BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và
sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước, của nhân loại. Và hiện nay môi
trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, sự cạn
kiệt các nguồn tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Mỗi năm trên
thế giới có hơn 22 vạn người chết vì các loại bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm
và môi trường mất vệ sinh gây ra (Đề tài công nghệ khoa học cấp Bộ, Mã số
B2002-49-08, Vụ giáo viên chủ trì). Một trong những nguyên nhân cơ bản gây
nên tình trạng trên là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người.
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
tiêu chuẩn về môi trường (Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, năm 1993).
Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do sự thiếu hiểu
biết, thiếu ý thức của con người. Vì vậy, hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo
vệ môi trường trở thành một vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của con người,
của mọi sinh vật và sự tồn tại của sự sống trên trái đất. Giáo dục bảo vệ môi
trường là yêu cầu cấp bách mang tính kinh tế, tính khoa học, tính xã hội sâu sắc.
Chỉ thị số 3200/2006/BGDĐT ngày 21/04/2006 hướng dẫn thực hiện việc:
"Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non giai
đoạn 2005- 2010” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã khẳng định sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ môi trường và giáo dục bảo vệ môi
trường. Việc giáo dục ý thức, thái độ, hành vi đúng dắn trong việc bảo vệ môi
trường sống phải bắt đầu từ tuổi mầm non và gắn liền với việc nâng cao kiến
thức, thái độ, thực hành cho các bậc cha mẹ.
Dù ở gia đình, trong nhà trường hay ngoài xã hội, việc giáo dục, hướng
dẫn trẻ em ý thức bảo vệ môi trường là rất cần thiết, phải dạy cho chúng ngay từ
thuở ấu thơ. Nội dung và các hình thức giáo dục cũng có vai trò quan trọng, nếu
muốn có kết quả thực sự, thì hình thức giáo dục cần phải phù hợp với đặc điểm
của nhân loại nói chung. Và nếu mỗi con người không có ý thức, không cùng
nhau kêu gọi hành động chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ ngôi nhà chung là
trái đất thì chúng ta còn phải hứng chịu những hậu quả, thảm họa khôn lường
do chính con người gây ra; lũ lụt, hạn hán, thiên tai... và đặc biệt nó có sự ảnh
hưởng nghiêm trọng trực tiếp đến sức khỏe của con người dưới đây là một số
hình ảnh về hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam năm 2013:
Bão số 10 gây ngập úng ở Quảng Trị”
2
“Tối 13/9, một vụ sạt lở đất gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại thôn Sùng
Hoảng, xã Phìn Ngan, H.Bát Xát (Lào Cai). Ước tính hàng vạn khối đất đá từ
đỉnh cao trong cơn mưa lớn bị sạt xuống và cuốn mất tích hơn 20 người cùng
toàn bộ tài sản, hoa màu của 4 hộ cư ngụ ở đây”.
Ngoài ra ở Việt Nam trong năm 2013 đã phải hứng chịu hiện tượng thời
tiết cực đoan nóng, lạnh thất thường và hiện tượng tuyết rơi nhiều ngày ở Sapa,
Lào Cai cùng15 cơn bão với cường độ mạnh và diễn biến phức tạp, đặc biệt tình
trạng mưa, lũ sau bão đã gây thiệt hại nặng về người và tài sản cho nhiều tỉnh,
thành phố. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm 313 người
chết và mất tích, 1.150 người bị thương; 6,4 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi;
trên 692 nghìn ngôi nhà bị ngập nước và hư hỏng; 88.2 km đê, kè và 894 km
đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở; gần 8 nghìn cột điện gãy, đổ; hơn 17
nghìn ha lúa và hơn 20 nghìn ha hoa màu bị mất trắng; gần 117 ha lúa và hoa
màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương có người bị chết và mất tích nhiều do
thiên tai là Quảng Bình với 46 người, Nghệ An: 29 người, Lào Cai: 23 người,
Quảng Ngãi: 22 người, Bình Định: 22 người.
Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2013 ước tính gần 30
nghìn tỷ đồng, gấp trên 2 lần năm 2012, trong đó Quảng Bình thiệt hại khoảng
12,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Tất cả những
Và cũng ngay ở Đạo Tú- Tam Dương- Vĩnh Phúc nơi tôi sinh sống vấn đề rác
thải cũng là vấn đề đáng lo ngại: rác thải sinh hoạt hàng ngày bà con của thôn thì
chất hàng bao vứt lên đồi tạo thành bãi rác lớn; Phố bê tông thì có người thu gom
xong rác thải chất thành xe và đổ xuống lòng sông Bến Tre mà không phân loại và
xử lý; xác động vật chết, nhất là những đợt có dịch bệnh mọi người cũng đem vứt hết
ra ao, hồ; hay mỗi phiên chợ Đạo Tú họp xong thì đủ loại rác, đặc biệt là túi nilong
vứt trắng chợ, và trên cầu...gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước nặng nề. Còn ở xã
Vân Hội nơi tôi công tác thì vấn đề ô nhiễm môi trường không chỉ có rác thải sinh
hoạt hàng ngày mà lượng thuốc bảo vệ thực vật mà nông dân trồng rau màu hàng
ngày vẫn phun, vẫn tưới thì lại vô cùng nguy hại.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nên trường mầm non Vân Hội từ
khi thành lập cho đến nay mặc dù đã được quy hoạch khuân viên, hỗ trợ đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác xây dựng và hưởng ứng cuộc
vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đặc biệt năm
học 2016- 2017 nhà trường đã thực hiện công tác tuyên truyền tới phụ huynh
cùng chung tay bảo vệ môi trường và đã chú ý giáo dục trẻ ý thức bảo vệ môi
trường ngay từ khi còn ở trường mầm non, song hiệu quả chưa cao.
