể cho vay vốn trực tiếp hoặc mạnh dạn đầu
tư vào các lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu vì thiếu vắng các quy định cụ thể từ các cơ
quan chức năng. Do vậy, hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chưa cao.
Mục tiêu đến năm 2010, con đường còn dài
Có lẽ do chiến lược được lập khi thị trường bảo hiểm đang ở thời điểm hoàng kim,
với mức tăng trưởng gần 50% một năm, mọi người đang rất lạc quan nên đã đưa ra mục
tiêu “Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm
phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm. Tỷ
trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2%
năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần;
tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng trưởng tăng khoảng 14 lần so với năm 2002.

12


Tuy nhiên, ngay sau đó ngành bảo hiểm (nhất là bảo hiểm nhân thọ) bắt đầu rơi vào trạng
thái bão hòa, khi mà ba năm gần đây, tốc độ tăng số thu phí bảo hiểm đã chậm lại, với
mức bình quân hàng năm chỉ là 16%. Điều này dẫn đến kết quả là cuối năm 2006, doanh
thu bảo hiểm chỉ bằng 2,13% GDP, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại

cao chế độ quản lý Nhà nước, vừa tạo tính chủ động, sáng tạo cho doanh nghiệp bảo
hiểm, vừa bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và đã góp phần tích cực phát triển
thị trường bảo hiểm Việt .

13


Năm 2007 Bộ Tài chính đã cấp phép hoạt động cho Bảo hiểm Quân Đội, Cathay Life
và Great Eastern đưa tổng số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có mặt tại thị trường
Việt Nam là 23 doanh nghiệp, 9 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo
hiểm, 8 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Năm 2007, các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục nâng cao năng lực hoạt động, chấp
nhận cạnh tranh lành mạnh trong xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sôi động. Các doanh
nghiệp bảo hiểm đã chú ý tới đào tạo cán bộ bảo hiểm, đào tạo và sử dụng đội ngũ đại lý
bảo hiểm ngày càng có chất lượng. Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều đầu tư lớn
vào phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý và khai thác bảo hiểm.
Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng vốn với quy mô lớn cao hơn cả vốn pháp định,
tăng khả năng tài chính, tăng năng lực giữ lại và giảm bớt phần tái bảo hiểm. Một số
doanh nghiệp bảo hiểm đã chọn được đối tác chiến lược là những tập đoàn bảo hiểm, tài
chính hàng đầu quốc tế như Bảo Việt với HSBC, Bảo Minh với AXA, VINARE với
Swiss Re vừa thu được nguồn thặng dư vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm công
nghệ quản lý bảo hiểm, đầu tư và phát triển sản phẩm bảo hiểm mới.
Đặc biệt năm 2007, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chú trọng đầu tư nguồn vốn chủ sở
hữu và dự phòng nghiệp vụ đem lại lợi nhuận cao. Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm
đều thành lập bộ phận chuyên trách đầu tư, các doanh nghiệp có quy mô lớn đã thành lập
ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý quỹ.
2.3.2.1.1. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
 Tình hình chung
Năm 2007, bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 8.360 tỉ đồng tăng 31% so với 2006.
Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ đạt 4.500 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu gần 8.000 tỉ đồng, đầu

