TÁC ĐỘNG CỦA CÁC RÀO CẢN HOA KỲ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
2.1.1 Thị trường Hoa Kỳ
a) Đặc điểm thị hiếu tiêu dùng hàng dệt may tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là thị trường lớn với rất nhiều loại hàng hoá và dịch vụ. Người
tiêu dùng được chia thành các tầng lớp khác nhau có các đặc điểm khác nhau,
tạo nên một thị trường khổng lồ và đa dạng nhất thế giới. Đối với những đồ
dùng cá nhân như quần áo, nói chung người tiêu dùng thích sự đơn giản nhưng
hiện đại, hợp mốt. Hơn nữa, nếu là đồ hàng hiệu thì càng được ưa thích và mua
nhiều, thương hiệu cũng mang ý nghĩa quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của sản
phẩm. Tuy nhiên, chỉ có 32% khách hàng luôn chú ý vào nhãn mác sản phẩm
trước khi mua hàng. Người tiêu dùng Hoa Kỳ quan tâm tới chất lượng nhiều
hơn, có tới 65% khách hàng tìm hiểu kỹ chất lượng trước khi mua hàng.
ở Hoa Kỳ, không có các ước lệ và tiêu chuẩn thẩm mỹ mạnh và bắt buộc
như ở các nước khác. Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá, tôn
giáo của mình và dần dần theo thời gian hoà trộn, ảnh hưởng lẫn nhau. Chính
điều này đã tạo nên sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng của người dân ở Hoa
Kỳ. Họ mua hàng phần nhiều do cảm hứng, vì vậy nếu không tìm thấy loại sản
phẩm mà mình ưa chuộng , họ có thể mua một hàng hoá khác thay thế và giới
trẻ là bộ phận có khả năng thích ứng với điều này. Mặt khác khi mua quần áo,
nhiều người thường coi trọng yếu tố khác biệt và độc đáo và đặc biệt phải hợp
mốt. Mọi người thường mặc những gì mà họ thích. ở những thành phố lớn, nam
giới thường mặc complê, nữ giới thường mặc váy khi đi làm hoặc khi giao dịch
với khách hàng. Trong khi đó ở nông thôn thì thường ăn mặc khá xuyềnh xoàng,
quần Jean và quần vải thô là phổ biến (chỉ tính riêng năm 2005 Việt Nam đã
xuất sang Hoa Kỳ 1.140.268 chiếc quần Jean, tương đương 6.564.358 USD
chiếm 49% lượng quần Jean xuất khẩu của Việt Nam, tăng 41,38% so với năm
2004).
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế , người dân có thu nhập cao , vì vậy
dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ sẽ còn tăng hơn rất nhiều.
Biểu đồ 2.1: Thị phần hàng dệt may các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ
năm 2005 tính theo khối lượng
Nguồn: Bộ Thương mại Việt Nam
2.1.2 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Hoa Kỳ
a) Giai đoạn sau khi bình thường hoá quan hệ đến trước khi ký Hiệp
định Thương mại Việt – Mỹ
Từ năm 1994 sau khi Hoa Kỳ xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam bắt đầu tìm hiểu thị trường và xuất khẩu hàng
hoá sang Hoa Kỳ. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này mặc dù liên tục
tăng nhưng vẫn dừng lại ở con số rất khiêm tốn. Bởi vì các công ty tại Hoa Kỳ
còn rất dè dặt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với Việt Nam. Một mặt vì chưa
thực sự biết nhiều về Việt Nam, mặt khác do Việt Nam chưa được hưởng Quy
chế Tối huệ quốc nên hoạt động đầu tư kinh doanh gặp không ít khó khăn.
