BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ THANH CÚC TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2004
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ THANH CÚC TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
1.1.1
Đàm phán song phương
4
1.1.2
Đàm phán đa phương
16
1.2
Cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO
21
1.2.1
Những cam kết của Trung Quốc liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của
WTO
21
1.2.2
Những cam kết liên quan đến lĩnh vực công nghiệp
22
1.2.3
Những cam kết về ngành nông nghiệp
23
1.2.4
Những cam kết về ngành dịch vụ
24
1.3
Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với ngành dệt
may Trung Quốc
27
1.3.1
Mức độ bảo hộ ngành dệt may của Trung Quốc
29
1.3.2
2.2
Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam
58
2.2.1
Tác động đến thị trường xuất khẩu
58
2.2.2
Tác động đến mặt hàng xuất khẩu
73 2.3
Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đến khả năng cạnh
tranh của hàng dệt may Việt Nam
75
2.3.1
Hàng dệt may Trung Quốc thống trị thế giới
75
2.3.2
Tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam so với
hàng dệt may Trung Quốc
79
2.3.3
Thách thức và cơ hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam
83
CHƯƠNG 3- GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT
NAM SAU KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
87
3.1
3.2.7
Chính sách hỗ trợ mở rộng vùng nguyên liệu
107
3.3
Các giải pháp vi mô
111
3.3.1
Giải pháp về thị trường
111
3.3.2
Đổi mới quản lý và tổ chức sản xuất
114
3.3.3
Sử dụng hợp lý nguồn vốn đầu tư
115
3.3.4
Đầu tư đổi mới công nghệ
117
3.3.5
Đẩy mạnh nghiên cứu cải tiến hình thức của sản phẩm
118
3.3.6
Không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ
119
3.3.7
Tham gia các hiệp hội doanh nghiệp
119
KẾT LUẬN
121
GNP
:
Gross National Products – Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
:
INTERNATIONAL MONETARY FUND – TỔ CHỨC TÀI
CHÍNH TIỀN TỆ
MFA
:
Multi - Fibre Agreement – Hiệp định đa sợi
MFN
:
MOST FAVOR NATION – QUY TẮC TỐI HUỆ QUỐC
NAFTA
:
North American Free Trade Area – Khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NDT
:
ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ
OPT
:
Oversea Processing Trade – Hình thức gia công ở nƣớc ngoài
UNDP
:
CHƢƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN LIÊN HỢP QUỐC
VINATEX
:
Vietnam national Textiles and Garment Corporation – Tổng
công ty dệt may Việt Nam
VITAS
32
Bảng 1.4
:
Giá trị tổng sản lƣợng và tiền lƣơng của Trung Quốc
32
Bảng 1.5
:
Tỷ trọng tổng sản lƣợng của Trung Quốc trong tổng sản lƣợng
thế giới
33
Bảng 1.6
:
Tỷ trọng xuất khẩu của Trung Quốc trong tổng xuất khẩu
thế giới
33
Bảng 1.7
:
Tỷ trọng nhập khẩu của Trung Quốc trong tổng nhập khẩu
thế giới
33
Bảng 2.1
:
Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam
38
Bảng 2.2
:
Tốc độ tăng trƣởng của ngành dệt may Việt Nam
40
Bảng 2.3
:
Tình hình xuất khẩu một số cat nóng sang Mỹ
72
Bảng
2.11
:
Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào EU quý I năm 2005
73
Bảng
2.12
:
Sản lƣợng các mặt hàng dệt may chính của Trung Quốc
75 Bảng
2.13
:
Mức lƣơng và mức giá trị gia tăng trong ngành dệt may
80
Bảng 3.1
:
Mục tiêu chiến lƣợng “tăng tốc” phát triển ngành dệt may
Việt nam đến năm 2010
87
Bảng 3.2
:
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của ngành dệt may
Việt nam sau 3 năm thực hiện quyết định 55/CP
97
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sau hơn 15 năm nỗ lực đàm phán, ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã chính
thức là thành viên của WTO. Là một nước lớn có tiềm năng thị trường khổng lồ
có quy mô kinh tế và tổng kim ngạch thương mại nằm trong số 10 nước đứng
đầu thế giới, các cam kết tăng mức độ mở cửa và tự do hoá thị trường của Trung
Quốc sẽ đem lại nhiều cơ hội về buôn bán và kinh doanh cho nhiều nước và khu
vực.
