BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN TIẾN NAM
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƢỜI BỆNH
VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH NINH BÌNH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN TIẾN NAM
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƢỜI BỆNH
VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH NINH BÌNH NĂM 2018
Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình; Tập thể cán bộ, viên chức của Phòng Công
tác xã hội của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, đã tận tình giúp đỡ tôi trong
quá trình thu thập số liệu để tôi có thể hoàn thành bản luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn những ngƣời bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, những ngƣời đã đồng ý tham gia nghiên cứu để
tôi có đƣợc số liệu báo cáo trong bản luận văn này.
Xin đƣợc cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi chia sẻ
kinh nghiệm học tập, động viên, khuyến khích tôi trong học tập và công tác.
Xin trân trọng cảm ơn.
Thái Bình, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
CBCCVC
Cán bộ công chức viên chức
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
1.1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. ............................ 3
1.1.1. Công tác xã hội ............................................................................... 3
1.1.2. Nhân viên công tác xã hội............................................................... 3
1.1.3. Y tế................................................................................................... 4
1.1.4. Bệnh Viện ........................................................................................ 4
1.2. Tổng quan về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế. ............................... 5
1.2.1. Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế trên Thế giới và Việt Nam ...... 5
1.2.2. Lịch sử phát triển công tác xã hội trong bệnh viện. ....................... 9
1.3. Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện............................................ 16
1.3.1. Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và
người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh. ............. 16
1.3.2. Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật: ........... 16
1.3.3. Vận động tiếp nhận tài trợ:........................................................... 17
1.3.4. Hỗ trợ nhân viên y tế: ................................................................... 17
1.3.5. Đào tạo, bồi dưỡng: ...................................................................... 17
1.3.6. Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của bệnh viện. ........... 18
1.3.7. Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại
cộng đồng (nếu có). ................................................................................. 18
1.4. Một số nghiên cứu về công tác xã hội. ............................................... 18
1.4.1. Một số nghiên cứu về vấn đề chung của CTXH trong bệnh viện: 18
1.4.2. Một số nghiên cứu về thực trạng CTXH trong bệnh viện: ........... 19
1.5. Sự hài lòng đối với dịch vụ khám chữa bệnh ..................................... 22
1.5.1. Sự hài lòng. ................................................................................... 22
1.5.2. Sự hài lòng của bệnh nhân. .......................................................... 22
gia các hoạt động công tác xã hội ................................................. 33
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhân viên y tế biết bệnh viện có thực hiện hoạt động từ thiện
và vận động, tiếp nhận tài trợ về kinh phí, vật chất ...................... 33
Bảng 3.6. Đánh giá của nhân viên y tế về việc hỗ trợ, tƣ vấn giải quyết các
vấn đề về công tác xã hội của bệnh viện ...................................... 34
Bảng 3.7. Đánh giá của nhân viên y tế về mức độ cung cấp dịch vụ công tác
xã hội tại bệnh viện ....................................................................... 34
Bảng 3.8. Kiến thức của nhân viên y tế về việc cử nhân viên của bệnh viện đi
tập huấn kiến thức về CTXH ........................................................ 35
Bảng 3.9. Kiến thức của nhân viên y tế về việc phối hợp đào tạo, bồi dƣỡng
kiến thức cơ bản cho ngƣời làm việc về công tác xã hội.............. 35
Bảng 3.10. Ý kiến chủ quan của nhân viên y tế về mức độ cần thiết của các
hoạt động hỗ trợ, tƣ vấn giải quyết các vấn đề công tác xã hội ... 36
Bảng 3.11. Ý kiến chủ quan của NVYT về mức độ cần thiết của các hoạt
động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật ..... 37
Bảng 3.12. Ý kiến chủ quan của nhân viên y tế về mức độ cần thiết của các
hoạt động vận động tiếp nhận tài trợ và hỗ trợ nhân viên y tế ..... 38
Bảng 3.13. Kiến thức của nhân viên y tế về các hoạt động công tác xã hội của
bệnh viện đã thực hiện .................................................................. 39
Bảng 3.14. Đặc điểm tuổi và giới của đối tƣợng nghiên cứu ......................... 41
Bảng 3.15. Đánh giá của ngƣời bệnh về thủ tục xử lý tiếp nhận hồ sơ ban đầu
của nhân viên y tế ......................................................................... 42
Bảng 3.16. Tỷ lệ ngƣời bệnh đƣợc đón tiếp, chỉ dẫn và cung cấp thông tin giới
thiệu về dịch vụ khám bệnh tại bệnh viện .................................... 42
Bảng 3.17. Tỷ lệ ngƣời bệnh đƣợc tƣ vấn, hỗ trợ tiếp cận các chƣơng trình,
chính sách về BHYT, trợ cấp xã hội trong khám chữa bệnh........ 43
Bảng 3.18. Tỷ lệ ngƣời bệnh nhận đƣợc sự quan tâm của bác sĩ về tình trạng
sức khỏe của mình trong quá trình khám và điều trị .................... 43
quan trọng đó, công tác xã hội đã đƣợc đƣa vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau,
nhƣ: Chăm sóc hỗ trợ những đối tƣợng thiệt thòi, yếu thế (trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt, ngƣời khuyết tật,…) trong toà án, trƣờng học và nhất là trong
lĩnh vực y tế [29].