Vấn đề vệ sinh môi trường trong các trường mầm non đã được quan tâm,
chú trọng song chưa thực sự đạt hiệu quả cao, và trường mầm non Vân Hội là
một trong những trường như vậy.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên với trách nhiệm của người quản lý
tôi chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện tốt công tác vệ sinh môi
trường trong trường mầm non huyện Tam Dương- tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp thực hiện tốt công tác vệ sinh môi
trường trong trường mầm non huyện Tam Dương- tỉnh Vĩnh Phúc”.
3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lại Thị Bích Ngọc;
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Lĩnh vực áp dụng: Quản lý, chỉ đạo trong trường mầm non;
Vấn đề sáng kiến giải quyết: Thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường
trong trường mầm non.
vấn đào tạo và chuyển giao công nghệ. Cho đến nay, các hội đã đóng góp ý kiến
xây dựng các chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường, như Luật Bảo vệ môi
trường, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học, Chiến lược Bảo vệ môi
trường quốc gia,... Đối với một số dự án quan trọng, như Dự án xây dựng Nhà
máy Thủy điện Sơn La, các hội đã được yêu cầu nghiên cứu đóng góp ý kiến
cho báo cáo nghiên cứu khả thi của công trình này, trong đó có phần về đánh giá
tác động môi trường. Nhiều điều kiến nghị đã được các cơ quan có thẩm quyền
xem xét và chấp nhận.
Chỉ thị 36- CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 về “Tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của
nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói
giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên
phạm vi toàn thế giới”. Chỉ thị đã đưa ra 8 biện pháp lớn về bảo vệ môi
trường,trong đó biện pháp đầu tiên là: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền,
xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường”.
6
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Biện pháp đầu tiên được nêu ra là: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục
nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường”.
Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo
dục quốc dân”.
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính
phủ về “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020”.
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng
với môi trường để gìn giữ bảo vệ môi trường, biết sống hòa nhập với môi trường
nhằm đảm bảo phát triển lành mạnh. Trẻ biết môi trường xung quanh trẻ bao
gồm những gì? Trẻ biết phân biệt được môi trường xung quanh trẻ, những việc
làm tốt – xấu đối với môi trường và làm gì để bảo vệ môi trường? Hay cũng có
thể giáo dục trẻ cách chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân trẻ, biết chăm sóc
và bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật nơi mình ở. Biết về một số ngành nghề, văn
hóa, phong tục tập quán của địa phương, xây dựng cho trẻ niềm tự hào và ý thức
gìn giữ bảo tồn văn hoá dân tộc.
6.1.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu tại trường MN Vân HộiTam Dương- Vĩnh Phúc
6.1.2.1. Thuận lợi
a. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chuyên đề
Đầu năm học 2016- 2017 nhà trường có 2 khu đều đặt tại thôn Vân Giữa
(Khu lẻ và khu trung tâm).
Khu trung tâm được xây dựng kiên cố với 7 phòng học, 1 phòng HĐAN,
1 phòng Hiệu trưởng, 1 phòng Phó hiệu trưởng, 1 văn phòng, 3 nhà vệ sinh
(trong đó 1cho nam, 2 cho nữ). Khu lẻ (học nhờ trung tâm văn hóa xã) với 4 lớp
học. Tổng số trẻ của nhà trường là 442, số lớp là 13 (2 nhà trẻ; 11 mẫu giáo).
Nhà trường có khuân viên, tường bao quanh, sân được lát gạch, quy hoạch
trồng các loại cây xanh tạo bóng mát, cây hoa.....
Được sự quan tâm của các cấp cũng như nhà trường tự trang bị các đồ
dùng vệ sinh tối thiểu cho các lớp: chổi chít, chổi cọ, chổi lau, nước lau sàn...và
ca, cốc, khăn mặt cho trẻ.
Nhà trường có 1 giếng khơi, 1 giếng khoan với nguồn nước đều được qua
bể lọc sạch, đảm bảo vệ sinh.
b. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên
Năm học 2016- 2017 nhà trường có tổng số: 30 đ/c (Ban giám hiệu: 03,
giáo viên: 25, nhân viên: 2);
Trình độ:
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chyên đề
Số trẻ trên lớp quá đông, diện tích phòng nhóm chật hẹp: 2 lớp 4 tuổi học
chung trong 1 phòng và phòng học này học nhờ phòng hoạt động âm nhạc, với
số trẻ 2 lớp chung một phòng lên tới 53 trẻ trong căn phòng rộng 45m 2, với hệ
thống tủ giá ọp ẹp, sập xệ, cùng chăn, gối, đệm xếp ngổn ngang trong lớp (vì
trường không có kho chung, các lớp không có kho riêng và cũng không có hệ
thống tủ đựng chăn chiếu, nếu lớp nào có thì đền đã hỏng, không sử dụng
được)...khiến lớp đã chật càng thêm chật, bừa bộn và có mùi hôi khai, đặc biệt là
những hôm nắng nóng. Hiên sảnh, hành lang chỉ rộng 1,2m 2 nhưng bày ngổn
ngang đủ thứ: bàn, ghế, phản, tủ, giá khăn, giá cốc, giá dép và cả dép... đặc biệt
lớp 4TB và 4TC học chung một lớp, số trẻ đông lại chưa có giá dép với 53 đôi
dày dép xếp ngổn ngang từ ngoài hiên vào trong lớp, với nền lớp bẩn, két bẩn do
bã kẹo cao su, đất nặn dính két bẩn từ lâu; hiên, trần, quạt, cửa...bụi bám, mạng
nhện chăng...tất cả tạo nên một khung cảnh bừa bộn, ngổn ngang, mất vệ sinh,
mất mỹ quan sư phạm và kém thân thiện.