Tuy nhiên, việc Trung Quốc gia nhập WTO không chỉ đem lại nhiều cơ
hội mà còn làm nảy sinh những thách thức mới, đặc biệt là đối với những nước
láng giềng như Việt Nam – nơi có cơ cấu sản xuất, cơ cấu xuất khẩu tương tự
như của Trung Quốc. Hơn nữa, nhiều loại hàng xuất khẩu của hai nước lại có
chung nhiều điểm đến.
Trong xuất khẩu, Việt Nam và Trung Quốc có chung một số thị trường
lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu, Bắc Mỹ ; về cơ cấu mặt hàng, phần lớn
trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Trung Quốc cũng chính là những
mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc gia nhập WTO
làm tăng sức cạnh tranh sản phẩm dệt may vốn dĩ đã rất mạnh trên thị trường
quốc tế. Việt Nam là một nước đang phát triển, trong giai đoạn hiện nay và trong
thời gian tới, dệt may vẫn là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn. Nếu
như năm 1991 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm 5% kim ngạch xuất
khẩu Việt Nam thì năm 2003 chiếm tới 19%, những thành tựu trong lĩnh vực này
góp phần tăng trưởng kinh tế. Theo quyết định số 161/1998/QĐ-TTg ngày
04/09/1998 của Thủ tướng chính phủ: mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp
dệt may đến năm 2010 là hướng ra xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm
bảo cân đối trả nợ và tái sản xuất mở rộng các cơ sở sản xuất của ngành, thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước về số lượng, chất lượng chủng loại và giá cả; góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thực hiện đường lối công
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Trung Quốc gia nhập WTO, những ưu đãi WTO về hàng dệt may
- Tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Trung Quốc
- Đánh giá thực trạng và xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam
- Ảnh hưởng, tác động của sản phẩm dệt may Trung Quốc đối với sản
phẩm dệt may Việt Nam nhất là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO
- Biện pháp tăng cường thúc đẩy xuất khẩu và tăng sức cạnh tranh của
ngành dệt may Việt Nam đối với hàng Trung Quốc.
5. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: dệt may Trung Quốc, dệt may Việt Nam, ưu đãi
của WTO trong lĩnh vực dệt may.
- Phạm vi nghiên cứu: tại Việt Nam
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê,
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN: gồm 3 chương
Chương 1: Quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc và tác động đến
ngành dệt may Trung Quốc
Chương 2: Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt nam sau khi
Trung Quốc gia nhập WTO
Chƣơng 1
kinh nghiệm của chủ nghĩa tư bản, thổi luồng gió mới cho những cải cách táo
bạo thì hai bên nối lại hội đàm. Trong thời gian 1992-1994, Trung Quốc thực
hiện nhiều cố gắng để gia nhập WTO vào cuối năm 1994 nhưng Mỹ đưa ra yêu
cầu cao nên Trung Quốc không chấp nhận. Trong những năm 1995-1998, Trung
Quốc không tỏ ra hăng hái như trước, thậm chí có lúc lạnh nhạt. Tháng 4-1999,
Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thỏa hiệp và nhượng
bộ với Mỹ nhằm hoàn tất đàm phán và ký hiệp định nhưng phía Mỹ tiếp tục đưa
ra yêu cầu cao hơn. Trong các vòng đàm phán, phía Mỹ thận trọng do lo ngại về
mức thâm hụt mậu dịch lớn, liên tục của Mỹ với Trung Quốc trong suốt những
năm 1990.
Bên cạnh đó, các nhà đàm phán Mỹ tiếp tục quan tâm nhiều đến việc đặt
ra hạn chót cho việc tiếp cận thị trường Trung Quốc, muốn Trung Quốc mở cửa
thị trường viễn thông và dịch vụ trong 3 năm thay vì từ 6 đến 7 năm. Mỹ yêu cầu
Trung Quốc đưa ra những điều khoản chi tiết hơn, dứt khoát hơn về tính minh
bạch, tức những biện pháp trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ và thời gian
biểu cho việc chấm dứt những hành động chống bán phá giá và các hình thức
bảo vệ pháp lý chống lại nhập khẩu ồ ạt.