Bảng 2.1: Xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ từ 1997 - 2001
Năm
Kim ngạch xuất khẩu
toàn ngành
(triệu USD)
Kim ngạch xuất khẩu
của Vinatex
(triệu USD)
Tỷ trọng
Vinatex/toàn
ngành (%)
1997 23 8,5 36,96
1998 26,3 13,6 51,71
1999 34,7 19,6 56,48
2000 49,5 38,8 78,38
Vinatex/toàn
ngành (%)
2002 899 210 23,36
2003 1973 392 19,87
2004 2474 597 24,13
2005 2735 604 22,08
2006* 3200 750 23,43
Nguồn: Ban kế hoạch - đầu tư Vinatex * : dự đoán
Qua phân tích ở trên ta thấy Hiệp định Thương mại song phương giữa hai
nước có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang Hoa Kỳ. Kể từ khi hiệp định có hiệu lực hoạt động xuất khẩu mang một
không khí mới. Điều đó được thể hiện rất rõ qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam của toàn
ngành và của Vinatex sang thị trường Hoa Kỳ
Nguồn: Bộ Thương mại Việt Nam và Ban kế hoạch - đầu tư Vinatex
Mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ được chia làm 2 loại
có hạn ngạch và không có hạn ngạnh, trong các loại mặt hàng có hạn ngạch lại
được chia ra thành hàng cấp visa theo thông báo giao hạn ngạch và hàng cấp
visa tự động (loại này có chủng loại mặt hàng đa dạng nhất và cũng nhiều nhất).
Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng phi hạn ngạch là 1013,19 triệu
USD chiếm 37% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa
Kỳ, tăng 4,4% so với năm 2004 (971,12 triệu USD). Mặt hàng có hạn ngạch
năm 2005 xuất sang Hoa Kỳ tổng cộng là 1721,81 triệu USD tăng 14,6% so với
năm 2004. Trong đó loại hàng cấp visa tự động đạt 1700,33 triệu USD, chiếm
98,8% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may có hạn ngạch.
Nếu phân sản phẩm theo chất liệu thì gồm có các sản phẩm làm từ sợi
cotton (Cat 3xx), sợi len (Cat 4xx), sợi nhân tạo (Cat 6xx), sợi tơ tằm (Cat 8xx),
ngoài xuất khẩu các sản phẩm dệt may ra Việt Nam còn xuất sang Hoa Kỳ các
loại vải và sợi các loại, chủ yếu là chất liệu cotton và sợi nhân tạo.
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu các sản phẩm dệt may xuất khẩu sang thị trường
Kỳ phải chịu sự điều tiết bởi hệ thống luật chặt chẽ, chi tiết, hết sức phức tạp và
nhiều khi bị chèn ép quá mức. Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng dệt
may sang thị trường này thường gặp phải hệ thống rào cản mà Hoa Kỳ áp dụng
như sau:
2.2.1 Rào cản thứ nhất: Hàng rào thuế quan
Hàng dệt may Việt Nam nhập vào Hoa Kỳ đều được đánh thuế hoặc được
miễn thuế tuỳ theo chủng loại hàng mà chúng được áp dụng vào hạng mục nào
trong biểu thuế. Các mức thuế áp dụng cho hàng dệt may được quy định từ
chương 50 đến chương 63 trong danh mục điều hòa thuế quan Hoa Kỳ (HTS).
a) Danh mục điều hoà thuế quan Hoa Kỳ (HTS)
Thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ có các cách tính cơ bản sau:
Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ được tính theo
tỷ lệ trên giá trị, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị giá giao dịch của hàng hoá
nhập khẩu.
Thuế tuyệt đối: Là thuế suất thể hiện bằng một khoản phí cụ thể đánh vào
một loại hàng hoá nhập khẩu cụ thể.
Thuế gộp: Là mức thuế suất áp dụng cả hai phương pháp tính thuế theo
trị giá và thuế tuyệt đối
Ngoài ra Hoa Kỳ áp dụng thuế hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu một số
mặt hàng trong đó có hàng dệt may. Hàng hoá nhập khẩu trong phạm vi hạn
ngạch cho phép được hưởng mức thuế suất thấp hơn, hàng vượt hạn ngạch phải
chịu mức thuế cao hơn nhiều. Đối với hàng dệt may xuất vào Hoa Kỳ thường
chịu hạn ngạch tuyệt đối vì vậy nếu đã hết hạn ngạch thì không được nhập nữa.
Các cột thuế: Biểu thuế của Hoa Kỳ được chia thành thuế tối huệ quốc,
thuế phi tối huệ quốc và thuế ưu đãi.