Sân trường đã được quy hoạch, tuy nhiên trong quá trình sự dụng gạch bị bong,
vỡ rất nhiều và rong rêu trông mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường (do bụi).
Chưa có nhà vệ sinh riêng cho nam, nữ trong mỗi lớp học. Nhà vệ sinh
dùng chung với hệ thống đường ống không đảm bảo do quá tải nên thường
xuyên xảy ra tình trạng tắc ngẽn bốc mùi.
Nhà trường có 2 giếng khơi, 1 giếng khoan tuy nhiên về mùa khô vẫn
chưa đủ nước cho cô và trẻ thực hiện công tác vệ sinh, sinh hoạt.
9
Nhà trường chưa có hố xử lý rác và hiện tại khi tôi về là một bãi rác lớn ở
phía sau lớp học, bãi rác này chỉ được xử lý qua loa và tích tụ 4 năm tạo một bãi
rác lớn rất bẩn.
Xung quanh trường là đồng ruộng, buổi tối thắp điện nên thu hút rất nhiều
côn trùng: muỗi, ruồi, nhện, chuột bọ...gây mất vệ sinh vì chúng trăng tơ, bám
“học sinh tích cực”...chính vì vậy chưa hợp tác, phối kết hợp với phụ huynh
giáo dục vệ sinh môi trường cho trẻ. Hay có phối hợp thì kết quả chưa cao, điều
này thể hiện rõ ở tỷ lệ trẻ biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, giữ gìn vệ sinh môi
trường, chăm sóc cây cối...còn chưa cao.
10
Đa số phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh
môi trường.
Một vài cha mẹ trẻ chưa chú trọng đến công tác phối kết hợp với giáo
viên như: quá nuông chiều trẻ nên thường cho trẻ đi học muộn, hoặc nghỉ học...
Một số phụ huynh ý thức chưa cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường
chung, cũng như giáo dục trẻ ý thức vệ sinh môi trường: đưa con đi học sau khi cho
con ăn quà xong thì vứt ngay rác ra sân trường, hay còn cho con tè bậy ngay ở
khuân viên nhà trường; đi xe máy vào đến trong sân trường, ngay cửa lớp của con,
điều này làm ô nhiễm môi trường công cộng trường học: Khói bụi, tiếng ồn...
Đối với trẻ của trường MN Vân Hội- Tam Dương
Năm học 2016- 2017 trường MN Vân Hội- Tam Dương có 16 nhóm lớp
(2 nhà trẻ, 11 mẫu giáo) với tổng số 442 trẻ (49 trẻ nhà trẻ, 393 trẻ mẫu giáo).
Hầu hết trẻ được đến trường đúng độ tuổi tuy nhiên hiểu biết về môi
trường và vệ sinh môi trường của trẻ còn rất nhiều hạn chế, bất cập cụ thể:
Có nhiều trẻ chưa qua nhà trẻ và mẫu giáo 3 tuổi nên chưa có nền nếp,
cũng như nhận thức về chuyên đề còn nhiều hạn chế.
Đa số trẻ chưa có hiểu biết nhiều về vấn đề vệ sinh môi trường, cũng như
những hành động tích cực với môi trường là như thế nào. Trẻ tiếp thu bài học có
tích hợp chuyên đề vệ sinh môi trường một cách thụ động, không có hứng thú,
chưa tích cực tham gia hoạt động, nên việc cảm thụ chuyên đề còn nhiều hạn
chế. Bên cạnh đó một số trẻ còn nhút nhát, còn một số trẻ lại hiếu động, không
tập trung vào hoạt động.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng tôi đã tiến hành khảo sát trẻ đầu năm
2
T
T
%
Biết cất dọn
đồ chơi
đúng quy định
Biết
giữ gìn VSCN
Biết giữ gìn VSMT
K
TB
Y
T
K
TB
Y
%
13
5
34
%
15
9
36
%
10
20
%
10
1
26
%
4
8
%
11
22
%
22
45
%
%
2
4
%
13
27
%
23
47
%
11
22
%
79
20
%
95
24
%
78
20
%
%
113
29
%
12
7
29
%
98
25
%
10
0
23
%
92
23
%
10
5
24
%
98
25
%
12
%
10
9
25
%
12
24
%
12
1
31
%
13
3
30
%
89
23
%
10
1
23
%
117
26
%
Biết chăm sóc,
bảo vệ cây cối,
con vật
K
TB
Y
Biết giữ gìn nguồn
nước và không khí
trong lành
T
K
TB
Y
Biết lợi ích của nắng,
gió và không khí
Biết tiết kiệm nước
khi sử dụng
Nhắc nhở người lớn
tiết kiệm điện
T
49
2
%
M
G
39
3
%
TỔNG
%
44
2
12
24
%
83
21
%
95
21
%
19
39
85
22
%
113
26
%
81
18
%
98
22
%
18
37
%
13
5
34
%
15
3
35
%
14
29
99
22
%
17
35
%
13
4
34
%
15
1
34
%
17
35
%
4
8
%
11
22
%
92
23
7
36
%
14
29
%
3
6
%
12
24
%
88
22
%
10
2
23
%
82
21
%
90
23
%
* Qua khảo sát ban đầu tôi thấy
Về chất lượng đội ngũ giáo viên cho thấy nhận thức về chuyên đề vẫn
còn mơ màng khi lồng luồn giáo dục vệ sinh môi trường vào các tiết học, các
hoạt động, và lóng ngóng khi tổ chức cho trẻ thực hiện thao tác: nhổ cỏ, bắt sâu
cho cây, cách chăm sóc động vật... Công tác vệ sinh môi trường trong, ngoài lớp
còn chưa sạch, đẹp…
Qua kết quả khảo sát thực trạng của nhà trường, bản thân tôi rất trăn trở
làm thế nào để nâng cao về nhận thức, hành động về việc bảo vệ môi trường
trong nhà trường, từ đó tôi đưa ra một số biện pháp chỉ đạo vệ sinh môi trường.