đóng góp 2% doanh thu 2006 (tạm tính) mới thu được 3 tỉ đồng hình thành quỹ tuyên
truyền và đảm bảo an toàn giao thông để đầu tư vào tuyên truyền giáo dục theo Nghị
quyết 32, QĐ 23 về đảm bảo trật tự an toàn giao thông và phát triển BHBB TNDS đối
với chủ xe cơ giới, hỗ trợ cho cơ quan công an tuần tra, kiểm soát giao thông và xử phạt
vi phạm. Nhìn chung, triển khai QĐ 23 đã góp phần tăng trưởng doanh thu bảo hiểm
TNDS chủ xe cơ giới, song vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc trong việc giải quyết, bồi
thường về người, thu thập hồ sơ từ cơ quan công an. Những vấn đề trên sẽ được giải
quyết trong năm 2008 thông qua việc sửa đổi Nghị định 115 và có thể sửa đổi QĐ 23.
Hiện tại, Hiệp hội đang triển khai đề tài phòng chống trục lợi bảo hiểm, xây dựng hệ
thống sửa chữa và cung cấp phụ tùng thay thế thống nhất giữa các doanh nghiệp bảo
hiểm.
 Bảo hiểm kỹ thuật:
Bảo hiểm kỹ thuật có doanh thu đứng thứ hai đạt 1.546 tỉ đồng, tăng 9,3% so với
2006. Bảo hiểm xây dựng lắp đặt đạt 760 tỉ đồng, tăng 13,4% so với 2006, bảo hiểm máy
móc thiết bị đạt 36 tỉ đồng, giảm 24% so với 2006, bảo hiểm thiết bị điện tử đạt 93,7 tỉ
đồng, tăng 7,2% so với 2006. Dẫn đầu doanh thu Bảo hiểm xây dựng lắp đặt là PVI 327
tỉ đồng, Bảo hiểm Bảo Việt 181 tỉ đồng, PJICO 46 tỉ đồng, GIC 40 tỉ đồng, BIC 36 tỉ
đồng, Samsung Vina 34 tri đồng. Dẫn đầu doanh thu bảo hiểm máy móc thiết bị là Bảo
hiểm Bảo Việt 9 tỉ đồng, UIC 7,3 tỉ đồng, PVI là 5 tỉ đồng, BIC 5,2 tỉ đồng, PJICO 4,5 tỉ
đồng, VIA 1,8 tỉ đồng. Dẫn đầu doanh thu thiết bị điện tử là PTI 74 tỉ đồng, Bảo hiểm
Bảo Việt 15 tỉ đồng, PJICO 2,2 tỉ đồng, AAA 1,8 tỉ đồng. Dẫn đầu doanh thu bảo hiểm
Dầu khí là PVI 333 tỉ đồng, Bảo hiểm Bảo Việt 13 tỉ đồng.
Nhìn chung, so với tốc độ tăng trưởng của FDI, đầu tư toàn xã hội trên 40% GDP,
sự tăng trưởng của Bảo hiểm kỹ thuật vẫn còn khiêm tốn. Năm 2007, các doanh nghiệp
bảo hiểm đã cử 27 cán bộ đi học tại Học viện Bảo hiểm . Các khuyến cáo của Hiệp hội về
hạ phí bảo hiểm, giảm mức khấu trừ, mở rộng điều khoản, điều kiện bảo hiểm vẫn chưa
15


được các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghiêm túc. Việc ban hành mẫu đơn Bảo

quyết để bán bảo hiểm bắt buộc) nên các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải bán bảo hiểm
tự nguyện. Một đối tượng khách hàng với số lượng không nhỏ là các cơ sở hoạt động từ
nguồn ngân sách Nhà nước như: bệnh viện, trường học, công sở … viện dẫn không được
duyệt kinh phí mua bảo hiểm nên không mua bảo hiểm.
Tình trạng cạnh tranh vẫn xảy ra gắt gao, nhiều doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đã mở
rộng nhiều điều kiện bảo hiểm bắt buộc thậm chí sang cả sản phẩm bảo hiểm tai nạn con

16


người, đổ vỡ máy móc, thiết bị để giành được dịch vụ, một số doanh nghiệp bảo hiểm
vẫn chấp thuận.
Trục lợi bảo hiểm vẫn không thể tránh được, nhiều khách hàng thông qua luật sư, tìm sơ
hở của hợp đồng bảo hiểm, hay dựa vào căn cứ kết luận của cơ quan công an cháy do
chập điện khác với kết luận của các công ty giám định độc lập để buộc doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường.
 Bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu:
Bảo hiểm thân tài và TNDS chủ tàu đạt doanh thu 809 tỉ đồng, tăng 30% so với
2006. Dẫn đầu là PVI 275 tỉ đồng, Bảo hiểm Bảo Việt 251 tỉ đồng, Bảo Minh 130 tỉ
đồng, PJICO 104 tỉ đồng. Tổng số tiền đã bồi thường 337,5 tỉ đồng chiếm 42% doanh
thu. Bồi thường có tỉ lệ cao là Bảo hiểm Bảo Việt 86%, PJICO 79%, Bảo Minh 54,3%,
VASS 47,7%, SS Vina 47,5%. Việc tăng doanh thu có một phần do phía Hội P&I tăng
phí. Bảo hiểm đóng tàu ngày càng tăng và các đội tàu đánh giá lại giá trị làm tăng thêm
giá trị của con tàu tham gia bảo hiểm.
Tình hình tổn thất trong năm 2007 tuy có ít hơn các năm trước nhưng vẫn ở mức độ cao.
Số tiền bồi thường trong năm cao do phải giải quyết các vụ bồi thường từ năm trước
chuyển sang. Tình hình cạnh tranh vẫn xảy ra gay gắt và ở mức báo động. Nhiều doanh
nghiệp tìm cách giảm phí bảo hiểm để giành giật khách hàng như bảo hiểm đóng tàu chỉ
trong rủi ro hạ thủy, bảo hiểm tàu pha sông, biển với phạm vi hoạt động ra ngoài hải phận
Việt …

