Điều hành chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam qua các giai đoạn - Pdf 62

1. Những vấn đề chung về tỷ giá
1.1. Khái niệm Chế độ tỷ giá và Chính sách tỷ giá:
- Chế độ tỷ giá: Là tổng hợp các quy tắc xác định cơ chế điều tiết tỷ giá của một quốc gia
- Chíh sách tỷ giá: Là những định hướng và giải pháp của nhà nước nhằm đảm bảo sự ổn định
của tỷ giá và thị trường ngoại hối, thực hiện chính sách ổn định tiền tệ nhằm đạt được những
mục tiêu kinh tế-xã hội đã dự định
Các chế độ tỷ giá:
+ Chế độ tỷ giá cố định
+ Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
+ Chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước
1.2 Các công cụ của chính sách tỷ giá:
Nhóm công cụ trực tiếp:
• NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay ảnh
hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra. Hoạt
động can thiệp trực tiếp của NHTW tạo ra hiệu ứng làm thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp
lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kém hoạt động
can thiệp này của NHTW thì phải sử dụng thêm ngiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng
dư cung hay bổ sung lượng thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông.
• Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ đc thực hiện thông qua việc NHTW tham gia mua bán
ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ. Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị trường của NHTW
làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái và ngược lại. Do đó đây là công cụ
tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ là việc NHTW mua bán các chứng từ có giá tuy
nhiên nó chỉ tác dộng gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác dộng trực tiếp đến các biến số kinh tế
vĩ mô khác( lãi suất, giá cả). Nó đc dùng phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ khử đi
sự tăng giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường mở gây ra.
• Ngoài ra CP có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biện pháp kết hối, quy
định hạn chế đối tượng đc mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ,
quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời gian mua ngoại tệ, nhằm
giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định,
Nhóm công cụ gián tiếp:
2. Điều tiết chính sách tỷ giá của NHNN VN
Điều hành chính sách tỷ giá của NHNN VN qua các giai đoạn
1. Giai đoạn trước 1989: tỷ giá cố định, đa tỷ giá
2. Giai đoạn 1989 – 1992: tỷ giá thả nổi
3. Giai đoạn 1992 – 1996: tỷ giá thả nổi có điều tiết
4. Giai đoạn 1997 – nay: thả nổi có quản lý
2.1. Giai đoạn trước 1989: tỷ giá cố định, đa tỷ giá
- Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mang nặng tính bao cấp, Nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá
cố định. Quan hệ tỷ giá của VNĐ chủ yếu là với SUR và các nước trong khối XHCN theo phương
thức thỏa thuận, còn lại với các đồng tiền khác về cơ bản là ko xác lập quan hệ tỷ giá.
- Tỷ giá được chia làm 2 khu vực, bao gồm Khu vực 1: Tỷ giá trong phe XHCN và Khu vực 2: Tỷ
giá ngoài phe XHCN:
Tỷ giá khu vực I:
Trong thời gian này, VN có quan hệ thương mại chủ yếu với các nước XHCN. Hình thức buôn bán
phổ biến là hàng đổi hàng theo 1 tỷ giá cố định được quy định trong các hiệp định song phương và
đa phương. Tỷ giá được chia thành nhiều nhóm tương thích với từng mục đích quan hệ KT khác
nhau, bao gồm:
-Tỷ giá mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật
chất giữa các nước trong phe XHCN. Nó được xác định dựa trên cơ sở so sánh giá hàng hóa xuất
khẩu tính bằng VND và tính bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
-Tỷ giá phi mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán, chi trả hàng hóa hoặc dịch vụ vật chất không
mang tính thương mại giữa các nước trong phe XHCN, như chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo, hội
nghị… Nó được xác định trên cơ sở giá bán lẻ của một số mặt hàng tại 2 nước tính theo đồng tiền
của 2 nước. Tại VN trong 1 thời kỳ dài đã quy định tỷ giá phi mậu dịch thấp hơn rất nhiều so với tỷ
giá mậu dịch để điều tiết lại phần “chênh lệch giá” do những người nước ngoài được mua rẻ ở VN.
Trong thời kỳ này nếu tỷ giá mậu dịch là 3,27 VND/SUR thì tỷ giá phi mậu dịch là 1,7
VND/SUR cùng thời điểm.
Tất cả các tỷ giá phi mậu dịch giữa VN với các nước đều dần dần hết hiệu lực trong năm 1989 và

2. Giai đoạn 1989 – 1992
- Nước ta chính thức áp dụng tỷ giá thả nổi. Tỷ giá được xác định dựa hoàn toàn trên cung cầu ngoại
tệ trên thị trường. Mặc dù tỷ giá được NHTW công bố nhưng thực chất là thả nổi theo giá thị trường.
- 16/8/1991 thống đốc NHNN ban hành quyết định 107 về quy chế hoạt động của 2 trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoạt động của NHNN trong giai đoạn này:
• Trực tiếp theo dõi và tham gia vào các phiên giao dịch tại 2 trung tâm giao dịch ngoại hối
để theo dõi và kịp thời điều chỉnh.
• Đề xuất với thủ tướng thành lập quỹ điều hòa ngoại tệ.
 Nhận định: hoạt động giao dịch ngoại hối ở 2 trung tâm không phản ánh hết tình hình cung
cầu ngoại tệ toàn nền kinh tế, tính thiết thực đối với cái thành viên tham gia TTGD ngoại tệ
thấp, dự trữ ngoại tệ của NHNN mỏng nên khả năng điều tiết kém. Đồng thời với chính sách tỷ
giá thả nổi, tỷ giá trên thị trường bị thay đổi liên tục bởi hoạt động đầu cơ thao túng, gây lao
đao cho thị trường ngoại hối và hoạt động xuất nhập khẩu, cán cân thương mại thâm hụt. Do
đó, ở giai đoạn sau, Nhà nước quyết định thi hành chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết.
3. Giai đoạn 1992 – 1996: tỷ giá thả nổi có điều tiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status