Cột 1: Hàng hoá xuất xứ từ các nước được hưởng quan hệ thương mại
bình thường (NTR) nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu mức thuế suất tại cột 1. Trong
cột 1 mức thuế suất được chia thành 2 cột phụ:
Cột phụ thứ nhất: Cột thuế tối huệ quốc (MFN), hay còn gọi là mức thuế
dành cho các nước có quan hệ thương mại bình thường, được áp dụng với
của nhà nhập khẩu cung cấp cho nhà sản xuất để giúp nhà sản xuất làm ra các
món hàng cần đặt, tiền lệ phí bản quyền, tiền thưởng thêm cho người bán nếu
có... Ngoài ra, giá giao dịch để đánh thuế không tính phí bảo hiểm và phí vận
chuyển lô hàng.
Tuy nhiên, có nhiều trường hợp không xác định được giá giao dịch hoặc
Hải quan Hoa Kỳ không chấp nhận giá giao dịch để đánh thuế. Khi đó sẽ dùng
các nguyên tắc định giá khác. Có 4 nguyên tắc định giá được Hải quan Hoa Kỳ
áp dụng theo thứ tự ưu tiên sau:
Định giá theo món hàng giống món hàng giống hệt và tương tự.
Tính giá suy ngược, nghĩa là lấy giá bán lẻ trên thị trường trừ đi các chi
phí để tính ra giá nhập khẩu.
Xác định giá thành, nghĩa là tính toán các chi phí sản xuất ra món hàng để
suy ra giá gần với giá nhập khẩu.
Biện pháp tổng hợp nhiều yếu tố để suy ra giá nhập. Tuy nhiên biện pháp
này rất hiếm khi sử dụng.
d) Mức thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ đối với một số mặt hàng dệt may
năm 2005
Bảng 2.3:Biểu thuế quan điều hoà của Hoa Kỳ với một số mặt hàng dệt
may xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2005
TT Mô tả mặt hàng
Mức thuế
Phổ thông đặc biệt
1 áo khoác nam nữ chất liệu len
60.1
cent/kg+15.6%
Miễn*, 15.5%(AU)
2
áo khoác nam nữ chất liệu
bông
15,9% Miễn*, 15,5%(AU)
13
quần áo ngủ chất liệu bông và
sợi nhân tạo
8,5% Miễn*, 7,6%(AU)
14
đồ lót chất liệu bông và sợi
nhân tạo
32%
Miễn**, 15,5%(AU),
16,4%(JO)
15 quần yếm 13,6% Miễn*, 12,2%(AU)
16 quần áo bơi 13.6%
Miễn**, 15,5%(AU),
12,2%(JO)
17 tất các loại 13,5% Miễn*, 15,5%(AU)
18
áo sweater chất liệu sợi nhân
tạo
16% Miễn*, 15,5%(AU)
19 áo sweater chất liệu bông 5% Miễn*, 4,5%(AU)
20
váy chất liệu bông và sợi nhân
tạo
11,5% Miễn*, 10,3%(AU)
Nguồn: Danh mục điều hoà thuế quan Hoa Kỳ 2005
Cục Hải quan Hoa Kỳ
* Canada, Mêxicô, Israel, Chilê, Singapore, Jocdany
** Canada, Mêxicô, Israel, Chilê, Singapore
Từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ ký hiệp định thương mại song phương, Hoa
Kỳ đã cho hàng hoá của Việt Nam được hưởng mức thuế ưu đãi tối huệ quốc
các nước đã được bỏ hạn ngạch thì Việt Nam vẫn phải chịu hạn ngạch nhập
khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ.
Trong nhóm này gồm một số biện pháp cơ bản sau:
a) Cấm nhập khẩu
Hoa Kỳ thường dựa vào một số lý do bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ
người lao động, bảo vệ môi trường… để cấm nhập khẩu hàng hoá nói chung và
hàng dệt may nói riêng.