Bảo hiểm phi nhân thọ năm 2007 có bước tăng trưởng đột phá cao nhất trong 5
năm trước. Song do cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp hạ phí bảo hiểm, tăng phần trợ
cấp cho các đại lý, làm giảm hiệu quả kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có kết
quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm không khả quan, thậm chí không có lãi do tăng tỉ lệ
bồi thường, doanh thu thấp do giảm phí và tăng chi phí, lãi thu được để chia cho cổ đông
chủ yếu từ lãi đầu tư. Tình hình này nếu kéo dài sẽ hạ uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm
và sức ép của cổ đông về cổ tức buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phải có sự thay đổi
chiến lược kinh doanh và quản lý. Tình hình tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm
trong nước với nhau vẫn chưa được xây dựng thành vấn đề đóng góp phát triển thị trường
bảo hiểm Việt Nam, phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam
và thể hiện tinh thần hợp tác, thiện chí giữa các thành viên của Hiệp hội Bảo hiểm Việt
Nam.
Năm 2008 sẽ có nhiều nguồn vốn FDI, ODA của năm 2007 được giải ngân. Vốn
FDI, ODA và đầu tư toàn xã hội 2008 tiếp tục tăng, nền kinh tế dự kiến tăng trưởng trên
8,5% là những thuận lợi cơ bản cho ngành bảo hiểm phát triển.
Năm 2008 cũng là năm dỡ bỏ rào cản cuối cùng về BHBB đối với doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, một số doanh nghiệp bảo hiểm mới sẽ
được phép hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập 2006, 2007 sau một
thời gian củng cố sẽ có những bứt phá vươn lên. Tình hình trên có thể đi đến những dự
đoán năm 2008 bảo hiểm phi nhân thọ sẽ đạt tốc độ tăng trưởng trên 30%, doanh thu đạt
trên 10.000 tỉ đồng hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm
đến năm 2010 và là thành tích chào mừng 15 năm thành lập ngành Bảo hiểm Việt Nam.
2.3.2.1.2. Bảo hiểm nhân thọ
 Tình hình chung
Năm 2007, thị trường Bảo hiểm nhân thọ tiếp tục phát triển trên cơ sở tăng trưởng
của nền kinh tế xã hội, GDP tăng 8,5%, thu nhập bình quân đầu người lên tới 825 USD,
tầng lớp trung lưu giàu có ngày một đông đảo, nhu cầu bảo hiểm y tế chất lượng cao, Bảo
hiểm hưu trí vượt trên Bảo hiểm xã hội (20 lần lương tối thiểu). Song Bảo hiểm nhân thọ
18


nhất trong 3 năm qua, tăng hơn năm 2006 là 29.71%, dẫn đầu là Prudential 532.606 hợp
đồng, Bảo Việt 524.151 hợp đồng, AIA 108.001 hợp đồng.
Số lượng hợp đồng hết hiệu lực trong kỳ là 919.158 giảm 24,38% so với năm 2006,
đây là dấu hiệu đáng mừng. Số hợp đồng hết hiệu lực cao nhất thuộc về Bảo Việt nhân
thọ 412.464 hợp đồng, Prudential 355.327 hợp đồng, AIA 70.491 hợp đồng.
Số lượng hợp đồng khôi phục trong kỳ là 156.910 hợp đồng giảm 35,05% so với
2006, chứng tỏ người tham gia bảo hiểm muốn lựa chọn sản phẩm bảo hiểm mới hơn là
khôi phục hợp đồng cũ. Prudential là doanh nghiệp có số hợp đồng khôi phục cao nhất