Trước thực trạng đó, công tác xây dựng và bồi dưỡng kiến thức về vệ
sinh môi trường cho đội ngũ giáo viên của trường mầm non Vân Hội là công
việc rất cần thiết và cấp bách.
6.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến
Đứng trước thực trạng chung, tôi thấy cần có những biện pháp để nâng
cao chất lượng đảm bảo vệ sinh môi trường ở trường mầm non nói chung,
trường mầm non Vân Hội nói riêng. trước hết cần đưa ra những giải phápchỉ đạo
về vấn đề vệ sinh môi trường khâu quan trọng nhất trong quá trình chăm sóc sức
khoẻ trẻ một cách khoa học, chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả về một số vấn đề sau:
Nâng cao kiến thức về vệ sinh môi trường cho tập thể cán bộ giáo viên,
nhân viên trong nhà trường.
Nâng cao kiến thức về phân loại rác, đặc biệt rác hữu cơ, rác vô cơ..
Tìm các giải phápnâng cao chất lượng vệ sinh môi trường để phòng tránh
bệnh tật.
Để thực hiện tốt vấn đề trên tôi đã thực hiện nhiều biện pháp, xong ở sáng
kiến này tôi xin đưa ra một số biện pháp tiêu biểu sau:
6.2.1. Biện pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch xây dựng môi trường
thiên nhiên phong phú và thành lập ban chỉ đạo vệ sinh môi trường đồng thời
chú trọng công tác vệ sinh môi trường trường, lớp và bếp ăn
sắp xếp lại toàn bộ hệ thống đồ dùng, trang thiết bị trong bếp, 1 cách khoa học,
gọn gàng, phù hợp và thuận tiện. Không nghững vậy tôi cho sửa lại toàn bộ hệ
thống sân giếng, lắp lại hệ thống đường ống cho ngầm dưới…
Ban chỉ đạo vệ sinh môi trường có kế hoạch chỉ đạo giáo viên tiết kiệm
trong tiêu dùng:
+ Làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải sẵn có: Chai, lọ, dây thừng…
+ Có thùng, hộp để bảo quả đồ dùng, đồ chơi sau khi sử dụng.
+ Thực hiện tiết kiệm năng lượng điện, nước.
Tôi đã cho đặt thùng rác có nắp đậy ở nhiều nơi, đặt những nơi thuận tiện
để trẻ, phụ huynh bỏ rác vào thùng. Và giáo viên phải đổ rác, rửa sạch hàng
ngày. Bên cạnh đó Ban chỉ đạo vệ sinh môi trường còn chỉ đạo các nhóm lớp
xây dựng nếp sống lành mạnh cho trẻ: Có đủ nước sạch cho trẻ sử dụng, rèn cho
trẻ thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định, đúng nhà vệ sinh cho trẻ nam, nữ và
yêu cầu giáo viên nghiêm túc thực hiện lịch trực nhà vệ sinh để nhà vệ sinh luôn
sạch sẽ không có mùi hôi, khai, không trơn trượt.
Ban chỉ đạo vệ sinh môi trường yêu cầu 100% các nhóm lớp phải có góc
thiên nhiên và xây dựng một cách phong phú, sạch đẹp để trẻ được làm thí
nghiệm gieo trồng, chăm sóc cây, làm thí nghiệm chăm sóc cây…
13
Ban chỉ đạo phối kết hợp với Công Đoàn, Đoàn thanh niên tổ chức cho
chị em, cho Đoàn viên lao động vệ sinh một cách tích cực hiệu quả, tăng cường
8 ngày nghỉ để lau chùi, dọn dẹp, vệ sinh trang trí, từ trong lớp, ngoài lớp đễn cả
sân trường. Xúc bỏ bãi rác lớn ra khu xử lý rác thải của xã để môi trường xử lý,
cỉa tạo cảnh quan vườn trường: trồng mới, cắt tỉa bồn hoa, cây cảnh….tạo một
môi trường an toàn, thân thiện với trẻ.
6.2.2. Biện pháp thứ hai: Bồi dưỡng kiến thức vệ sinh môi trường cho
đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên trong nền nếp, thói quen sinh hoạt làm
tấm gương tốt cho trẻ noi theo
viên có đánh giá xếp loại hàng tháng.