Ngày 8/5/1999 Mỹ ném bom sứ quán Trung Quốc ở Nam Tư làm quan hệ
hai nước như bị rơi xuống vực. Đàm phán Trung - Mỹ bị ngừng lại. Với cuộc
gặp gỡ Giang Trạch Dân - Clinton ngày 11/9/1999 trong hội nghị APEC tại New
Zealand, hội đàm được nối lại nhưng hai bên vẫn chưa đạt được thoả thuận.
Ngày 10/11/1999, hai bên nối lại đàm phán. Sau 6 ngày đêm (đàm phán
cả ngày và đêm) đàm phán căng thẳng giữa đại diện thương mại Mỹ - bà
Charlene Bashefski và Bộ trưởng Thương mại và hợp tác kinh tế Trung Quốc -
ông Thạch Quảng Sinh, ngày 15/11/1999, hai bên đã đạt được thoả thuận sau khi
có sự khai thông ở phút chót với sự can thiệp của Thủ tướng Trung Quốc Chu
Dung Cơ. Bản hiệp định đề cập chủ yếu đến các vấn đề về hàng công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, bảo hộ bản quyền, chuyển nhượng kỹ thuật, xuất khẩu của
hóa chất, theo đó mức thuế sẽ áp dụng là 0%; 5,5% và 6,5% đối với các sản
phẩm ở mỗi loại.
Về dệt may: tới năm 2005, Mỹ phải xóa bỏ việc cấp quota nhập khẩu đối
với hàng dệt của Trung Quốc.
Xoá bỏ các hạn ngạch và giấy phép: sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc
đồng ý xoá bỏ các hạn ngạch hiện hành đối với các sản phẩm ưu tiên hàng đầu
của Mỹ, các sản phẩm còn lại sẽ loại bỏ hạn ngạch theo giai đoạn nhưng không
muộn hơn năm 2005, mức loại bỏ sẽ tăng 15% mỗi năm.
Về nông nghiệp: Trung Quốc đồng ý giảm mức thuế chung đối với nhập
khẩu nông sản từ mức 45% hiện nay xuống 17% và xuống 14,5 - 15% đối với
những sản phẩm Mỹ ưu tiên (từ 45% xuống 12% đối với thịt bò; 40% xuống
12% đối với cam, quýt; 30% xuống 10% đối với táo; 50% xuống 12% đối với
pho mát; 65% xuống 25% đối với rượu vang). Toàn bộ cắt giảm sẽ diễn ra trong
khuân khổ thời gian tối đa là 4 năm, đồng thời định mức tối đa cho nhập khẩu
lúa mì, bông, ngô và gạo của Mỹ. Trung Quốc sẽ nhập thêm một số hàng nông
sản như thịt, hoa quả…của Mỹ. Trung Quốc sẽ tự do hoá việc mua hàng nông
sản khối lượng lớn như lúa mì, ngô, đậu tương, gạo, bông,… với mức thuế rất
thấp với một khối lượng đã được xác định các hàng hoá trong các loại hàng hoá
trên. Ví dụ, hạn ngạch đối với lúa mì từ 7,3 triệu tấn đến 9,3 triệu tấn vào năm
2004 so với mức nhập khẩu hiện tại dưới 2 triệu tấn. Trong tất cả hạn ngạch thuế
suất này, các doanh nghiệp tư nhân đảm bảo được hưởng một phần và có quyền
sử dụng phần hạn ngạch chưa được sử dụng đến được cấp cho các công ty nhà
nước. Trung Quốc sẽ không tiến hành trợ giá xuất khẩu nông sản nữa.
Về dịch vụ: Trung Quốc chấp nhận những cam kết giảm dần hầu hết các
hạn chế theo từng giai đoạn đối với từng lĩnh vực dịch vụ bao trùm một phạm vi
rộng lớn như phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, các dịch vụ chuyên
môn như kế toán, tư vấn pháp lý, kinh doanh các dịch vụ liên quan đến máy tính, phim ảnh, các dịch vụ thu hình, thu thanh… trong bảo hiểm: xoá bỏ ngay những
Về ngân hàng: trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, các ngân hàng nước
ngoài không được phép kinh doanh NDT với khách hàng Trung Quốc. Hai năm
sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các ngân hàng có vốn nước ngoài ở Trung
Quốc có thể thực hiện các nghiệp vụ tương tự với các cá nhân. Các ngân hàng
nước ngoài có quyền giống như các ngân hàng Trung Quốc trong phạm vi các
khu vực địa lý đã được chỉ định. Các hạn chế về địa lý và khách hàng sẽ được
huỷ bỏ trong vòng 5 năm. Các công ty tài chính phi ngân hàng có thể mời chào,
tài trợ cho ngành ô tô sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Về bù xuất khẩu: Trung Quốc sẽ đồng ý xoá bỏ tất cả các khoản trợ cấp
xuất khẩu.
