BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
HỒ SỸ HÙNG
GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
Ở TRƢỜNG MẦM NON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
HỒ SỸ HÙNG
GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
Ở TRƢỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 914.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Tôi cũng xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm Khoa và các anh chị
em đồng nghiệp Khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Hồng Đức đã luôn tạo điều
kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, giáo viên, cha mẹ trẻ các trường
mầm non hòa nhập TP Thanh Hóa, Huyện Tĩnh Gia, Huyện Quảng Xương, Huyện
Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa
Cuối cùng, Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Gia đình, người thân và bạn bè đã luôn hỗ
trợ tôi, cùng tôi chia sẻ những khó khăn, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
nghiên cứu luận án này.
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...........................................................................................1
2. Mục đ ch nghiên cứu ................................................................................................3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .........................................................................3
4. Giả thuyết khoa học .................................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ...................................................................................3
7. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .................................................4
8. Luận điểm khoa học bảo vệ .....................................................................................6
9. Đóng góp mới của đề tài ..........................................................................................6
10. Cấu trúc của đề tài ..................................................................................................7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG
GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG
QUA TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI ..................................................................8
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ...............................................................................8
chơi đóng vai...........................................................................................................55
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ...........................................................................57
Kết luận chƣơng 1........................................................................................................61
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC
TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI .............................................................................................62
2.1. Vài nét về giáo dục hòa nhập trẻ KTTT nhẹ và giáo dục KNGT cho trẻ KTTT
nhẹ 5 - 6 tuổi ở việt nam ............................................................................................62
2.1.1. Giáo dục hòa nhập trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi ở bậc học Mầm non ................62
2.1.2. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 5 - 6 tuổi trong
chương trình GDMN ...............................................................................................64
2.2. Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ
chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non .................................................................65
2.2.1. Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng ................................................65
2.2.2. Kết quả khảo sát thực trạng..........................................................................70
Kết luận chƣơng 2........................................................................................................92
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ
KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ NHẸ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ
CHƠI ĐÓNG VAI VÀ THỰC NGHIỆM .................................................................93
iv
3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ...........................................................................93
3.1.1. Đảm bảo mục tiêu giáo dục chung cho tất cả trẻ và mục tiêu giáo dục trẻ
KTTT .......................................................................................................................93
3.1.2. Đảm bảo tính phù hợp với trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 5 - 6 tuổi .....................93
3.1.3. Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn giáo dục hòa nhập trẻ KTTT nhẹ 5 - 6
tuổi ..........................................................................................................................94
BP
2
DSM - IV
3
DSM - V
4
GDHN
5
GV
6
GDMN
Giáo dục mầm non
7
GVMN
Giáo viên mầm non
14
UNICEF
Biện pháp
Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần
(Diagnostic and Statiscal Manual of Mental Disorders -IV)
Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần
(Diagnostic and Statiscal Manual of Mental Disorders - V)
Giáo dục hòa nhập
Giáo viên
Khuyết tật
Khuyết tật trí tuệ
Kĩ năng
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
(United Nations International Children's Emergency Fund)
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Nhận thức của GVMN về khả năng tham gia vào các hoạt động giáo
dục ở trường mầm non của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi ................................. 71
Bảng 2.2.
- 6 tuổi ........................................................................................................ 88
Bảng 3.1.
KNGT của Đ sau 2 lần đánh giá STN ..................................................... 124
Bảng 3.2.
KNGT của trẻ sau 2 lần TN ..................................................................... 130
Bảng 3.3.
Kết quả đánh giá KNGT của trẻ STN lần 1 và lần 2 ............................... 137
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Phân bố thâm niên công tác của mẫu nghiên cứu.................................... 69
Biểu đồ 2.2. Trình độ đào tạo của GVMN và CBQL .................................................. 70
Biểu đồ 2.3. Nhận thức của GVMN về tầm quan trọng giáo dục KNGT đối với
trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi ........................................................................... 72
Biểu đồ 2.4. Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa giáo dục KNGT cho trẻ KTTT
nhẹ 5 - 6 tuổi ............................................................................................ 72
Biểu đồ 2.5: Đánh giá của giáo viên về những khó khăn trong việc giáo dục
KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng
vai. ........................................................................................................... 78
Biểu đồ 2.6: Điểm TB các KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi .................................. 87
Biểu đồ 3.1. Kết quả đánh giá KNGT của Nguyễn.T.Đ TTN và STN lần 1, lần 2 ... 125
Biểu đồ 3.2. So sánh KNGT của trẻ TTN và sau 2 lần TN........................................ 126
Biểu đồ 3.3. Đánh giá KNGT của trẻ TTN, và STN lần 1 và lần 2 ........................... 131
hành vi, trẻ cũng có nhiều hạn chế trong giao tiếp phi ngôn ngữ, giao tiếp bằng mắt
không ổn định, ít khi sử dụng ngôn ngữ cơ thể để bày tỏ nhu cầu với người khác.