19


với 133.422 hợp đồng, tiếp đến là Dai-ichi 9.544 hợp đồng, Bảo Việt nhân thọ 6.650 hợp
đồng.
Tổng số hợp đồng có hiệu lực đến cuối năm 2007 là 7.336.167 hợp đồng, tăng 11.62
% so với năm 2006. Dẫn đầu là Bảo Việt Nhân thọ 3.290.997 hợp đồng, Prudential là
2.883.154 hợp đồng, AIA 471.123 hợp đồng.
 Trả tiền bảo hiểm
Trong năm 2007, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả cho hợp đồng đáo hạn và cho
người tham gia bảo hiểm gây sự cố bảo hiểm với số tiền là 2.204 tỉ đồng, tăng 5,29% so
với 2006. Dẫn đầu là Bảo Việt nhân thọ 1.556 tỉ đồng, Prudential 385 tỉ đồng, ManuLife
167 tỉ đồng.
Cả năm 2007, các doanh nghiệp bảo hiểm trả giá trị hoàn lại 1.228 tỉ đồng, tăng
10,60% so với năm 2006 cho các hợp đồng chấm dứt trước hạn. Vấn đề này cũng phản
ánh một phần tác động của thị trường chứng khoán, tiền gửi tiết kiệm, giá vàng hấp dẫn
cũng như giá cả lạm phát gia tăng làm cho kế hoạch tiết kiệm để đóng phí bảo hiểm của
nhiều gia đình gặp khó khăn, buộc phải chấm dứt hợp đồng trước hạn. Dẫn đầu chi trả
hoàn lại là Prudential 480 tỉ đồng, Bảo Việt nhân thọ 459 tỉ đồng, Dai-ich 77 tỉ đồng.
 Số lượng đại lý bảo hiểm
Số lượng đại lý bảo hiểm được tuyển dụng trong năm là 43.446 người tăng 3% so

Tóm lại:
Năm 2007, thị trường bảo hiểm Việt Nam trải qua năm đầu tiên kể từ khi Việt
Nam chính thức gia nhập WTO với những thành tựu đáng khích lệ: Doanh thu bảo hiểm
phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30%; Doanh thu bảo hiểm nhân thọ đạt 9.500
tỉ đồng tăng trưởng 12%. Dưới đây là 10 sự kiện của ngành bảo hiểm thương mại năm
2007 do Hiệp Hội Bảo Hiểm Việt Nam bầu chọn.
1. IPO 680 tỉ đồng của Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt đạt con số kỷ lục với
20.368 nhà đầu tư đăng ký, 13 đại lý lớn tham gia và tổng số nhà đầu tư trung gian tới
3.741, mở đầu cho việc đấu giá cổ phần của các Tập đoàn lớn sau này.
2. Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30%, cao nhất trong 5
năm qua, xấp xỉ chỉ tiêu chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm
2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với Bảo hiểm phi nhân thọ là 9.000 tỉ
đồng.
3. Doanh thu bảo hiểm nhân thọ đạt 9.500 tỉ đồng tăng trưởng 12% cao nhất trong 3 năm
qua, đồng thời với việc các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao chất lượng tuyển dụng, đào
tạo và sử dụng đại lý bảo hiểm, phát triển một số sản phẩm bảo hiểm mới đáp ứng nhu
cầu bảo hiểm y tế chất lượng cao, bảo hiểm tiền hưu trí vượt mức trần của bảo hiểm xã
hội và bảo hiểm trọn đời.
4. Chế độ quản lý nhà nước được hoàn thiện thêm một bước bằng việc ban hành NĐ 45
và NĐ 46 ngày 27/3/2007 và Thông tư 155, Thông tư 156 ngày 20/12/2007 hướng dẫn
thi hành luật kinh doanh bảo hiểm theo xu hướng minh bạch công khai chế độ quản lý
nhà nước và thủ tục hành chính, tăng cường tính chủ động cho doanh nghiệp bảo hiểm,
nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý kinh doanh bảo hiểm, nâng cao năng lực tài chính và
đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người tham gia bảo hiểm phù hợp với chuẩn
mực quốc tế và cam kết WTO.
5. Nhà nước sửa đổi và ban hành 2 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trong đó NĐ 130 Chính
phủ, Thông tư liên tịch BTC-BCA số 41 và QĐ 28/BTC ngày 24/4/2007 về chế độ bảo
hiểm cháy nổ bắt buộc, Thông tư liên tịch BTC-BCA số 16 và QĐ 23/BTC ngày
29/4/2007 về chế độ BHBB TNDS chủ xe cơ giới, tạo điều kiện pháp lý để bảo hiểm phát
triển.

thành tựu của năm 2007 chứng tỏ thị trường BHVN tiếp tục phát triển trong năm đầu
tiên gia nhập WTO.
1. Năng lực tài chính:
Đơn vị: tỉ đồng
Doanh nghiệp
Vốn điều lệ
· Phi nhân thọ
7.376
13 DNVN
6.185
9 DN nước ngoài
1.191
· Nhân thọ
5.940
1 DNVN
1.500
8 DN nước ngoài
4.440
· Tái BH (1)
672
· Môi giới BH (8) 424
Tổng cộng so với14.030,4
2006