Về chứng khoán, quản lý tiền tệ: Trung Quốc cho phép các công ty chứng
khoán nước ngoài có thể sở hữu 33% cổ phần, các thương nhân nước ngoài có
thể sở hữu 33% cổ phần trong các công ty tài chính quản lý quỹ tiền tệ, mở rộng
phạm vi, địa bàn hoạt động cho các công ty nước ngoài kinh doanh trong lĩnh
vực bảo hiểm (hiện mới chỉ có ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến ). Đồng
thời sau 2 năm có thể lập các chi nhánh của mình.
1.1.1.2 Đàm phán Trung Quốc – EU và những nội dung chính của Hiệp định
Thương mại Trung Quốc - EU
* Quá trình đàm phán
Trước đây, Trung Quốc và EU đã nhiều lần thương thuyết để ký kết hiệp
định này, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế và hai bên chưa đi đến kết quả cuối
cùng. EU luôn đặt ra những điều kiện mới cho Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc
giảm thuế những loại hàng hoá nhập khẩu có giá trị gia tăng cao như máy móc,
đồ mỹ phẩm, sản phẩm y dược, gốm sứ, đồ mỹ nghệ, dụng cụ gia đình bằng thuỷ
tinh… Nhiều yêu cầu của EU còn khắt khe hơn yêu cầu của Mỹ, như đòi giảm
thuế nhập khẩu xe hơi xuống còn 18% (Mỹ yêu cầu giảm xuống còn 25%). Về thương mại dịch vụ, EU yêu cầu Trung Quốc mở cửa mạnh các lĩnh vực: ngân
hàng, bảo hiểm nhân thọ, bưu điện,… Nguyên nhân chính khiến hai bên chưa đạt
khẩu của nhà nước). Bên cạnh đó, các công ty EU có thể mua lụa tơ tằm trực tiếp
từ các nhà sản xuất Trung Quốc.
Các công ty EU được hưởng nhiều ưu đãi khi đầu tư vào sản xuất ô tô,
các loại xe tải Trung Quốc. Chính quyền cấp tỉnh được phép phê duyệt các dự án
đầu tư vào lĩnh vực này với số vốn tối đa là 150 triệu USD (trước đây là 30 triệu
USD). Tất cả các hạn chế liên quan tới loại xe và mẫu xe sản xuất được dỡ bỏ
trong 2 năm, nhà sản xuất được tự do quyết định dựa vào nhu cầu thị trường.
Với 5 loại sản phẩm quan trọng nhất trong số các vật liệu xây dựng như
đá hoa cương và đá xây dựng, mức thuế quan giảm từ 25% xuống còn 10%. Với
đồ gốm, Trung Quốc đồng ý giảm mức thuế quan đối với 11 sản phẩm chủ yếu
từ mức 24,5% xuống còn 10 - 15%. Các mức thuế quan đối với 6 sản phẩm thuỷ
tinh giảm từ 24,5% xuống còn 5%.
Mức thuế quan đối với 5 loại sản phẩm giầy dép - chiếm tới 70% nhập
khẩu giầy dép của EU giảm từ 25% xuống còn 10%.
Với da và đồ da, Trung Quốc đồng ý cắt giảm mức thuế của 13 loại sản
phẩm - chiếm 60 % tổng xuất khẩu của EU về loại hàng này từ 20 - 25% xuống
còn 10%.
Mức thuế quan đối với các loại rượu nhập từ EU giảm từ mức hiện hành
65% xuống còn 10% đồng thời không có sự phân biệt trong cách cư xử đối với
các loại rượu whisky, cognac,
Mức thuế quan đối với các loại mỹ phẩm giảm từ 30% xuống còn 10%.