Trong những năm gần đây, thực trạng quá tải bệnh viện, đặc biệt là các
bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ƣơng đã đặt ra cho ngành Y tế nhiều vấn
đề cần phải đƣợc đổi mới. Tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ƣơng và tuyến
tỉnh và tuyến huyện đã triển khai hoạt động CTXH với sự tham gia của đội
ngũ nhân viên y tế kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc
2
trong phân loại ngƣời bệnh, tƣ vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ
chăm sóc ngƣời bệnh… góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp
cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh. Một số mô hình tổ chức hoạt động
CTXH trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã đƣợc hình thành trong thực
tiễn nhƣ: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội…
thuộc bệnh viện hay nhóm công tác xã hội tham gia hỗ trợ ngƣời có
HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phƣờng [15],
[20], [28]…
Tuy nhiên, hoạt động CTXH trong Ngành Y nói chung và tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Ninh Bình nói riêng còn chƣa thực sự đạt đƣợc yêu cầu mong
đợi. Đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và
kinh nghiệm, chƣa đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng về kiến thức, kỹ năng nên thƣờng
thiếu tính chuyên nghiệp [18], [26].
Bởi vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Kiến thức, thực hành của nhân
viên y tế và sự hài lòng của người bệnh về công tác xã hội tại bệnh viện đa
khoa tỉnh Ninh Bình năm 2018” nhằm các mục tiêu sau đây:
1. Mô tả kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về công tác xã hội
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2018.
bằng cấp chuyên môn. Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng
phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức
hành động nhằm mục đích tối ƣu hoá sự thực hiện vai trò chủ thể của con
ngƣời trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình
cải thiện, tăng cƣờng chất lƣợng sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội.
4
1.1.3. Y tế
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Y tế là một ngành y học ứng dụng, chuyên
việc phòng, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ”.
Khoa học sức khỏe là một ngành thuộc khoa học ứng dụng nhằm mục
đích chăm sóc sức khỏe cho con ngƣời và động vật. Khoa học sức khỏe đƣợc
chia là hai ngành: sức khỏe công cộng (dự phòng) và sức khỏe lâm sàng.
Nghiên cứu, khảo sát và kiến thức, thái độ, kỹ năng về sức khỏe; và cách vận
dụng kiến thức đó vào việc giữ gìn sức khỏe, ngừa bệnh, chữa bệnh và hiểu
biết những chức năng tâm sinh lý, tâm lý, sinh lý, sinh hóa trong cơ thể con
ngƣời và động vật. Nghiên cứu dựa vào các môn khoa học thuần túy: sinh vật
học, sinh hóa học, vật lý học, tâm thần học, xã hội học, hành vi học, tâm lý
học, giáo dục và nâng cao sức khỏe.
1.1.4. Bệnh Viện
Bệnh viện hay nhà thƣơng là cơ sở để khám và chữa trị cho ngƣời
bệnh khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác. Đây là nơi tập
trung các chuyên viên y tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ
thuật viên xét nghiệm cận lâm sàng.