14
Bên cạnh đó phân công giáo viên có tay nghề vững kèm giúp đỡ giáo viên
còn hạn chế về chuyên môn, những cô có kiến thức, năng lực, kinh nghiệm kèm
những cô chưa có kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường
trong trường học và giáo dục trẻ ý thức vệ sinh môi trường.
Cần đưa nội dung tuyên truyền các tài liệu về tác hại, hậu quả của ô
nhiễm môi trường gây ra, từ đó giúp giáo viên thấy tầm quan trọng của việc bảo
vệ môi trường và việc giáo dục trẻ hay kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi
trường trẻ lồng ghép trong các cuộc họp, trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ.
Tích cực khuyến khích, động viên, giáo viên, nhân viên luôn luôn có ý
thức giữ gìn vệ sinh môi trường, có những hành động, thái độ tích cực với môi
trường, làm tấm gương sáng cho trẻ noi theo.
Mặt khác tuyên truyền qua tranh ảnh về tác hại của ô nhiễm môi trường
và làm gì để khắc phục nhằm tạo một môi trường xanh- sạch- đẹp của các cơ
quan chức năng cung cấp.
Trong chương trình chăm sóc giáo dục mầm non hiện hành, nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường cho trẻ lứa tuổi mầm non được tích hợp trong từng chủ
đề và giáo viên có thể lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp: trò chuyện,
quan sát, hoạt động thực tiễn, xử lý tình huống….để tổ chức cho trẻ thực hiện.
Bản thân tôi chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ ý thức bảo vệ môi trường
thông qua hoạt động học: Trẻ được tham gia nhiều vào các hoạt động khác nhau
như phát triển thể chất, khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen tác phẩm văn
học, tạo hình...mỗi hoạt động trên đều có những đặc trưng riêng và có ưu thế
khác nhau như: trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm, thí nghiệm, chơi
các trò chơi...với trẻ để trẻ nhận ra được những việc làm tốt, không tốt, những
hành động đúng, hành động sai kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái
độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học. Tuy nhiên nội dung giáo dục
Ở 2 chủ đề này giáo viên không chỉ giúp trẻ nhận biết đặc điểm của hoa,
quả, các con vật sự thích nghi của cây cối, động vật với môi trường sống, lợi ích
của chúng với con người ( thức ăn, thuốc chữa bệnh, làm nhà ở, làm không khí
trong sạch, giảm thiểu khí độc hại..). Và giáo dục trẻ phải biết cách chăm sóc,
bảo vệ cây xanh, bảo vệ các con vật nuôi và giúp trẻ hiểu, thấy được tác hại của
việc chặt phá rừng, giết các loại thú quý hiếm. Từ đó trẻ tích cực tham gia chăm
sóc, bảo vệ cây cối, con vật.
Ví dụ: chủ đề “Quê hương- Đất nước- Bác Hồ”
Giáo viên không chỉ khơi gợi ở trẻ niềm tự hào về địa danh nơi trẻ sống,
tình cảm quan hệ hàng xóm; di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, ngành nghề
truyền thống, trường tiểu học của địa phương; đất nước Việt Nam có lá cờ đỏ
sao vàng 5 cánh…mà còn giáo dục trẻ phải giữ gìn vệ sinh, không vứt rác bừa
bãi, không bẻ cành, hái hoa…
Ví dụ: chủ đề “Phương tiện và luật lệ giao thông”
Giáo viên giúp trẻ hiểu môi trường bị ô nhiễm do các phương tiện giao
thông vì phương tiện giao thông thải ra khói ( ô tô, tàu hỏa, máy bay). Qua đó
giáo dục trẻ cùng vận động, khuyến khích mọi người đi bộ và sử dụng phương
tiện giao thông công cộng: xe buýt. Giáo dục trẻ không vứt rác xuống đường,
xuống sông khi đi trên các phương tiện giao thông.
6.2.3. Biện pháp thứ 3: Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ bảo vệ môi
trường thông qua việc lồng luồn vào các tiết dạy, các họat động trong ngày
của trẻ và mọi thời điểm trong ngày
Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là vô cùng cần thiết, và mỗi
người giáo viên phải biết, lồng luồn vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ một
cách hài hòa, hợp lý sao cho phù hợp với nhận thức của trẻ, giúp trẻ hiểu được
16
tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường cũng như tác hại hay hậu quả việc ô
nhiễm môi trường do con người gây ra.
+ Hoạt động thể chất (Vận động cơ bản): giáo viên cho trẻ minh họa các
động tác có lợi hoặc có hại đối với môi trường.
+ Hoạt động tạo hình ( vẽ, nặn, xé, dán, gấp) đều thể hiện hiểu biết của trẻ
về môi trường như: trẻ vẽ đường phố xanh, sạch, đẹp và đường phố bị ô nhiễm;
hoặc xé dán các hành vi làm sạch môi trường, giáo viên giải thích cho trẻ hiểu
và cùng trẻ làm đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải….
+ Hoạt động âm nhạc: Giáo viên giúp trẻ hiểu nội dung một số bài hát,
múa thể hiện môi trường sạch, đẹp hoặc những việc làm có lợi cho môi trường
17
như bài hát “Em yêu cây xanh- Nhạc và lời: Hoàng Văn Yến”.