Một số trẻ có biểu hiện như nôn nóng, lo lắng, dễ cáu gắt, bốc đồng, sự chịu đựng
kém và thiếu hụt các kĩ năng xã hội làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập, vui
chơi, tham gia vào các hoạt động cùng với bạn bè và mọi người xung quanh [98],
[99], [140]. Do đó, giáo dục KNGT cho trẻ KTTT luôn là một mục tiêu ưu tiên trong
quá trình can thiệp và giáo dục trẻ KTTT ở môi trường giáo dục hòa nhập.
1.4. Chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ 5 - 6 tuổi và là điều kiện quan trọng cho
sự phát triển ở trẻ. Tổ chức các trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai trong lớp hòa
nhập có trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi sẽ tạo cơ hội để trẻ KTTT được tương tác với các bạn
trong lớp bằng các phương tiện giao tiếp khác nhau, thông qua chơi trẻ học được cách
1
bày tỏ cảm xúc của mình với thế giới xung quanh. Nghiên cứu của các tác giả như
Bergen D (2002), Sameena N (2011), Sunish (2013), Raman S (2015), đã chỉ ra rằng
chơi đóng vai k ch th ch tr tưởng tượng của trẻ, nâng cao kĩ năng giao tiếp xã hội,
phát triển mối quan hệ thân thiện thông qua sự hợp tác, lắng nghe, luân phiên và sử
dụng ngôn ngữ để tương tác cùng nhau [50], [127], [133], [140]. Khi chơi đóng vai trẻ
KTTT sẽ học cách giao tiếp và điều chỉnh cho phù hợp với các nội dung và đối tượng
giao tiếp, sự tương tác giữa các vai trong nhóm chơi sẽ tạo cơ hội để mọi trẻ trong lớp
hỗ trợ trẻ KTTT. Bên cạnh đó, giáo viên mầm non còn biết lựa chọn cách thức tác
động phù hợp để kích thích trẻ KTTT sử dụng KNGT thông qua các tình huống chơi.
Do đó, trò chơi đóng vai là phương tiện quan trọng để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT
nhẹ 5 - 6 tuổi học hòa nhập ở trường mầm non.
1.5. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung và trẻ KTTT nói riêng đã được
triển khai ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước. Số lượng trẻ KTTT tham gia học hòa
nhập tại các trường mầm non ngày càng tăng, cơ bản đáp ứng được mong muốn của
gia đình có trẻ KTTT [31]. Bên cạnh đó, giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ học hòa
nhập ở trường mầm non cũng đã được xác định là một trong những nội dung quan
4. Gi thuyết hoa học
Trò chơi đóng vai là phương tiện có nhiều ưu thế để giáo dục KNGT cho trẻ
KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi học hòa nhập ở trường mầm non. Nếu đề xuất và áp dụng các
biện pháp trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo hướng tạo môi trường, tình
huống kích thích giao tiếp, tương tác giữa trẻ KTTT với các bạn trong nhóm chơi, hỗ
trợ cá nhân trẻ KTTT thực hành, luyện tập KNGT trong quá trình chơi đóng vai thì sẽ
nâng cao được KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi trong môi trường GDHN.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
thông qua tổ chức trò chơi đóng vai.
5.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông
qua tổ chức trò chơi đóng vai trong trường mầm non.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT
nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non.
6. Giới h n ph m vi nghiên cứu
- Giới hạn về khách thể khảo sát: 35 trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi, 150 giáo viên dạy
ở trường mầm non hòa nhập có trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi.
- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp giáo dục
KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai.
- Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư
phạm ở một số trường mầm non hòa nhập có trẻ KTTT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
3
- Tổ chức thực nghiệm tại 2 trường mầm non hòa nhập ở thành phố Thanh Hóa.
7. Phƣơng pháp tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu
7
hương ph p tiếp cận
Đề tài dựa trên các cách tiếp cận khác nhau để lựa chọn phương pháp nghiên
Tiếp cận cá biệt hóa: Mỗi trẻ KTTT là một cá thể khác nhau, việc giáo dục KNGT
cho trẻ KTTT cần tôn trọng trẻ như một cá thể riêng biệt. Mặc dù cùng một khuyết tật
nhưng ở mỗi trẻ có những đặc điểm phát triển riêng, mức độ khuyết tật, có những rối loạn
kèm theo khác nhau, bên cạnh đó đặc điểm chăm sóc giáo dục của từng gia đình đều có ảnh
hưởng đến sự phát triển của trẻ. Vì vậy, xây dựng các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ
KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai cần dựa vào khả năng và nhu cầu
của từng trẻ để có những biện pháp giáo dục phù hợp và phát huy được thế mạnh của trò
chơi đóng vai trong việc kích thích trẻ KTTT nhẹ tích cực giao tiếp qua các trò chơi.
Tiếp cận thực tiễn: Xây dựng biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6
tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai dựa vào thực tiễn giáo dục trẻ KTTT, mức độ
biểu hiện KNGT của trẻ và các biện pháp hiện nay giáo viên đã áp dụng, những khó
khăn khi trẻ KTTT tham gia vào hoạt động chơi đóng vai. Từ đó, điều chỉnh cách thức
hỗ trợ phù hợp với đặc điểm của trẻ, điều kiện giáo dục hòa nhập cho trẻ KTTT nhẹ 5 6 tuổi và phù hợp với đặc điểm của trò chơi đóng vai ở trường mầm non.
7
hương ph p nghi n cứu
7
Nhóm phương ph p nghi n cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài để thu thập, tổng hợp và khái
quát hóa thông tin. Sử dụng các phương pháp phân t ch, tổng hợp, phân loại và hệ
thống hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
7
Nhóm phương ph p nghi n cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
và phân tích các dữ liệu nghiên cứu thu được của đề tài.
8. Luận điểm hoa học b o vệ
8.1. Trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi có một số hạn chế về KNGT song có thể giáo dục
được các KNGT cho trẻ thông qua tổ chức trò chơi đóng vai trong môi trường GDHN.
8.2. Trò chơi đóng vai là phương tiện có nhiều ưu thế để giáo dục KNGT cho
trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi. Tổ chức trò chơi đóng vai ở lớp mẫu giáo hòa nhập có ảnh
hưởng đến sự phát triển KNGT của trẻ KTTT.
8.3. Các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ
chức trò chơi đóng vai theo hướng tạo môi trường, tình huống kích thích giao tiếp,
tương tác giữa trẻ KTTT với các bạn trong nhóm chơi, hỗ trợ cá nhân trẻ KTTT thực
hành, luyện tập KNGT trong quá trình chơi đóng vai sẽ giáo dục được các KNGT như:
Chú ý lắng nghe, luân phiên, hiểu ngôn ngữ, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ, và sử
dụng ngôn ngữ cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi.
9. Đ ng g p mới của đề tài
9.1. óng góp về mặt lí luận
Góp phần làm phong phú cơ sở lí luận về giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 56 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai, trong đó trọng tâm là các lí luận về trẻ
KTTT, giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi, tổ chức trò chơi đóng vai đối với
6
việc giáo dục KNGT cho trẻ KTTT, biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6
tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non.
9.2. óng góp về mặt thực tiễn
- Làm rõ thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức
trò chơi đóng vai bao gồm: Nhận thức của giáo viên về giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ
5 - 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai. Đồng thời cũng làm rõ được nội dung và các
hình thức giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
- Xây dựng một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường mầm non. Các biện pháp đề xuất có tính
1.1.1. Nghiên cứu về KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
Kĩ năng giao tiếp có vai trò rất lớn đến sự phát triển của trẻ, đây là yếu tố giúp
trẻ th ch nghi, phù hợp và phát triển trong xã hội, KNGT của trẻ được phát triển một
cách tự nhiên và song song với các lĩnh vực phát triển khác. Hiệu quả của quá trình
giao tiếp có mối quan hệ trực tiếp tới sự thành công hay thất bại của mỗi đứa trẻ [140].