BVĐK là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết
các loại chứng bệnh. Tại đây bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một
khu riêng của ngành mình nhƣng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của
ngành khác để cộng tác chữa trị công hiệu - nhất là nghiên cứu những bệnh
khó chẩn đoán hay chữa trị. Các bệnh viện này thƣờng có phòng cấp cứu,
tránh xấu hổ, tƣ vấn về điều trị… Nhân viên xã hội cũng có thể tham mƣu
về kế hoạch xuất viện của ngƣời bệnh và theo dõi ngƣời bệnh sau khi ra
viện. CSSK tại gia đình và cộng đồng cũng rất cần có sự tham gia của nhân
viên xã hội. Họ có thể tham dự vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban
đầu tại cộng đồng nhƣ: truyền thông, giáo dục sức khoẻ, giúp các nhóm đặc
thù phục hồi, phát triển thể chất và tinh thần… Sự xuất hiện của nhân viên
xã hội trong CSSK tại cộng đồng là phƣơng thức để mở rộng mạng lƣới
6
CSSK đến với ngƣời dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tích
cực tham gia giải quyết những vấn đề sức khoẻ bằng chính khả năng của
mình và với các phƣơng pháp thích hợp. Đồng thời, CTXH còn cần thiết
phải đƣợc ứng dụng ở cấp hoạch định chính sách về CSSK. Ở nhiều nƣớc,
đặc biệt là các nƣớc đang phát triển, CSSK đƣợc xác định là một trong
những lĩnh vực của an sinh xã hội. Do đó, khi hoạch định những chính sách
về CSSK cần phải ứng dụng những tri thức của CTXH sao cho mọi ngƣời
dân đều có cơ hội đƣợc hƣởng lợi.
Ở Singapore, Philippines tại hầu hết ở các bệnh viện đều thành lập một
đơn vị chuyên đảm nhận hoạt động thực hành CTXH trong bệnh viện. Về cơ
cấu tổ chức có thể là một bộ phận trực thuộc bệnh viện do ngành y tế quản lý,
cũng có thể là một bộ phận độc lập hoạt động tại bệnh viện nhƣng do ngành
chủ quản (nhƣ ngành Lao động – thƣơng binh và xã hội ở nƣớc ta) quản lý.
Kinh phí để duy trì hoạt động có thể từ kinh phí Nhà nƣớc, song cũng có thể
huy động từ quỹ của ngƣời bệnh hoặc quỹ KCB tại bệnh viện do cộng đồng
quyên góp [50].
Hội CTXH Úc hiện có khoảng 6.000 thành viên và số nhân viên CTXH
trong cả nƣớc ƣớc tính khoảng 19.300 ngƣời; ở Mỹ, hiện có khoảng 500.000
nhân viên CTXH. Tại Úc, nhân viên CTXH đƣợc đào tạo 04 năm đại học và ít
nhất 980 giờ thực hành; nhân viên CTXH ở Mỹ đƣợc trang bị kiến thức tốt để
trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã đƣợc hình thành trong thực tiễn
nhƣ: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội…thuộc
bệnh viện hay nhóm CTXH tham gia hỗ trợ ngƣời có HIV/AIDS, nghiện ma
túy, trẻ tự kỷ, ngƣời cao tuổi, ngƣời bệnh tâm thần, giúp phục hồi chức năng
tại xã/phƣờng [9], [11], [12], [13]…
8
Sau khi đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, ngày 15/7/2011, Bộ Y tế
đã chính thức triển khai Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y
tế giai đoạn 2011 – 2020”, nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề y tế nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Hiện mô hình CTXH đang
đƣợc triển khai thí điểm ở bệnh viện Nhi Trung ƣơng (Hà Nội) và bệnh viện
Nhân dân 115 (TP Hồ Chí Minh) [3], [6].
Bệnh viện Nhi Trung ƣơng là một trong những bệnh viện đã thành lập
tổ CTXH sớm nhất ở nƣớc ta. Năm 2008, Tổ CTXH của bệnh viện đƣợc
thành lập. Với hoạt động giúp đỡ, chia sẻ với ngƣời bệnh; trợ giúp bác sỹ
trong KCB; theo dõi, chăm sóc ngƣời bệnh nhi mắc bệnh hiểm nghèo; gây
quỹ; tổ chức các sự kiện… Tổ CTXH đã góp phần xoa dịu nỗi đau bệnh tật
của bệnh nhi, trợ giúp đắc lực cho bác sỹ, tạo ra mối thiện cảm, sự gắn kết
giữa bệnh nhân - cơ sở y tế - ngƣời nhà bệnh nhân.
Việc triển khai thí điểm Đề án ở bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy
CTXH thực sự mang lại hiệu quả: Các nhân viên CTXH có vai trò tích cực
trong giải thích cho ngƣời dân về BHYT, về cơ sở vật chất của bệnh viện,
giải thích những thắc mắc của bệnh nhân trong quá trình điều trị và báo cáo
kịp thời diễn biến tâm tƣ của ngƣời bệnh với thầy thuốc để có hƣớng điều trị
tối ƣu [26].