+ Hoạt động phát triển ngôn ngữ: Giáo viên kể cho trẻ nghe những câu
truyện về thiên nhiên tươi đẹp, những việc làm có lợi, có hại tới môi trường,
nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tác hại của ô nhiễm môi trường đối với
sức khỏe con người…
+ Hoạt động khám phá môi trường xung quanh: giáo viên tổ chức cho trẻ
quan sát, làm thí nghiệm, thực nghiệm đơn giản như cây cần gì để lớn lên
(nước, ánh sáng, không khí), hiểu sự cần thiết của chúng đối với con vật và thực
vật, thí nghiệm lọc nước bẩn hoặc làm cho nước bị ô nhiễm do bụi, khói, mùi
hôi thối; trẻ học được một số cách chăm sóc vật nuôi, cây trồng; trẻ đưa ra các
phương án giải quyết trong một số tình huống giả định
Ví dụ: Cháu sẽ làm gì khi thấy nước chảy ra ngoài? Điều gì sẽ xảy ra nếu
đổ xăng, dầu xuống đất?...
Đối với trẻ mầm non thì hoạt động lao động cũng không thể thiếu đối với
trẻ. Nội dung bảo vệ môi trường được thực hiện thông qua hoạt động lao động
và được triển khai tích hợp vào các chủ đề, bao gồm các dạng lao động sau:
+ Lao động tự phục vụ: Giáo viên giáo dục trẻ tự phục vụ là việc làm có
lợi cho môi trường: trẻ đi đại, tiểu tiện đúng nơi quy định, đúng chỗ và khi đi
xong biết dội nước; các đồ dùng vệ sinh được dùng và để ngăn nắp là hành vi
môi trường đến với trẻ thông qua các thời điểm trong ngày một cách hài hòa, hợp lý.
Ví dụ:
+ Giờ đón trẻ: Giáo viên quan sát, nhắc nhở, giúp trẻ cất đồ dùng cá nhân
ngăn nắp, gọn gàng. Khi ăn quà sáng xong phải vứt rác đúng nơi quy định. Và
trong khi trò chuyện buổi sáng, khi ở chủ đề “ Phương tiện giao thông” cô và trẻ
có thể trò chuyện về tác hại từ khí thải ra của ô tô, xe máy khiến không khí bị ô
nhiễm, và con người cần phải làm gì để không hít thở khói xe? (đeo khẩu trang).
+ Hoạt động góc: Giáo viên chú ý nhắc nhở trẻ khi chơi và giao tiếp với
bạn không ồn ào, không quăng, ném đồ chơi để nhiều bạn được chơi và chơi
được lâu, nhắc trẻ chơi xong thì cất đúng vị trí. (Góc sách: Cô dạy trẻ cách xem
sách không làm hỏng, không làm rách, không tẩy xóa, dở nhẹ nhàng từng trang một…).
+ Hoạt động nêu gương, trả trẻ: giáo viên kịp thời phát hiện và khen ngợi
những hành vi tốt của trẻ đã có ý nghĩa bảo vệ môi trường: tiết kiệm nước khi
rửa tay, rửa chân ...Chú ý nhắc nhở nhẹ nhàng những hành vi chưa có lợi cho
môi trường (Ví dụ: còn vứt ném đồ chơi khi chơi…).
6.2.4. Biện pháp thứ 4: Tăng cường công tác tham mưu với các cấp, phụ
huynh để tách lớp và hỗ trợ trang thiết bị phục vụ chuyên đề
Ban gián hiệu tham mưu với lãnh đạo xã tạo điều kiện cho nhà trường
mượn dãy nhà 7 gian của nhà văn hóa thôn Vân Giữa làm khu lẻ, để nhà trường
tách và chuyển 4 lớp về khu lẻ. Như vậy nhà trường sẽ không còn tình trạng học
chung, học nhờ, giảm sự quá tải trẻ/lớp, đảm bảo diện tích phòng nhóm/trẻ,
giảm thiểu sự quá tải của nhà vệ sinh, và Hiệu trưởng, hiệu phó thì có phòng
riêng tương đối gọn gàng, sạch sẽ thuận lợi cho quá trình làm việc.
Tham mưu với lãnh đạo Phòng đầu tư hệ thống tủ, giá góc, tủ đựng đồ
dùng các nhân, tủ đựng chăn chiếu, tủ đựng hồ sơ…và chỉ đạo cho các lớp thanh
lý hoàn toàn hệ thống tủ giá sập xẹ, ọp ẹp, không an toàn với trẻ: 3- 4 cái thùng
rác to đặt sân trường với khẩu hiệu “Hãy cho tôi ăn rác”; thùng lớp có nắp đạy
cho các lớp, chổi lau, giá dép, giá khăn…và đặc biệt xây hố xử lý rác, sửa chữa
lại toàn bộ hệ thống đường ống nhà bếp, nhà vệ sinh; xây bệ sơ chế cho nhà
bếp, lát lại sân những chỗ bong, vỡ; đóng thêm tiền chất dốt để nhà trường
vệ sinh môi trường, tuyên truyền vận động mọi người cùng hưởng ứng giờ trái
đất qua loa truyền thanh xã, phát tờ rơi, thông qua bảng tin nhà trường.
Phối hợp với trạm y tế xã, phụ nữ, thanh niên xã, thôn xóm cùng tuyên
truyền tới nhân dân tầm quan trọng và ý nghĩa của vệ sinh môi trường, tác hại
của các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc sâu tới sức khoẻ con người, tới môi
trường sống. Và giải pháplàm giảm thiểu ô nhiễm môi trường: hạn chế tối đa
việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu. Nên thay thế bằng các
loại phân hữu cơ thân thiện với môi trường sống.
