CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ - Pdf 63

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ
I. HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ.
1.1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ (KSNB):
Kiểm tra,kiểm soát luôn là một chức năng quan trọng của quản lý và được
thực hiện bởi một công cụ chính yếu là hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Việc
xác lập và duy trì một hệ thống kế toán thích hợp, kết hợp với quy chế kiểm soát
nội bộ khác để mở rộng kinh doanh và mở rộng loại hình kinh doanh thuộc trách
nhiệm quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Các nhà quản lý cần cung cấp
cho các cổ đông( hoặc Chính phủ) một sự bảo đảm thích hợp về công việc kinh
doanh được kiểm soát chính đáng. Đồng thời, bộ phận quản lý còn có trách nhiệm
cung cấp cho các cổ đông, Chính phủ và những người đầu tư tiềm tàng(ngân hàng,
chủ đầu tư, người liên doanh…) những thông tin tài chính trên cơ sở hợp thời. Một
hệ thống bao gồm rất nhiều chế độ và thể thức đặc thù được thiết kế để cung cấp
cho các nhà quản lý sự bảo đảm hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan trọng đối
với doanh nghiệp. Những chế độ và thể thức này được gọi là các quá trình kiểm
soát, và kết hợp lại hình thành nên cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Như vậy hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các thủ tục
kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt động của
đơn vị đảm bảo các mục tiêu sau:
- Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán.
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.
- Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các chính
sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị.
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
Cụ thể là :
* Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán.
Tài sản của đơn vị hiểu theo nghĩa rộng bao gồm:
- Các tài sản ghi trên bảng cân đối kế toán( tài sản cố định, hàng tồn kho, tiền
mặt, tiền gửi, các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn, các khoản công nợ phải thu..).
- Các tài sản phi vật chất không có hình thái cụ thể nhưng có vai trò quan

công ty phải tuân thủ các chính sách, quyết định nội bộ, cụ thể là:
- Phát hiện kịp thời những rắc rối trong kinh doanh để hoạch định và thực hiện
các biện pháp đối phó.
- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và các gian lận trong kinh doanh.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ của
hoạt động kinh doanh.
- Lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định
có liên quan.
* Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
Các quá trình kiểm soát trong mọi tổ chức nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không
cần thiết các nỗ lực và sự lãng phí trong mọi lĩnh vực kinh doanh, nhằm ngăn cản
việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn tiềm năng. Định kỳ, nhà quản lý đánh giá kết
quả hoạt động để nâng cao hiệu năng quản lý, đảm bảo cơ cấu bộ máy đơn vị có đủ
năng lực điều khiển, chỉ huy đơn vị.
* Các mục tiêu chi tiết và nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Đối với bất kỳ loại hình nghiệp vụ kinh tế nào trong một doanh nghiệp đều
có thể xảy ra một vài loại sai sót của quá trình ghi sổ. Có bảy mục tiêu mà một cấu
trúc kiểm soát nội bộ phải thoả mãn để ngăn ngừa các sai sót như vậy.
Cụ thể là:
STT CÁC MỤC TIÊU CHI TIẾT CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1 Các nghiệp vụ kinh tế phải có căn cứ hợp lý( tính có căn cứ hợp lý).
2 Các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn( mục tiêu về sự phê chuẩn).
3 Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi sổ một cách đầy đủ( mục tiêu về tính đầy đủ).
4 Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn( mục tiêu về sự đánh giá).
5 Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn( mục tiêu về sự phân loại).
6 Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng hạn( mục tiêu về tính đúng kỳ).
7 Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi đúng đắn vào sổ phụ và được tổng hợp chính
xác( mục tiêu về tính chính xác cơ học).
Bảy mục tiêu trên được áp dụng cụ thể cho từng nghiệp vụ trọng yếu trong
cuộc kiểm toán.