Thực tế, tại hầu hết các bệnh viện, hoạt động KCB chỉ đƣợc thực hiện
bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y. Các biện pháp trị liệu về xã
hội chƣa đƣợc quan tâm. Do vậy, chƣa có chức danh chuyên môn về CTXH
ngƣời nhà ngƣời bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết
các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa
bệnh. Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tƣợng khắc phục những khó khăn về
10
xã hội để đạt đƣợc hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Nhân viên công tác
xã hội trong bệnh viện là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa bệnh nhân
và nhân viên y tế, giữa bệnh nhân và bệnh nhân, bệnh nhân và ngƣời nhà bệnh
nhân [32], [36],…Do đó, công tác xã hội trong bệnh viện thực sự có vai trò rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh. Công tác xã hội
không đơn thuần chỉ là công tác từ thiện trong bệnh viện, nhƣ các bữa ăn, nồi
cháo từ thiện cho bệnh nhân nghèo, tặng quà cho các bệnh nhân có hoàn cảnh
khó khăn,… Ngoài ra, công tác xã hội trong bệnh viện là một nội dung hoạt
động rất quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hoá lĩnh vực công tác xã
hội, góp phần không nhỏ vào công cuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức
khoẻ nhân dân [43].
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, với cuộc cách mạng công nghiệp; xã hội
phƣơng Tây đã bắt đầu phải chứng kiến nhiều vấn đề phức tạp mới với quy
mô rộng lớn. Trƣớc những vấn đề này, đã có nhiều hoạt động từ thiện của các
cá nhân, các tổ chức đƣợc thực hiện nhằm hỗ trợ nạn nhân vƣợt qua khó khăn.
Song, không những không thay đổi đƣợc tình hình mà còn tạo ra thói quen ỷ
lại trong các nhóm đối tƣợng yếu thế. Các hoạt động từ thiện chỉ có tác dụng
xoa dịu nỗi đau nhất thời, không tìm ra căn nguyên của vấn đề mà đối tƣợng
đang gặp phải cũng nhƣ không giúp đối tƣợng tìm ra cách tháo gỡ. Vào giữa
những năm 20 của thế kỷ trƣớc, những nhà hoạt động xã hội ở Anh, Mỹ từ
chỗ thấu hiểu sâu sắc những tác hại của cách làm từ thiện theo kiểu ban phát
đã bắt đầu mở các khóa đào tạo ngắn hạn đầu tiên về công tác xã hội và vận
dụng các môn Tâm lý, Xã hội học, Kinh tế học,… vào chƣơng trình đào tạo.
Cho đến giữa thế kỷ XX, công tác xã hội đã trở thành một ngành học đƣợc
trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật,… Các giải pháp nhằm tăng cƣờng
chăm sóc sức khỏe gồm có: nâng cao nhận thức của ngƣời dân về chăm sóc
sức khỏe; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào những hoạt động
12
chăm sóc sức khỏe; tôn trọng sự tự quyết và tự lực của cộng đồng đối với
các hoạt động chăm sóc sức khỏe; phổ cập các kỹ thuật thích hợp, thích ứng
với khả năng chi trả của ngƣời dân để tăng khả năng tiếp cận cho tất cả mọi
ngƣời. Cả bốn giải pháp này đều cần có sự ứng dụng của công tác xã hội.
Song, công tác xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối
quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của ngƣời bệnh, giữa ngƣời bệnh
với ngƣời thân, giữa ngƣời bệnh với những ngƣời xung quanh, giữa ngƣời
bệnh với cơ sở y tế,… Để làm đƣợc điều này, ngƣời làm công tác xã hội
phải tìm hiểu đặc điểm tâm lý, xã hội của ngƣời bệnh, hoàn cảnh thực tế mà
họ đang phải đối mặt cùng những mong muốn của họ. Từ đó tìm ra sự hỗ trợ
thích hợp dành cho thân chủ. Vì lẽ đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe,
bệnh viện là nơi cần có sự xuất hiện của công tác xã hội nhất. Ở Mỹ, công
tác xã hội lần đầu tiên đƣợc đƣa vào bệnh viện năm 1905 tại Boston và đến
nay hầu hết các bệnh viện đều có phòng công tác xã hội và đây là một trong
những điều kiện để các bệnh viện đƣợc công nhận là hội viên của Hội các
bệnh viện Mỹ [46].