Trong sản xuất, Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng vấn đề an toàn lao động. Điều
đó được thể hiện qua tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 và Chương trình
trách nhiệm sản xuất toàn cầu WRAP. Hoa Kỳ không coi đây là một tiêu chuẩn
bắt buộc nhưng hầu hết các nhà nhập khẩu của Hoa Kỳ chỉ nhập hàng dệt may
của những doanh nghiệp thực hiện tiêu chuẩn này. Các doanh nghiệp sản xuất
hàng dệt may nếu không thoả mãn các tiêu chuẩn trên thì sẽ không được xuất
hàng vào Hoa Kỳ. Các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội dựng lên nhằm bảo vệ
quyền lợi cho người lao động. Nội dung chính của SA 8000 gồm nhiều vấn đề
trong đó đặc biệt lưu ý đến việc không sử dụng lao động trẻ em hoặc lao động
vị thành niên; không sử dụng lao động cưỡng bức; phải đảm bảo các điều kiện
về sức khoẻ và an toàn cho người lao động; tuân thủ các quy định về số giờ làm
việc; trả lương cho người lao động không thấp hơn quy định của pháp luật và
quy định của ngành. Còn WRAP được Hiệp hội dệt may và da giầy Hoa Kỳ
(AAFA) thiết kế và thông qua năm 1998 với mục tiêu đảm bảo hàng may mặc
và da giầy sản xuất trong điều kiện hợp pháp, đạo đức và nhân quyền. Khác biệt
lớn nhất và căn bản nhất giữa SA 8000 và WRAP là phạm vi áp dụng: WRAP
chỉ áp dụng cho khu vực có sản phẩm may (giày, may mặc), SA 8000 áp dụng
cho tất cả các ngành công nghiệp có đông lao động.
Các sản phẩm dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ cũng phải tuân theo các
tiêu chuẩn về môi trường và phải đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Ví dụ
như các sản phẩm dệt may sử dụng thuốc nhuộm có chứa azo thì sẽ không được
nhập vào Hoa Kỳ. Vì những thuốc nhuộm có chứa thành phần này sẽ cho độ
bền màu cao nhưng nước thải của quá trình nhuộm có những tác động không tốt
tiếp và ảnh hưởng nặng nề đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang thị trường Hoa Kỳ.
Phần lớn hạn ngạch của Hoa Kỳ do cục Hải quan của nước này quản lý.
Hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ chia ra làm hai loại chính là: hạn ngạch thuế
quan và hạn ngạch tuyệt đối. Hạn ngạch thuế quan quy định số lượng của mặt
hàng đó được nhập vào với mức thuế giảm trong một thời gian nhất định.
Không hạn chế về số lượng nhập vào đối với mặt hàng này nhưng số lượng
nhiều trên mức quota cho thời gian đó sẽ bị đánh thuế nhập khẩu cao hơn thậm
chí cao hơn nhiều lần so với các mức thuế trong hạn ngạch. Hạn ngạch tuyệt đối
là hạn ngạch giới hạn về số lượng. Tức là số lượng vượt quá hạn ngạch cho
phép sẽ không được nhập vào Hoa Kỳ trong thời hạn hạn ngạch. Hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ thường chịu loại hạn ngạch tuyệt đối. Nếu số
lượng xuất một mặt hàng dệt may nào đó sang Hoa Kỳ mà đã dùng hết hạn
ngạch thì có thể vay hạn ngạch của năm sau, nhưng số lượng được vay chỉ được
nằm trong một lượng nhất định và không phải mặt hàng nào cũng được vay hạn
ngạch.
Hàng năm Hoa Kỳ sẽ giao hạn ngạch cho từng nước sau đó tuỳ từng quốc
gia mà có cách phân chia hạn ngạch khác nhau. Đối với Việt Nam việc phân
chia và giao hạn ngạch được thực hiện bởi Bộ Thương mại. Đầu năm Bộ
Thương mại sẽ ban hành các văn bản hướng dẫn về việc thực hiện hạn ngạch
dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Có 2 hình thức cấp hạn ngạch: hình thức cấp visa tự động và hình thức ký
quỹ/ bảo lãnh:
+ Các thương nhân đáp ứng đủ điều kiện theo quy định sẽ được cấp visa
tự động cho tất cả các chủng loại hàng dệt may (Cat).
+Các thương nhân có nhu cầu đảm bảo hạn ngạch để giao hàng theo kế
hoạch và tự nguyện được đăng ký hạn ngạch theo hình thức ký quỹ/ bảo lãnh.
Thương nhân đã được cấp hạn ngạch theo hình thức ký quỹ/ bảo lãnh vẫn được
tham gia cấp Visa tự động.
Các chủng loại mặt hàng xuất sang thị trương Hoa Kỳ được chia ra làm 2