Tuyên truyền rộng rãi với các cấp các ngành mọi tầng lớp nhân dân về
chủ trương vệ sinh môi trường. Để họ nhận thức được vệ sinh môi trường vừa là
quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mọi người. Xây dựng kế hoạch, chủ động tiến
hành nội dung hoạt động vệ sinh môi trường, biết tận dụng vai trò của hội đồng
giáo dục biến nghị quyết của hội đồng giáo dục thành thực tế trong giáo dục
mầm non. Mặt khác đa dạng hóa, chú trọng đến hiệu quả của việc cộng đồng
cùng chung tay bảo vệ môi trường và cùng chú ý giáo dục trẻ tại trường mầm
non có ý thức bảo vệ môi trường ngay từ khi còn nhỏ.
20
Vận động mọi người cùng hưởng ứng giờ trái đất vào tối thứ 7 tuần cuối
cùng của tháng 3, ngày môi trường thế giới 5/6 hàng năm.
Tuyên truyền để bậc phụ huynh và cộng đồng nhận thức rõ việc giữ vệ
sinh môi trường là vô cùng cấp bách và cần thiết bởi nếu môi trường sạch thì
con người mới phát triển khỏe mạnh, không tạo đều kiện cho dịch bệnh phát
triển giúp gia đình đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh, thông minh, học giỏi.
7. Những thông tin cần được bảo mật
Không có
8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
* Nhân lực:
+ Có được sự đồng thuận, nhất trí, ủng hộ và cố gắng, nỗ lực của tập thể
Vét giếng và đào sâu thêm 1 giếng khơi để đảm bảo cung cấp nước trong
mùa khô.
Xử lý được bãi rác lớn phía sau lớp học và xây hố rác trong nhà trường.
Phun thuốc diệt muỗi và côn trùng, làm giảm tối thiểu nhện, muỗi, ruồi…
bám trên trần, tường, cửa sổ gây ô nhiễm môi trường.
Trang bị đầy đủ trang thiết bị cho các lớp nhằm đáp ứng tốt nhất có thể về
công tác đảm bảo vệ sinh trường, lớp cho các nhóm lớp: Thùng rác có nắp đậy,
chổi lau, chổi quét, nước lau sàn….
Sửa chữa đường ống tránh tình trạng tắc, nghẽn gây mất vệ sinh.
Xây dựng góc tuyên truyền về vệ sinh môi trường với tranh, ảnh và khẩu hiệu
“Hãy chung tay bảo vệ môi trường”, “Cùng nhau bảo vệ môi trường”…
Được xã hỗ trợ, đầu tư 4 thùng rác có nắp đậy và đào 1 giếng ở khu lẻ.
Xây dựng và làm thêm hệ thống vòi rửa tay cho trẻ;
9.1.2. Đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh môi trường đối với con
người và nhiệt tình hưởng ứng. Và có hành động tích cực với môi trường:
hưởng ứng không dùng túi nilong, trang trí, sắp xếp phòng làm việc hài hòa,
ngăn nắp và sạch sẽ….
- Đối với giáo viên đứng lớp
Giáo viên đứng lớp đã nắm vững được các nội dung, phương pháp, kỹ năng
giáo dục trẻ bảo vệ môi trường và bản thân có hành động tích cực hơn đối với môi
trường.
Tích cực sử dụng nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng, đồ chơi, đồ dạy
học cho trẻ cũng như công tác trang trí lớp.
Thường xuyên cho trẻ vệ sinh trước, sau ăn và sau khi đi vệ sinh.
Thực hiện nghiêm túc các tiết dạy, đặc biệt những tiết có lồng luồn giáo
dục trẻ ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường, không cắt xén chương trình.
Lớp thường xuyên vệ sinh sạch sẽ theo ngày, định kỳ: lau chùi giá góc sàn
nhà, đồ chơi, hệ thống cửa, nhà vệ sinh, thùng rác...
Thực hiện tốt công tác giữ gìn vệ sinh môi trường trường, lớp. Tích cực
động bảo vệ môi trường, một cách hào hứng, tự nguyện.Trẻ yêu thích hứng thú
mong muốn được làm những công việc phù hợp liên quan đến bảo vệ môi trường
trong vµ ngoài lớp học sạch sẽ, tho¸ng m¸t.Trẻ có ý thức vệ sinh môi trường
chung: không vứt rác bừa bãi, không khạc nhổ, không bẻ cây, hái hoa, biết chăm sóc
cây, thường xuyên nhặt rác vệ sinh sân trường, đi vệ sinh đúng nơi quy định, biết tiết
kiệm điện, nước…Trẻ đã tự ý thức về hành vi của mình: Tự rửa tay trước khi ăn
cơm, lau miệng khi ăn xong…đã biết nhắc nhở bạn không vứt rác bừa bãi…
Trẻ có thái độ gần gũi với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, yêu
quý chăm sóc bảo vệ cỏ cây hoa lá trong gia đình, nhà trường và ở khắp mọi nơi,
yêu quý chăm sóc bảo vệ vật nuôi gần gũi, quý trọng bảo vệ đồ dùng đồ chơi,
biết lau chùi đồ dùng đồ chơi bị bụi bẩn, thích tham gia vào việc trồng cây cùng
các cô giáo trong trường.