Đối với hàng nông nghiệp:
Các mức thuế quan đối với nhiều loại nông sản được giảm mạnh. Chẳng
hạn đối với dầu cây cải giảm từ 85% xuống còn 9%, mì ống giảm từ 25% xuống
còn 15%, bơ giảm từ 30% xuống còn 10%, sữa bột giảm từ 25% xuống còn 10%, quýt giảm từ 42% xuống còn 12%, mạch nha giảm từ 30% xuống còn
18%.
EU và Trung Quốc còn ký một hiệp định riêng về vệ sinh và vệ sinh thực
Về các dịch vụ pháp lý: các công ty luật nước ngoài có thể cung cấp các
dịch vụ liên quan đến luật của Trung Quốc hay có thể cung cấp các thông tin cho
khách hàng về môi trường pháp lý của Trung Quốc. Yêu cầu về kinh nghiệm của
các luật sư được giảm xuống, kinh nghiệm thực hành không cần liên tục và thời
gian yêu cầu đối với các luật sư được giảm từ 3 năm xuống còn 2 năm.
Ngoài ra, Trung Quốc và EU còn đạt được một số thoả thuận về các vấn
đề khác như: sau khi Trung Quốc gia nhập WTO được 3 năm, các công ty nước
ngoài thuộc EU được nắm 49% cổ phần trong các công ty liên doanh viễn thông
và bảo hiểm tại Trung Quốc; các thương gia EU được phép đưa vào 20% lượng
nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc.
Các quan chức của EU cho rằng, việc ký kết hiệp định này sẽ là “chìa
khoá mở đường đưa các doanh nghiệp châu Âu vào làm ăn tại thị trường Trung
Quốc” [21, tr.66]. Ngoài ra, hiệp định này còn giúp hàng hoá của Trung Quốc
trong đó có nhiều mặt hàng quan trọng như nông sản, dệt may, điện tử… có điều
kiện thâm nhập sâu hơn vào thị trường EU. Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
hiện mang lại cho Trung Quốc nguồn thu lớn. Năm 1999 Trung Quốc thu về hơn
41 tỷ USD từ xuất khẩu hàng dệt bằng 21% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước
trong năm 1999. Trung Quốc dự kiến sẽ tăng công suất gia công sợi để phục vụ
ngành dệt từ mức 9 - 10 triệu tấn trong năm 2000 lên khoảng 13 triệu tấn vào
năm 2005, khi đó kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Trung Quốc có thể
đạt 60 - 65 tỷ USD.
1.1.1.3 Đàm phán Trung Quốc –Thái Lan và nội dung những thoả thuận
Thương mại Thái Lan - Trung Quốc năm 2000 đạt mức 5,79 tỷ USD,
trong đó xuất khẩu từ Thái Lan sang Trung Quốc là 2,56 tỷ USD. Cho đến đầu
năm 2002 Thái Lan đã đầu tư vào Trung Quốc khoảng 26 nghìn dự án với tổng
số vốn khoảng 2,8 tỷ USD. Đầu tư của Thái Lan vào Trung Quốc chủ yếu tập trung ở các thành phố Tây Nam và Duyên Hải Trung Quốc. Hầu hết những đầu
tư trong nông nghiệp tập trung vào sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất bia và chế
biệt Trung Quốc đã cho phép tư nhân nhập khẩu gạo và các sản phẩm từ Thái
Lan với khoảng 50% tổng mức hạn ngạch thay cho việc chính phủ vẫn độc
quyền làm việc này trước đó.
Về dịch vụ: Trung Quốc đồng ý mở cửa cho các nhà đầu tư Thái Lan
trong các lĩnh vực trên. Sau khi gia nhập WTO được 4 năm, Trung Quốc sẽ cho
phép các nhà đầu tư Thái Lan nắm 100% cổ phần ở các chi nhánh của các loại
dịch vụ này. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa cho phép đưa nhân viên bình thường
của Thái Lan vào hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng trừ việc thuyên
chuyển tạm thời các cán bộ quản lý, các bếp trưởng và các chuyên gia khác.