Sự phát triển KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi cũng nằm trong qui luật tự nhiên đó,
tuy nhiên, có những điểm khác biệt so với các bạn đồng trang lứa, điều này xuất phát
từ đặc điểm phát triển của trẻ và môi trường chăm sóc, giáo dục diễn ra xung quanh.
Do đó, khi nghiên cứu về KNGT của trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi các nhóm tác giả thường
tập trung những nội dung chính như:
Thứ nhất, nghiên cứu về vai trò của KNGT đối với sự phát triển của trẻ KTTT:
Tiêu biểu trong hướng nghiên cứu này là nhóm tác giả Karoline Gooden, Jacqui
Kearns (2013) ―The Importance of Communication Skills in Young Children‖, tác giả
cho rằng KNGT đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ KTTT, là phương
tiện giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh, KNGT tốt là nền tảng để trẻ bước vào
cuộc sống sau này và học các kĩ năng xã hội quan trọng khác [77]. Với trẻ em KTTT
lứa tuổi mầm non, KNGT là chìa khóa để trẻ tham gia một cách hiệu quả vào các hoạt
động tương tác và vượt qua rào cản về mặt ngôn ngữ và giao tiếp khi tham gia vào các
hoạt động ở trường học [57], [63], [77]. Để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT, cần tạo ra
8
môi trường giao tiếp tích cực thông qua các hoạt động tương tác ở trường học cũng
như tại gia đình trẻ nhằm kích thích trẻ giao tiếp, vì vậy, trong những năm đầu của giai
đoạn phát triển, giáo viên và cha mẹ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
KNGT của trẻ KTTT. Xác định được tầm quan trọng của KNGT đối với trẻ em, nhiều
nghiên cứu gợi ý những kĩ năng giao tiếp cần thiết mà trẻ cần có được, tiêu biểu có thể
kể đến như: Beisler, Frank, Gooden Caroline và Owen Hargie, các tác giả này đã đưa
ra một số KNGT cơ bản gồm: kĩ năng hiểu và bày tỏ suy nghĩ; kĩ năng thể hiện cảm
xúc và kĩ năng trao đổi thông tin [48], [77], [81]. Bên cạnh đó, Rae Pica đặc biệt chú ý
nhóm tác giả cũng cho rằng những trẻ có KNGT kém thì kĩ năng xã hội cũng sẽ kém,
đồng thời việc học, sử dụng ngôn ngữ và tư duy toán học cũng bị ảnh hưởng [63].
Đồng quan điểm đó nhóm tác giả Bredek Camp & Copple (1997); Hart & Risley
(1995) cũng cho rằng, KNGT của trẻ có mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực phát
triển khác như: Nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội, trong đó nhóm tác giả
nhấn mạnh tới vai trò của KNGT đối với việc phát triến kĩ năng xã hội của trẻ [57],
[82]. Như vậy, giáo viên và cha mẹ trẻ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ. Nếu giáo dục KNGT cho trẻ một cách hợp lí sẽ
hỗ trợ tất cả các lĩnh vực khác phát triển, trái lại nếu giáo dục KNGT cho trẻ không
phù hợp sẽ kìm hãm đáng kể sự phát triển sau này của trẻ.
Thứ ba, nghiên cứu về những khó khăn và hạn chế trong giao tiếp của trẻ
KTTT nhẹ. Tác giả Sunish cho rằng phần lớn trẻ KTTT gặp khó khăn khi tương tác
với mọi người xung quanh, vốn từ nghèo nàn, sử dụng ngôn ngữ kém linh hoạt là
những rào cản làm cho trẻ bị động trong các tình huống giao tiếp diễn ra hằng ngày.
