TỔNG QUAN VỀ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 63

TỔNG QUAN VỀ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA
1.1.DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1.Khái niệm
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt
vốn, lao động hay doanh thu. Có thể chia chúng thành ba loại căn cứ vào quy mô
đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo Ngân
hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới
10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người và
doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, có những tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Riêng tại Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số
vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới
300 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (không có tiêu chí xác định cụ thể
đâu là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa). Các doanh nghiệp nhỏ và
vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (chiếm
tới 95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng
kể. Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò to lớn trong việc ổn định nền kinh tế.
Tại phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ
cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho
phép nền kinh tế có được sự ổn định. Làm cho nền kinh tế năng động hơn vì doanh
nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt
động hơn. Bên cạnh đó góp phần tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ
quan trọng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một
vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Ngoài ra còn là trụ cột quan trọng của kinh tế địa phương. Nếu như doanh
nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh
nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan
trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Mỗi một quan điểm sẽ nhìn nhận các Doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới những
giác độ khác nhau nhưng tóm lại: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất,

tạo còn ít. Khó khăn với các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa là không thu hút được
nhiều cán bộ kỹ thuật giỏi và những công nhân có tay nghề cao. Từ đó dẫn tới năng
suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn kém, ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả
vốn vay và bảo tồn vốn thấp, cho nên khả năng tiếp cận với vốn ngân hàng của
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế.
1.1.3.Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi
nước, kể cả với các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn
cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa
nhằm huy động tối đa nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa thu hút một lượng lao động đáng kể, tạo công ăn
việc làm và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho người lao động. Mỗi năm nước ta
có thêm khoảng 1,4 triệu người trong độ tuổi lao động. Vì vậy, lao động và việc
làm đang là vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách. Hệ thống doanh nghiệp Nhà Nước
hiện đang trong quá trình cải cách, không tạo thêm được nhiều việc làm mới, khu
vực hành chính Nhà Nước đang giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều. Do
đó, khu vực kinh tế tư nhân mà đại bộ phận là các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa là nơi
thu hút, tạo việc làm mới cho xã hội.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng hầu hết các nhu cầu tiêu dùng xã hội. Do
hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa bao trùm hầu hết
các lĩnh vực kinh tế nên có khả năng đáp ứng được mọi nhu cầu của xã hội điều mà
các doanh nghiệp lớn không làm được.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa tạo nên hệ thống phân phối sản phẩm hiệu quả.
Đặc điểm của Doanh Nghiệp nhỏ và vừa đem lại cho họ lợi thế trong dịch vụ bán
lẻ.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa góp phần to lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH-HĐH đất nước, thúc đẩy sự phát triển của các ngành thương mại,
làm tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, thu hẹp dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp
trong nên kinh tế quốc dân.

Cao Thấp Thấp nhất
Rủi ro Thấp Cao Cao nhất
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa khá quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan tới tính an toàn và sinh lời của món vay cũng như khả năng hoàn trả
của khách hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status