hiệu quả, kể cả khi ba thành phần khác của hệ thống KSNB có chất lượng tốt. Hiệu
quả của hệ thống KSNB luôn phụ thuộc vào quan điểm của người quản lý cao cấp.
Nếu người quản lý cao nhất coi trọng công việc kiểm toán thì các nhân viên trong
đơn vị sẽ tuân thủ nghiêm túc và thận trọng quy chế quản lý của đơn vị đã được
xây dựng và ngược lại. Do vậy kết quả đánh gía về MTKS nói chung và quan điểm
của người lãnh đạo nói riêng có ảnh hưởng lớn đến đánh gía toàn bộ hệ thống
KSNB. KTV phải nhận biết được từng nội dung, yếu tố của MTKS được thiết lập
và thực hiện theo các phương pháp sau:
Cập nhật và đánh giá đúng mức tài liệu ( báo cáo khảo sát, báo cáo kiểm
toán ) và kinh nghiệm của các KTV đã thực hiện kiểm toán trước đó. Bởi vì hệ
thống và công việc kiểm soát thường không thay đổi liên tục, thông tin này có thể
được cập nhật và được áp dụng phù hợp cho công việc kiểm toán những năm tiếp
theo.
Tiến hành trao đổi, phỏng vấn người quản lý cấp cao và các nhân viên quản
lý của đơn vị được kiểm toán về các nội dung của KSNB. Nội dung trao đổi cần
được chuẩn bị chu đáo, có thể dưới dạng các nội dung hoặc bằng câu hỏi trả lời
“có”, “không”, “hoặc không sử dụng”. Cần đặc biệt chú ý đến các nội dung:
- Đối với thái độ của người quản lý: Thể hiện bởi quá trình đào tạo và việc
nắm bắt các nội dung kiểm soát. nếu những người quản lý cao cấp được đào tạo
chính quy, đúng chuyên ngành, kết quả phỏng vấn cho thấy họ hiều biết công việc
kiểm soát cùng với hệ thống chính sách thủ tục kiểm soát được ban hành đầy đủ,
đó là biểu hiện của người quản lý có năng lực, quan tâm và coi trọng công tác kiểm
soát thì hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả.
- Tính trung thực và giá trị đạo đức: Thông qua việc đối chiếu kết quả trao
đổi với người quản lý cấp cao và kết quả trao đổi với các nhân viên kết hợp những
xem xét, quan sát khác để đánh giá tính trung thực và đạo đức của người lãnh đạo
đơn vi. Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi ứng xử, tính trung thực
của nhân viên trong công việc và độ tin cậy của các thông tin thu thập được cũng
như độ tin cậy của hệ thống KSNB và báo cáo tài chính.
- Chính sách về nhân sự: Một chính sách đối đãi, thăng chức và đào tạo tốt

(5)
quá trình lập các báo cáo của kế toán.
Thông thường việc nghiên cứu này được thực hiện bằng cách theo dõi một số
nghiệp vụ kinh tế chủ yếu xuyên suốt hoạt động của đơn vị. Bằng chứng thu thập
được từ việc tìm hiểu nghiên cứu tài liệu sẽ có độ tin cậy cao.
Hoạt động kiểm soát: Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để
đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ được thiết lập và thực hiện nhằm đạt đựơc
các kế hoạch, mục tiêu đã đề ra. Có ba loại hoạt động kiểm soát cơ bản sau:
(1)
Sự
cách ly thích hợp về trách nhiệm,
(2)
sự phân chia quyền lực đúng dắn trong quản lý
và hoạt động,
(3)
bảo quản tài sản tài liệu, sổ sách và giữ bí mật các thông tin.
Sự cách ly thích hợp về trách nhiệm (trước đây ta thường gọi là bất năng
kiêm nhiệm) là việc phân chia nhiệm vụ đảm bảo tách rời việc thực hiện những
công việc mà nếu cùng một người làm dễ xảy ra những sai sót và gian lận vì mưu
lợi cá nhân.
+ Cách ly việc bảo quản tài sản với kế toán, như thủ quỹ phải tách rời kế
toán thanh toán.
+ Cách ly quyền phê chuẩn các nghiệp vụ với việc bảo quản tài sản có liên
quan. Ví dụ kế toán trưởng phải tách rời việc giữ kho hàng hoá.
+ Cách ly trách nhiệm điều hành với trách nhiệm ghi sổ như: quá trình ghi sổ
tại các phân xưởng thường giao cho một bộ phận riêng biệt thuộc quyền kế toán
trưởng.
- Sự phân chia quyền lực đúng đắn trong quản lý và hoạt động: Hoạt động
kiểm soát chỉ có nề nếp khi quyền phê chuẩn các nghiệp cụ kinh tế phải được quy
định rõ ràng. Ví dụ: việc bán hàng phải có bảng giá cố định được niêm yết, quy