Vì vậy, để giúp trẻ KTTT hòa nhập với các bạn và tham gia có hiệu quả các hoạt động
ở trường học thì KNGT là chìa khóa hỗ trợ trẻ KTTT [140]. Đồng quan điểm đó nhóm
tác giả Kaiser, Hester cũng cho rằng mặc dù KNGT được xem là quan trọng đối với sự
thành công trong trường học và giúp trẻ trở nên độc lập trong xã hội, song sự phát
triển KNGT của trẻ KTTT có những chậm trễ hơn so với trẻ không khuyết tật, đôi khi
những cơ hội để phát triển của trẻ cũng bị bỏ lỡ [98]. Bên cạnh đó, khó khăn trong
giao tiếp ở trẻ KTTT cũng là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề rối loạn hành vi của trẻ
[134]. Ngoài ra, nhóm tác giả Jennifer và Mark Wolery cũng cho rằng, trẻ KTTT có
nhiều hạn chế khi sử dụng các phương tiện giao tiếp để tương tác với mọi người xung
quanh như sử dụng lời nói, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung và đối tượng giao
tiếp [106]. Với những khó khăn và hạn chế đó, trẻ KTTT luôn cần sự hỗ trợ từ bạn bè
và mọi người xung quanh để giúp trẻ tham gia vào các hoạt động ở trường mầm non.
Thứ tư, nghiên cứu những khác biệt giữa KNGT của trẻ KTTT và trẻ không
10
khăn trong giao tiếp mà trẻ KTTT gặp phải trong cuộc sống, chính khó khăn này dẫn
11
tới ở nhiều trẻ cảm thấy bối rối, thiếu tự tin thậm chí trở nên nhút nhát và bị cô lập với
các bạn trong nhóm chơi.
Thứ sáu, nghiên cứu về vai trò môi trường giáo dục đối với sự phát triển KNGT
của trẻ KTTT nhẹ: Nhóm tác giả Rahil Mahyuddin và Habibah Elias cho rằng ngoài
dạy cho trẻ những kiến thức nền tảng thì cha mẹ cần trang bị cho trẻ kĩ năng giao tiếp
ngay khi còn nhỏ, môi trường giáo dục tốt sẽ tạo ra sự tương tác t ch cực giữa trẻ với
các bạn trong lớp và giữa trẻ với giáo viên. Do đó, giáo viên phải có nhiều chiến lược,
phương pháp giáo dục khác nhau để nhận ra sự khác biệt giữa cá nhân từng trẻ và có
biện pháp phù hợp k ch th ch trẻ bộc lộ KNGT [63]. Tác giả Steven Gutstin cho rằng
để giáo dục KNGT cho trẻ cần phải tạo môi trường giao tiếp t ch cực, phát triển mối
quan hệ xã hội giúp trẻ hiểu được thế giới xung quanh bắt đầu từ bản thân trẻ (tên gọi,
các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên
gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế
giới xung quanh [139].
David Warden, Donald Christie đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình
giáo dục KNGT cho trẻ, trong đó đề cao vai trò của tác động giáo dục đúng hướng từ gia
đình và nhà trường [145].Việc giáo dục KNGT cho trẻ phải căn cứ trên những yếu tố
ảnh hưởng đó. Tara Winterton đã đưa ra cách thức tác động trong môi trường giáo dục
nhằm hỗ trợ trẻ có khó khăn trong giao tiếp, tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ
giữa kĩ năng giao tiếp với sự phát triển các chức năng tâm l ở trẻ KTTT [28]. Kĩ năng
sử dụng ngôn ngữ kém là nguyên nhân dẫn tới việc trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp,
ảnh hưởng tới quá trình tương tác với mọi người xung quanh, làm cho trẻ chán nản,
tách mình ra khỏi nhiệm vụ chơi hoặc các bạn chơi ít tương tác với trẻ. Cùng quan
điểm này, nhóm tác giả Abbeduto & Rosenberg (1993) cũng cho rằng những trẻ KTTT
có chỉ số IQ thấp thường có khuynh hướng bộc lộ hạn chế ở cách phát âm rõ ràng
[130]. Một số nghiên cứu về khả năng tham gia hội thoại của trẻ KTTT có hội chứng
khẳng định trẻ KTTT đã bộc lộ được một số kĩ năng giao tiếp cần thiết để tham gia
vào các hoạt động ở trường mầm non. Ở Việt Nam, nghiên cứu về KNGT của trẻ
KTTT cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm, song các công trình nghiên cứu còn ít
và chưa đi sâu vào trẻ KTTT học hòa nhập ở các trường mầm non.