Tại châu Á, hoạt động xã hội đƣợc công nhận đầu tiên tại Trung Quốc
là hoạt động xã hội về y tế tại khoa công tác xã hội bệnh viện tại Bắc Kinh,
thành lập năm 1921 bởi một nhân viên làm công tác xã hội Hoa Kỳ, Ida
Pruitt. Bộ phận này cung cấp các dịch vụ nghiên cứu xã hội, công tác thích
ứng, tái định cƣ; bên cạnh đó, đào tạo dịch vụ đƣợc tổ chức cho các nhân viên
xã hội - có thể đây là công việc đào tạo đầu tiên tại Trung Quốc.
Tại bệnh viện, nhân viên xã hội là một thành phần trong ê kíp trị liệu.
Nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, phƣơng pháp
khai hoạt động công tác xã hội với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y tế
kiêm nhiệm và tình nguyện viên nhằm hỗ trợ thầy thuốc trong phân loại ngƣời
bệnh, tƣ vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc ngƣời bệnh,…
14
góp phần làm giảm bớt khó khăn trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh. Một số mô hình tổ chức hoạt động công tác xã hội trong
bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã đƣợc hình thành trong thực tiễn nhƣ:
phòng công tác xã hội, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội,…
thuộc bệnh viện hay nhóm công tác xã hội tham gia hỗ trợ ngƣời có
HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phƣờng,…
Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội trong ngành hiện mới chỉ mang tính tự
phát, chƣa đƣợc điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý. Đội ngũ cán
bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chƣa
đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng về kiến thức, kỹ năng nên thƣờng thiếu tính chuyên
nghiệp, hiệu quả hoạt động chƣa đƣợc nhƣ mong đợi.
Hiện nay, ở cả 3 cấp độ hoạt động của ngành Y tế đều chƣa có sự tham
gia của công tác xã hội. Trƣớc hết, tại các bệnh viện ở tất cả các tuyến của
khu vực công lập cũng nhƣ ngoài công lập, hoạt động khám chữa bệnh mới
chỉ đƣợc thực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn về y, dƣợc. Các
biện pháp trị liệu về xã hội chƣa đƣợc quan tâm. Do vậy, chƣa có văn bản quy
định về chức danh chuyên môn về công tác xã hội trong cơ cấu nhân sự cũng
nhƣ chƣa có phòng công tác xã hội trong tổ chức bộ máy của bệnh viện. Hiện
một số bệnh viện, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam có duy trì hoạt động xã hội
mang tính từ thiện để trợ giúp ngƣời bệnh song vẫn chỉ là những việc làm tự
phát do một số cá nhân hoặc tổ chức tự nguyện tham gia. Các hoạt động này
còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính ban phát, chỉ giúp ngƣời bệnh
giải quyết đƣợc một số nhu cầu bức thiết nhƣ: bếp ăn từ thiện, gây quỹ từ
thiện,… Trong khi đó tại hầu hết các bệnh viện của cả nƣớc, nhất là các bệnh
chuyên nghiệp. Nếu hình thành mạng lƣới công tác xã hội trong chăm sóc sức
khỏe tại cộng đồng thì cũng có nghĩa là cần phải có đến hàng nghìn nhân viên
đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp về lĩnh vực này [1], [2].
16
1.3.
Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện
Thông tƣ số 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế quy định
về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của
bệnh viện có quy định nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện gồm [4]:
1.3.1. Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và
người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
- Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh của bệnh viện cho ngƣời bệnh ngay từ khi ngƣời bệnh vào
khoa khám bệnh hoặc phòng khám bệnh;
- Tổ chức hỏi thăm ngƣời bệnh và ngƣời nhà ngƣời bệnh để nắm bắt
thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của ngƣời bệnh, xác định
mức độ và có phƣơng án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thực hiện;
- Hỗ trợ khẩn cấp các hoạt động công tác xã hội cho ngƣời bệnh là nạn
nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới, tai nạn, thảm họa nhằm bảo
đảm an toàn cho ngƣời bệnh: hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tƣ vấn về pháp lý, giám
định pháp y, pháp y tâm thần và các dịch vụ phù hợp khác;
- Hỗ trợ, tƣ vấn cho ngƣời bệnh về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ
của ngƣời bệnh, các chƣơng trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp
xã hội trong khám bệnh, chữa bệnh;
- Cung cấp thông tin, tƣ vấn cho ngƣời bệnh có chỉ định chuyển cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh hoặc xuất viện; Hỗ trợ thủ tục xuất viện và giới thiệu