Đã phát huy tính tích cực của trẻ khi trẻ được trải nghiệm với môi trường
tự nhiên cũng như môi trường xã hội.
Trẻ đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia như: nhắc bố mẹ không đi xe
máy, xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế liệu,
đóng góp tranh ảnh để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí góc tuyên truyền. Trẻ tự
phát triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng lưu loát đủ câu trong khi giao tiếp, khi đàm
thoại. Tự có hành vi thái độ mong muốn được bảo vệ môi trường một cách rõ rệt
thông qua 2 biểu khảo sát cuối năm
23
BIỂU MẪU 1
T
T
Kh
ối
K
19
39
%
13
4
34
%
15
3
35
%
27
55
%
16
5
42
%
19
2
43
%
Biết cất dọn đồ
chơi đúng quy định
Biết giữ gìn VSMT
0
0
%
21
43
%
14
6
37
%
16
7
38
%
25
51
%
16
8
43
%
19
3
44
%
T
B
18
37
%
14
8
38
%
16
6
38
%
26
53
%
17
0
43
%
19
6
44
%
PB được HĐ đúng
sai với môi trường
Không la hét to
0
%
17
35
%
13
9
35
%
15
6
35
%
28
57
%
16
9
43
%
19
7
45
%
T
B
19
39
%
14
7
37
%
16
6
38
%
22
45
%
16
0
41
%
18
2
41
%
T
B
Y
8
TS
T
1
NT
49
2
%
M
G
39
3
%
TỔNG
44
2
%
Biết chăm sóc, bảo
vệcây cối, con vật
T
Nhắc nhở người lớn
tiết kiệm điện
T
T
K
Y
B
18
37
%
12
5
32
%
14
3
32
%
18
37
%
11
0
28
%
12
8
11
0
28
%
12
8
29
%
25
51
%
13
5
34
%
16
0
36
%
6
12
%
13
3
34
%
13
9
41
%
16
9
38
%
0
0
%
0
0
%
0
0
%
25
51
%
13
5
34
%
16
0
36
%
6
33
%
6
12
%
13
9
35
%
14
5
33
%
0
0
%
0
0
%
0
0
%
25
51
%
12
4
trẻ đã tăng rất cao so với đầu năm cụ thể:
Biểu 1 so với đầu năm:
BIỂU 1 SO VỚI ĐẦU NĂM
% Trẻ biết giữ gìn VSCN
Khối
T
Tăng
K
Giảm
Tăng
% Trẻ biết giữ gìn VSMT
TB
Giảm
Tăn
g
Y
Giảm
Tăn
g
T
43%
20%
35%
29%
39%
24%
MG
17%
19%
10%
26%
17%
18%
4%
31%
Giảm
Tăn
g
% Trẻ không la hét to
Y
Giảm
Tăn
g
T
Giảm
Tăng
K
Giảm
Tăng
TB
Giảm
Tăn
g
20%
10%
28%
16%
19%
6%
29%
51%
42%
35%
59%
% Trẻ biết phân biệt hành động đúng, sai với môi
trường
43%
52%
37%
58%
18%
31%
22%
MG
12%
18%
3%
27%
TỔNG
47%
36%
34%
49%
24
K
Giả
m
TB
Giả
m
Tăng
Tăn
g
Y
Giả
m
Tăn
g
Giả
m
NT
31%
27%
TỔNG
44%
40%
28%
56%
37%
33%
25%
53%
% Trẻ biết lợi ích của nắng, gió
và không khí
T
Khối
Tăng
K
Giảm
Tăng
Y
Giả
m
Tăn
g
Giả
m
NT
29%
29%
23%
35%
29%
29%
29%
29%
MG
29%
51%
% Trẻ biết nhắc nhở người lớn
tiết kiệm điện
Khối
T
Tăng
K
Giảm
Tăng
TB
Giảm
Tăng
NT
31%
27%
MG
7%
Phụ huynh rất phấn khởi yên tâm khi thấy con em mình có ý thức bảo vệ
môi trường, không những ở trường mà còn cả ở trong gia đình cho nên đã đóng
góp tranh ảnh có nội dung về môi trường, tranh ảnh, hình ảnh các hoạt động của
con người về môi trường rồi đến các học liệu, vật liệu như: hạt rau, củ giống,
rau, củ quả, bóng bay, nến, cát, sỏi... để cho giáo viên và học sinh trải nghiệm
trồng, chăm sóc cây. Bản thân các bậc phụ huynh cũng ý thức cao và trách
nhiệm cao hơn rất nhiều về việc bảo vệ môi trường trong và ngoài trường mầm
non...Cụ thể: ủng hộ cây xanh, tham gia lao động dọn cỏ, dọn vệ sinh trường, vệ
sinh đường làng khu dân cư; không còn tình trạng phụ huynh đi xe vào sân
trường; không còn tình trạng phụ huynh vứt rác bừa bãi; không còn tình trạng
phụ huynh cho trẻ đị vệ sinh linh tinh ở khuân viên, sân trường...
Quan tâm hơn đến việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống và cách giáo dục
trẻ ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống.
Tích cực phối kết hợp với giáo viên, nhà trường trong việc giáo dục trẻ
chung tay bảo vệ môi trường.
Đó chính là kết quả đã đạt được sau gần 1 năm thực hiện chuyên đề, nhận thấy
đây là hướng đi đúng đắn, và bản thân sẽ tiếp tục áp dụng đề tài vào năm học tới.
25