1.1.2. Nghiên cứu về cách thức giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi
Xuất phát từ thực tiễn GDHN trẻ KTTT, những khó khăn trong giao tiếp của trẻ,
các nghiên cứu về biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ luôn nhận được sự
quan tâm của nhiều tác giả trong những năm gần đây. Dựa vào đặc điểm phát triển,
những khó khăn trong giao tiếp của trẻ KTTT, các tác giả đề xuất một số cách thức hỗ
trợ, phương pháp trị liệu, can thiệp giúp trẻ khắc phục những khó khăn để trẻ có thể
tham gia hiệu quả vào trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non. Những biện
13
pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhẹ 5 - 6 tuổi được các tác giả tập trung vào
những nội dung sau đây:
Thứ nhất: Sử dụng trò chơi để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT. Tiêu biểu là
nghiên cứu ―Effect of Role Play on Developing Communication Skills of Children with
Moderate Mental Retardation” của T. V. Sunish (2013), tác giả cho rằng trò chơi đóng
vai có ảnh hưởng rất lớn đến KNGT của trẻ KTTT, vai trò đó được thể hiện khá rõ nét
qua một số điểm như: Trò chơi đóng vai giúp trẻ KTTT phát triển KNGT bằng lời; Sử
dụng trò chơi đóng vai mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển KNGT phi ngôn
ngữ cho trẻ KTTT; Khẳng định trò chơi đóng vai có ưu thế trong việc giáo dục KNGT
phi ngôn ngữ hơn là giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nghiên cứu cũng cho rằng trò chơi đóng
vai là một phương tiện hiệu quả để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT giống như các
phương pháp giảng dạy khác, tuy nhiên, việc sử dụng trò chơi đóng vai chưa được chú
trọng môi trường giáo dục hòa nhập và sử dụng để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT
[140]. Các nhóm tác giả khác như: Doris Bergen, (2002); Raman, Sutha, Lin, Marisa
(2015) cũng đã chỉ ra vai trò quan trọng của trò chơi đóng vai đối với sự phát triển của
trẻ KTTT. Trong đó, các nhóm tác giả đề cao tới việc sử dụng trò chơi nhằm kích thích
tích cực và là cơ sở để giáo dục KNGT cho trẻ KTTT. Các tác giả cũng đề xuất một số
giải pháp giáo dục KNGT cho trẻ KTTT nhằm làm giảm sự lo lắng của cha mẹ trong
qúa trình chăm sóc và giáo dục trẻ [121]. Đồng quan điểm đó, Harel S, Greenstein Y,
và cộng sự (1996) cũng cho rằng môi trường tương tác tại gia đình có ý nghĩa lớn đối
với sự phát triển KNGT của trẻ KTTT, đó là sự quan tâm của cha mẹ đối với sự phát
triển của trẻ, hiểu biết về KNGT của trẻ và có biện pháp hỗ trợ trong các hoạt động
tương tác tại gia đình [80]. Hầu hết các nghiên cứu này đều đề cập tới các biện pháp
hỗ trợ tại gia đình và đề cao sự phối hợp thường xuyên giữa gia đình và nhà trường
trong việc kích thích trẻ giao tiếp.
Thứ tư: Áp dụng một số biện pháp can thiệp sớm để giáo dục KNGT cho trẻ
KTTT. Nhóm tác giả Udeme Samuel Jacob và cộng sự cho rằng can thiệp sớm là
phương pháp có thể khắc phục được một số hạn chế về ngôn ngữ và giao tiếp của
những trẻ KTTT có rối loạn trong giao tiếp như: giúp trẻ hiểu và sử dụng ngôn ngữ,
diễn đạt mạch lạc [93]. Nhóm tác giả Bailey, Hebbeler và cộng sự (2005), Hickman
and Jones (2009); Hebbeler, (2009), đã chỉ ra được những lợi ch đặc biệt từ chương
trình can thiệp sớm cho trẻ có rối loạn giao tiếp đối với gia đình, xã hội và bản thân trẻ
KTTT [83], [84], [86]. Khi chương trình can thiệp sớm dành cho trẻ KTTT rối loạn
ngôn ngữ, khó khăn trong giao tiếp được tiến hành một cách phù hợp sẽ làm giảm cảm
giác thất vọng, bị cô lập và căng thẳng kéo dài ở trẻ. Do đó, việc giáo dục sớm nên
15