Vốn chủ sở hữu
8.680
7.670
1.016
5.624
1.502

2006
6.381
8.481

22


3. Dự phòng nghiệp vụ:
Lĩnh vực
2006
Phi nhân thọ
3.489
DNVN
3.317
DN nước ngoài
171
Nhân thọ
24.219
DNVN
10.793
DN nước ngoài
13.426
Tổng cộng
27.708

2007
4.333
4.101
231
31.152


28,6%

28%

4. Đầu tư:
Lĩnh vực
Phi nhân thọ
DNVN
DN nước ngoài
Nhân thọ
DNVN
DN nước ngoài
Tổng cộng

28,6%

46,5%

2.3.2. 2.Những năm tiếp theo
Năm 2008, cùng với lộ trình mở cửa và những ưu đãi theo cam kết Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) sau một năm hội nhập, trên đà kinh tế - xã hội phát triển cao,
dòng vốn đầu tư FDI đạt con số kỷ lục 20,3 tỷ USD năm 2007, thị trường bảo hiểm đang
khởi sắc và tăng tốc với nhiều hứa hẹn mới...
Khởi sắc trở lại
Khác với những con số khiêm tốn và ảm đạm của năm 2006, năm 2007, thị trường
bảo hiểm Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. TS Phùng Đắc Lộc,
Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết: ngay đầu năm 2007, thị trường bảo
hiểm đã đánh dấu một sự kiện quan trọng, đó là sự góp mặt của Công ty bảo hiểm nhân
thọ (BHNT) Dai-ichi Nhật Bản vào thị trường trong nước thông qua mua toàn bộ cổ phần

toàn giao thông, đề phòng hạn chế tổn thất và bồi thường nhân đạo. Việc Tập đoàn Tài
chính Bảo hiểm Bảo Việt chọn HSBC là cổ đông chiến lược, Bảo Minh chọn AXA là cổ
đông chiến lược chứng tỏ các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã nằm trong tầm ngắm
chú ý để đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu quốc tế, đồng thời tận dụng
được kinh nghiệm, công nghệ, sản phẩm mới và hệ thống của đối tác chiến lược để phát
triển phân phối sản phẩm bảo hiểm, nâng cao uy tín thương hiệu của mình.Các doanh
nghiệp bảo hiểm đồng loạt tăng vốn phù hợp với quy định pháp luật, nâng mức vốn pháp
định lên 300 tỉ đồng đối với bảo hiểm phi nhân thọ, 600 tỉ đồng đối với bảo hiểm nhân
thọ, 200 tỉ đồng đối với bảo hiểm dầu khí hoặc vệ tinh hoặc bảo hiểm liên kết đầu tư, 10
tỉ đồng đối với thành lập chi nhánh thứ 21. Ngoài ra các doanh nghiệp bảo hiểm còn tăng
thêm vốn để góp vốn thành lập tài chính, chứng khoán... Việc tăng vốn điều lệ cao hơn
vốn pháp định giúp doanh nghiệp bảo hiểm mở rộng hoạt động kinh doanh sang các dịch
vụ tài chính nâng cao khả năng tài chính, nâng cao năng lực bảo hiểm làm giảm đi đáng
kể phải tái bảo hiểm ra nước ngoài đồng thời làm tăng uy tín và sự tin cậy của khách
hàng.Các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư vào nền kinh tế quốc dân trên 40.000 tỉ đồng
tương đương 2,5 tỉ USD bằng vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm (chủ yếu
là trung và dài hạn) góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Năm 2008 - bước tăng tốc mới.
Theo lộ trình gia nhập WTO, VN sẽ thực hiện các cam kết như bỏ quy định tái bảo
hiểm bảo hiểm 20% cho Công ty Tái bảo hiểm VN (Vinare); cho phép công ty bảo hiểm
có vốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc kể từ ngày 1.1.2008;
cho phép thành lập chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài sau 5 năm kể từ khi
gia nhập WTO, đối với dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ; cho phép thành lập công ty bảo
hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài và không hạn chế số lượng chi nhánh trong nước...Lộ
trình này đã và đang làm cho thị trường bảo hiểm trong nước sôi động hơn. Năm 2008,
nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, dòng vốn FDI năm 2007 là 20,3 tỷ USD, vốn ODA
là 5,3 tỷ USD chủ yếu được giải ngân năm 2008 sẽ là điều kiện thuận lợi để bảo hiểm
phát triển. Tổng đầu tư xã hội sẽ chiếm khoảng 42% GDP đòi hỏi bảo hiểm phải phát
triển mạnh hơn, có nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặc dù thành công năm
2007 là rất lớn nhưng các chuyên gia vẫn cho rằng, còn đến 90-95% tiềm năng thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status