Về du lịch: Trung Quốc cho phép người Thái Lan được hoạt động theo
quy định và khi liên doanh với các đối tác Trung Quốc được lập văn phòng
hướng dẫn du lịch ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Quảng Châu,
Thượng Hải… Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO được 3 năm, người Thái Lan
có thể nắm cổ phần lớn trong các công ty du lịch, nhưng Trung Quốc chưa cho
phép các công ty này tổ chức đưa du khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài.
Như vậy, theo đánh giá Thái Lan sẽ có thêm rất nhiều cơ hội để tăng xuất
khẩu đặc biệt là hàng nông sản sang Trung Quốc, đáng chú ý là những mặt hàng
sau đây:
Gạo: là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Thái Lan.
Sau khi Trung Quốc và Thái Lan ký kết hiệp định thương mại song phương, các
nhà xuất khẩu gạo của Thái Lan đã có thêm nhiều cơ hội khi Trung Quốc tăng
hạn ngạch xuất khẩu gạo và số lượng hạn ngạch này tăng thêm hàng năm. Thị
trường Trung Quốc tiêu thụ khoảng 100 triệu tấn gạo mỗi năm. Trung Quốc là
thị trường tiêu thụ gạo lớn thứ 4 của Thái Lan. Theo kế hoạch mới, một nửa hạn
ngạch nhập khẩu gạo của Trung Quốc sẽ cấp cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên
hiện nay chế độ hạn ngạch mới sẽ dựa trên cơ sở “ai đến trước thì phục vụ trước” [21, tr.70]. Gạo của Thái Lan có chất lượng khá tốt, đường vận chuyển từ Thái
Lan sang Trung Quốc lại gần, do vậy sẽ có thêm nhiều cơ hội cho các nhà xuất
thương mại hàng hoá và tự do hoá thương mại) của Trung Quốc, chưa đề cập
toàn diện đến vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp đầu tư và thị trường thương
mại dịch vụ. Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã tiến hành hơn 10 cuộc thương
lượng song phương với các bên tham gia ký kết chủ yếu, về cơ bản đã đạt được
thoả thuận trong những vấn đề chính của việc Trung Quốc gia nhập GATT.
Thông qua 7 lần hội nghị, nhóm công tác Trung Quốc đã cơ bản kết thúc trả lời
chất vấn và đánh giá về thể chế ngoại thương của Trung Quốc. Đến cuối năm
1989, về cơ bản đã kết thúc đàm phán. Nghị định thư về việc Trung Quốc tái gia
nhập GATT đã được khởi thảo trên giấy. Về cơ bản Trung Quốc đã đạt được
những thoả thuận chung cả trong đàm phán đa và song phương. Việc gia nhập
GATT của Trung Quốc lúc đó tưởng như đã kết thúc.
Tuy nhiên do sự kiện Thiên An Môn (4/6/1989), nhiều nước phương Tây
đã thực hiện cấm vận kinh tế Trung Quốc, và coi việc tạm thời không cho Trung
Quốc gia nhập GATT là một nội dung chính trong các chính sách đối với Trung
Quốc. Kết thúc giai đoạn này, cơ hội đối với Trung Quốc tưởng như nằm trong
tay đã bị tuột mất.
Giai đoạn 1989-1992: nhóm công tác mở hội nghị lần thứ 8, thứ 9 và
thứ 10 được xem là giai đoạn 2 của quá trình đàm phán về việc Trung Quốc gia
nhập GATT. Tuy nhiên cả 3 lần hội nghị chỉ mang tính hình thức, không có tiến
triển. Các nước phương Tây vẫn giữ thái độ thù địch với Trung Quốc.
Bên cạnh đó, còn một số nguyên nhân khác dẫn đến đàm phán gia nhập
GATT của Trung Quốc bị trì trệ, đó là:
Do kinh tế phát triển quá nóng, lạm phát cao, Trung Quốc đã thực hiện
chương trình “chỉnh đốn trật tự kinh tế ” (1989-1991), xoá bỏ hoặc tạm dừng áp
dụng một số biện pháp thị trường … do vậy, các nước phương Tây cho rằng đó
là sự giật lùi của cải cách. Vòng đàm phán Urugoay rơi vào bế tắc, cuộc chiến về nông sản hàng hóa
giữa Mỹ và Châu Âu đạt đến cao trào, các bên không còn thời giờ để quan tâm