(3)
hậu quả có thể đem lại do thiếu hoạt động kiểm soát quan trọng, mức độ quan
trọng của yếu kém;
(4)
xem xét liệu có các biện pháp bổ sung để bù lại sự yếu kém.
Khi nhận ra được yếu kém của kiểm soát có thể đánh giá rủi ro kiểm tra ở các mức
độ thấp, trung bình, hoặc cao cho từng nội dung kiểm toán. Từ đó có thể xác định
trọng yếu kiểm toán, là nơi rủi ro kiểm soát được đánh gía là cao và các sai sót,
gian lận có nhiều khả năng xảy ra.
Việc nghiên cứu hệ thống KSNB thực hiện tuỳ thuộc vào quy mô của đơn vị
được kiểm toán. Đối với những đơn vị nhỏ, việc thiêt lập một hệ thống KSNB đầy
đủ là tốn kém và không hiệu quả. Do vậy KTV chỉ nên nhận biết một số nội dung
của hệ thống KSNB đủ để xác định báo cáo tài chính có thể kiểm toán được hay
không. Việc thực hiện kiểm toán trên phải dựa cơ sở đánh giá đầy đủ mức độ rủi ro
kiểm soát. Mặt khác, tuỳ vào nội dung và loại hình kiểm toán mà nghiên cứu hệ
thống KSNB ở một mức độ và phương pháp phù hợp. Không nhất thiết phải dùng
cả bốn phương pháp cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, đánh giá hệ thống KSNB phải
được thực hiện cả trong giai đoạn khảo sát và tiến hành kiểm toán.
Nghiên cứu đầy đủ hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán để phục vụ
cho việc xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp là vấn đề rất khó; song để có một
báo cáo khảo sát và kết quả kiểm toán đảm bảo chất lượng nhất thiết phải thực hiện
tốt công việc này, qua đó mới có thể giúp đơn vị được kiểm toán hoàn thiện công
tác quản lý và nâng cao hiệu quả trong các hoạt động kinh tế.
1.3. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM ở Việt Nam.
1.3.1.Khái quát về NHTM.
Ngân hàng là một trong những ngân hàng tổ chức tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu
dùng ( cá nhân, hộ gia đình) và vói hầu hết các cơ quan chính quyền điạ phương
( thành phố, tỉnh...).Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người
bán rau quả cho tới người kinh doanh ô tô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng

Chức năng tiết kiệm

*) Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế.
Trong khi nhiều người tin rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ
trong nền kinh tế – nhận tiền gửi và cho vay- thì trên thực tế hiện đã phải thực
hiện nhiều vai trò mới để có thực hiện để duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng
nhu cầu của xã hội. các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, các
thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
hàng hoá, dịch vụ ( như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới
thanh toán điện tử , kết nối các quĩ và phân phối tiền giấy).
Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán ( chẳng hạn như phát hành thư tín dụng).
Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hành hoặc chuộc lại chứng khoán( thường được thực hiện tại phòng uỷ thác).
Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện chính sách kinh tế của chính phủ, góp
phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.3.3. Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Ngân hàng thương mại và những trung gian tài chính, nói chung cũng giống
như những doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường: chúng đều được tổ
chức ra để kinh doanh kiếm lợi cho mình và cho chủ nợ. Để hoạt động kinh doanh
các ngân hàng thương mại phải có vốn và phải bảo toàn, phát triển vốn của mình.
Trong tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thương mại , nguồn vốn huy động
chiếm một tỷ trọng lớn, xu hướng hoạt động luôn được mở rộng theo nhiều
hướng : huy động vốn tăng để mở rộng cho vay và đầu tư.
Khác với các doanh nghiệp bình thường, ngân hàng thương mại là một loại
hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng
thanh toán, liên quan đến toàn bộ nền kinh tế. Tuy hoạt động ngân hàng hiện nay,
bao gồm nhiều loại nguồn vốn nhưng tựu trung lại đây là loại hình kinh doanh tiền

tiền tệ rất lớn nên cần sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu trên mạng máy vi tính.
Sự phát triển của hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, trên thực tế đã nâng cao rất nhiều
năng lực kiểm soát của ngân hàng nhưng điều này đang làm nảy sinh nhiều loại rủi

Trích đoạn Thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát trong chương trình kiểm toán.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status